Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Tâm Tình
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Đời Sống - Xã Hội :Tâm Tình
Message Icon Chủ đề: NHÓM 12 YÊU THƯƠNG Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 162 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 10/Jun/2016 lúc 11:10am

Duyên Không Số


gio%20mua%20xuanNgày đó, tôi vượt biển thành công, vào trại tỵ nạn Thái Lan và quen Thúy. Thúy bằng tuổi, đẹp và hát hay lắm. Tôi lại biết đàn Guitar. Hai chúng tôi cùng làm chung trong Ban thư viện trại, gặp gỡ hằng ngày. Hạp nhau như vậy đó, nhưng thời gian gần gũi còn ít ỏi nên chỉ mới mến nhau như hai người bạn.

Thúy vào trại trước khá lâu, nên quen chỉ được hai ba tháng ngắn ngủi, gia đình nàng có giấy lên đường định cư tại Mỹ. Đêm trước ngày Thúy rời trại lên đường định cư trúng vào dịp trăng tròn Trung Thu nên Ban chấp hành trại có tổ chức một buổi Văn nghệ gọi là vừa mừng Trung Thu, vừa tiễn chân những người may mắn sắp được qua Mỹ xây dựng lại tương lai.

Buổi Văn nghệ, Thúy nhận lời hát giúp vui một bản. Nàng yêu cầu tôi đệm đàn Guitar cho nàng lần cuối để ghi lại một kỷ niệm chung cho hai đứa.

Đêm đó, hai chúng tôi được giới thiệu là “Lê Uyên và Phương của Thái Lan”. Thúy hát thật xuất thần, và tôi tuy lần đầu trình diễn trước đám đông nhưng cũng hoàn thành nhiệm vụ. Nói nào ngay, chỉ có một cái Micro nhỏ xíu cho ca sĩ nên khán giả chỉ nghe và ngắm “Lê Uyên” Thúy nức nở với bản nhạc “Ngăn Cách” chứ đâu ai thèm để ý tới “Phương” ThaiNC khép nép đứng sau lưng ôm đàn mà làm chi ! Nói thiệt, nhiều khi tôi còn không nghe được tiếng đàn của mình nữa là khán giả.

Sau khi bản nhạc chấm dứt trong tiếng vổ tay vang dội với những tiếng “Bis !” “Bis!”. Có tên còn nêu đích danh bản nhạc ruột của Thúy ra yêu cầu “Huyền Thoại Người Con Gái… đi Thúy ơi”. Tiếng hoan hô và yêu cầu rầm rộ làm Thúy cao hứng quay lại nói với tôi “Huyền Thoại Người Con Gái nghe Thái ”

Vậy mà tôi đành lòng nói “Không” với Thúy thật phủ phàng, và không để cho Thúy kịp hỏi tại sao, tôi bước một mạch xuống sân khấu làm Thúy cũng ngỡ ngàng. Thúy có thể hát không cần đàn, nhưng có lẽ cũng mất hứng nên bước xuống theo không hát thêm một bài nào nữa.

Sáng sớm hôm sau tôi muốn gặp Thúy để nói vài lời giải thích, nhưng lúc này mọi người đều bận rộn tiễn đưa nhau. Thúy cũng vậy, nên hai chúng tôi không có một phút nào nói chuyện riêng với nhau được.

Xe đã bắt đầu lăn bánh rời cổng trại mà tôi vẫn chưa nói được lời nào. Thúy ngồi ngay cửa sổ nhìn xuống xe thấy tôi đứng. Nàng vẩy tay chào không nói một lời, mặt buồn rười rượi. Không biết Thúy buồn vì giận tôi, hay buồn vì đang từ giã người bạn một thời khốn khó bên nhau, và tương lai không biết khi nào sẽ gặp lại.


***

Chúng tôi mất liên lạc từ đó mãi đến hôm nay.

Ba mươi bốn năm đăng đẵng.

Thúy đã là… bà Ngoại của đứa cháu xinh xắn. Không hiểu sao chúng tôi vẫn còn nhận ra nhau mới kỳ lạ !

Hàn huyên thăm hỏi một hồi, bắt đầu nhắc đến cái đêm Văn nghệ năm xưa đó. Nỗi niềm tâm sự chất chứa bao nhiêu năm của tôi bây giờ mới được giải bày.

Ngày đó, tôi chưa kịp nói cho Thúy biết rằng, tay đàn Guitar của tôi còn non yếu lắm. Tôi chỉ mới biết đàn sơ sơ vài bản nhạc tủ và một vài điệu Slow hay Boléro ruột là còn vỏ vẻ chút đỉnh, còn ngoài ra là tôi ấm ớ ngay. Đại khái với những thằng không biết đàn thì tôi là thằng chột làm vua mà thôi.

Lúc đó, người biết đàn thực sự và đầy đủ căn bản nhạc lý là anh Dũng. Anh Dũng hơn tụi tôi khoảng 6, 7 tuổi, là Trưởng ban Thư viện kiêm trưởng Ca đoàn nhà thờ của trại, anh là anh cả của cả bọn tôi. Nghe nói anh có hôn thê vượt biên trước và đang chờ anh ở Mỹ.

Anh Dũng thương và coi tụi tôi như em. Những khi ngồi hát hò Văn nghệ bỏ túi với nhau, những bài căn bản dễ dàng, anh Dũng biết tôi có thể đệm được thì anh để cho tôi chơi. Còn những bài nhanh và khó thì anh ấy đỡ hết. Trông bề ngoài thì có vẻ như tôi và anh ấy chia nhau đàn, chứ đâu biết anh ấy là sư phụ, và tôi chỉ đáng làm học trò.

Cả Thúy cũng không nhận ra điều này. Nàng thấy rằng mỗi lần họp mặt ca hát, bản nào nàng ca cũng có người đàn theo, lúc thì tôi, lúc thì anh Dũng, đâu có gì trở ngại.

Cho nên, bản nhạc “Ngăn Cách” chơi theo điệu Boston chậm, và tôi có chuẩn bị trước nên có thể đệm theo dễ dàng, chứ còn bản “Huyền thoại người con gái” này thuộc loại kích động và nhanh, tôi lại chưa chuẩn bị. Bể dĩa là cái chắc !

Nhưng khi đó tôi không đủ can đảm thú nhận mình không biết. Chỉ nói một chữ “không” trơ trụi như vậy bảo sao Thúy không trách và buồn cho được ? Tôi biết, nhưng thà để cho Thúy trách rồi sẽ giải thích sau chứ không dám gồng mình đàn cho nàng ca.

Câu chuyện là vậy đó. Thời gian qua thỉnh thoảng ngồi nhớ lại những lỗi lầm thời trai trẻ, tôi vừa tức cười vừa bứt rứt vì chuyện này.

Nghe tôi nói xong, Thúy cười an ủi.

- Thôi Thái quên chuyện đó đi. Thúy biết lâu rồi. Thông cảm, thông cảm.

Tôi ngạc nhiên

- Sao Thúy biết ?

Nàng hỏi lại :

- Biết ông xã Thúy là ai không ?

- Ai ?

- Anh Dũng chứ ai. Anh ấy nói cho Thúy biết chuyện của Thái từ lâu rồi.

Tôi chưng hửng. Tại sao anh Dũng lại thành chồng của Thúy được nhỉ ? Không phải là ngày đó anh ấy đã có hôn thê chờ ở Mỹ hay sao ?

- Duyên số hết Thái ơi - Thúy kể :

… Không ai ngờ được anh Dũng và Thúy cùng về định cư một Tiểu bang, chung Thành phố, rồi lại vô Đại học chung trường nữa chứ. Thuở đó khi anh Dũng qua tới nơi thì hôn thê cũ của anh không chờ đợi được, đã ôm cầm sang thuyền khác. Tụi này gặp. Anh ấy thương Thúy, Thúy cũng thương ảnh, rồi… cưới nhau. Vậy mà đã 27, 28 năm. Bây giờ tụi này làm ông Ngoại bà Ngoại rồi đó nghen.

Ôi ! Duyên số ! Duyên số !

Họ đúng là Duyên số.

Còn tôi, Hic !

Tôi là Duyên... không số.

ThaiNC

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 08/Jun/2016 lúc 4:00pm

Người bạn thân


nguoi%20ban%20than


Tôi và Huyền quen nhau khi hai đứa bước chân vào Trung Học tức là lớp Đệ Thất hồi thập niên 60, tình bạn đó kéo dài đến ba mươi năm sau cho đến một ngày. Một ngày đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn tôi và tôi mang theo trong cuộc hành trình viễn xứ một nỗi đắng cay mỗi lần nghĩ đến. Có những kỷ niệm con người không biết chôn dấu nơi nào trong vùng ký ức để có thể sống bình yên và nhẹ nhàng hơn là cưu mang những cục bướu xấu xí mà cuộc đời đã cố ý hoặc vô tình trao tặng cho ta.

Huyền là một người bạn gái có đôi mắt thật đẹp, đôi mắt sâu đen thâm thẫm trên gương mặt thon dài với nụ cười hiền dịu đã mang đến cho tôi bao nhiêu tình cảm bạn bè êm đẹp. Tôi, Huyền thân nhau và chia xẻ với nhau nhiều kỷ niệm vui buồn trong những năm đầu Trung Học. Những người xung quanh, bạn bè và gia đình thường gọi chúng tôi là Đôi bạn Chân Tình. Tôi và Huyền cũng lấy làm thích thú khi được gán cho một cái tên dễ thương như vậy để diễn đạt tình bạn bè thân thiết giữa hai đứa chúng tôi.

Tình bạn của chúng tôi đơn sơ, chân thành và vô tư chứ không có gì là cao siêu hay nhuốm sắc thái triết lý như Narcissus and Goldmund một tác phẩm nổi tiếng của Hermann Hesse được chuyển qua Việt Ngữ bằng cái tên Đôi Bạn Chân Tình. Số là thời đó người ta hay dùng những danh từ trong văn chương, nghệ thuật để ví von và đặt tên cho những nhân vật hay sự kiện trong đời thường. Gặp một người đàn ông có đôi mắt đẹp đi kèm với bộ râu duyên dáng thì họ gọi đó là Bác Sĩ Zivago. Nghe một tiếng chuông rung thì đó là Chuông Gọi Hồn ai (For whom the bell tolls của Hermingway) hay Giã từ vũ khí ( Farewell to the arms) để nói đến một anh lính đã giải ngũ vân vân và vân vân

Chúng tôi học trường Việt Anh- Dalat. Ngôi trường nằm trên đường Hải Thượng bên con suối chảy về Cam Ly. Nữ sinh trường Việt Anh mặc đồng phục màu tím hoa cà và nam sinh mặc áo len màu huyết dụ. Những màu sắc dễ gây những tình cảm thơ dại, êm đẹp trong tuổi học trò. Con suối Cam Ly trong những chiều mưa lớn thường mang lụt lội vào tận lớp học, đó là thời gian vô cùng sung sướng cho bọn học trò chúng tôi vì được nô đùa, nghịch nước và ngày mai khỏi phải đến trường. Ai học trường Việt Anh đều biết cây đào tiên nằm bên chiếc cầu ở đường Hải Thượng đằng trước cổng trường. Học sinh trai gái, lớn bé cùng từng có lúc leo lên cây để vặt trái xanh, trái chưa kịp chín. Cây cầu là nơi nam sinh làm điểm hẹn để đánh lộn, để trả ân oán giang hồ và là nơi nữ sinh đứng tựa vào lan can mà mơ mộng vu vơ.

Thầy Hiệu Trưởng luôn luôn cầm chiếc roi mây đi vòng vòng trong sân trường, những tay cao bồi gan góc, tóc tém, giầy mõ vịt cồm cộp đều ngán cây roi cuả thầy. Nữ sinh lớp lớn mang guốc gót sắt Dakao đi qua sân Basketball mới tráng xi măng chưa kịp cứng thì vừa cười, vừa chạy khi thấy thầy xăm xăm đi tới. Nữ sinh đầu đánh rối tổ quạ mà không thuộc bài thì con roi mây sẽ xỉa xói không thương tiếc trên làn tóc kia. Thầy Hiệu Trưởng nghiêm khắc là thế mà chẳng thấy ai ghét thầy cả, tôi chưa bao giờ thấy một sự việc nào đáng tiếc xảy ra trong những năm học trường Việt Anh. Học sinh luôn luôn kính trọng và vâng lời thầy giáo. Có nhiều Giáo Sư nổi tiếng đã đi qua Dalat và ghé trường Việt Anh dạy vài ba năm: thầy Nguyễn Đình Chung Song, thầy Tam Ích, thầy Phạm Công Thiện, nhạc sĩ Hoàng Nguyên, Họa Sĩ Duy Liêm, thầy Bửu Sao, thầy Đào Quang Huy, thầy Lê Phổ, thầy Nguyễn Tường Thiết …

Tôi và Huyền cùng bạn bè đã có những ngày tháng thật vui tươi thơ mộng dưới mái trường Việt Anh, muà hè đối với chúng tôi luôn luôn rất dài vì ai cũng muốn mau gặp lại bạn bè ở lớp học. Những dịp cuối năm khi anh đào bắt đầu trỗ hoa hồng thắm xung quanh Hồ Xuân Hương và những ngọn đồi trong thành phố được thắp vàng rực rỡ bởi loài Dã Quỳ, là chúng tôi nôn nao chạy ra nhà sách Nhật Tân để mua thiệp Giáng Sinh tặng cho nhau. Ông chủ nhà sách Nhật Tân là một người đàn ông vui tánh, dễ chịu nên những giờ ra chơi chúng tôi hay la cà đến làm phiền ông.

Ngoài thời gian ở trường, những chiều thứ bảy tôi lại đến nhà Huyền chơi cho đến tối mịt mới về. Vì tôi và Huyền thân nhau quá nên cuối cùng thì cha mẹ tôi và cha mẹ Huyền cũng quen nhau luôn. Những kỷ niệm giữa chúng tôi không làm sao mà kể cho xiết. Qua thời trung học mỗi người có một cuộc sống khác nhau nhưng cũng không phải vì thế mà chúng tôi xa cách, chúng tôi vẫn gặp nhau hàng tuần và kể cho nhau nghe những diễn tiến tình cảm riêng tư cuả hai đứa. Huyền có người yêu trước nhưng tôi lại lấy chồng trước Huyền. Tôi theo chồng đi xa nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với người bạn gái cũ.

Sau 75, hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam. Chồng tôi đi tù cải tạo, tôi phải lo cho con dại nên cuộc sống rất khổ sở, còn Huyền vẫn độc thân nên đời sống dễ thở hơn tôi nhiều, có rất nhiều lúc tôi thèm được sống như Huyền, nhưng thật ra mỗi người có một cái số nên mình có muốn cũng chẳng được. Cuộc đời tôi cứ đi mãi vào những lối chông gai trong khi cuộc đời Huyền ngày lại thêm sáng lạn. Tôi không ganh tị với người bạn gái thân thiết nhưng nhiều lúc cũng tủi thân muốn khóc khi so sánh với Huyền. Chị em đi nước ngoài gần hết nên Huyền cứ tà tà nhận quà bán lấy tiền xài và để dành. Khi ba mẹ qua đời thì Huyền đã hưởng trọn gia tài của cha mẹ để lại. Tôi thỉnh thoảng vẫn đến nhà bạn chơi nhưng vì lòng tự trọng tôi không bao giờ than thở để nhận sự giúp đỡ của bạn mình. Tôi và Huyền cùng tuổi, Huyền vẫn chưa lập gia đình khi con gái đầu lòng của tôi đã bước vào tuổi thiếu nữ. Chúng tôi rất nhiều lần nhắc lại chuyện xưa rồi cười bò càn với nhau, những lúc ấy lòng tôi chợt ấm lại, tạm quên đi những nỗi đọa đầy của thực tế.

Cho đến một ngày, một ngày bắt đầu sau những ngày và những đêm muộn phiền, lo lắng. Tôi làm ăn thất bại, phải đi mượn một chỉ vàng từ một người bạn hàng và đã đến thời hạn phải trả lại cho người ta. Thật ra, một chỉ vàng không phải là một món nợ lớn nhưng khi đã kẹt rồi thì không biết đào đâu cho ra. Sau nhiều đêm suy nghĩ nát óc tôi nhớ đến Huyền, tôi tin chắc rằng Huyền có thể giúp đỡ tôi trong cơn túng ngặt này. Tên Huyền đã giúp tôi thoát khỏi những lo âu từ cả tuần nay làm tôi mất ăn, mất ngủ. Tôi như kẻ chết đuối vớ được chiếc phao và thấy lòng thoải mái, nhẹ nhàng biết là bao. Bạn tôi sẽ giúp tôi thôi.

Với lòng tràn đầy phấn khởi và hy vọng tôi tìm đến nhà Huyền, ngồi trên tấm phản bóng láng trong căn bếp rộng rãi quen thuộc lòng tôi tràn ngập những kỷ niệm xa xưa. Tôi đã từng đến đây không biết bao nhiêu lần trong suốt quãng đời thiếu nữ. Căn bếp có khung cửa sổ mở ra khu vườn sau với những tàn lá chuối xanh mướt. Tôi thích ngồi lắng nghe tiếng lá chuối bị xé rách trong gió khi những tia nắng buổi chiều xiêng xiêng trên khung cửa. Căn bếp nhà Huyền luôn mang đến cho tôi những cảm giác thân thuộc và quyến luyến mà tôi tin rằng có nói ra bạn tôi cũng không thể nào hiểu được. Bạn tôi là một người con gái đẹp với đôi mắt u uẩn như ẩn chứa một đời sống nội tâm dồi dào. Đôi mắt sâu đen như một bí mật lạ lùng thách thức sự khám phá của tha nhân, nhưng thật ra đó là một điều trái ngược hoàn toàn mà có lẽ chỉ những người bạn thân như tôi mới hiểu. Bạn tôi là một người rất giản dị đến hiền lành, không thích sự rắc rối và nhất là không mơ mộng như tôi. Tôi nhớ hồi còn đi học Huyền sợ nhất là môn Việt Văn, cô ta hay phàn nàn:

- Huyền chẳng biết viết gì cả, cái đầu như đeo đá vậy, còn bồ viết gì mà nhiều thế?

Tôi thành thật giải thích cho Huyền:

- Chẳng có gì là khó, Huyền nghĩ sao thì cứ viết đại ra giấy nháp rồi sau đó sửa lại cho gọn gàng là được rồi. Tụi mình đâu phải là văn sĩ mà cần phải viết cho hay!

- Nhưng mình không nghĩ ra được điều gì thì làm sao mà viết đây?

Tôi trố mắt nhìn Huyền kinh ngạc vì tôi không biết Huyền nói đùa hay nói thật. Tuy vậy chúng tôi vẫn rất thân thiết, bạn bè chơi thân nhau đâu cần phải giống nhau.

Tay vân vê trên mặt phản bóng lọng tôi bắt đầu trình bày cho Huyền nghe những khó khăn về tiền bạc và mong bạn giúp đỡ bằng cách cho tôi mượn một chỉ vàng. Tôi kết luận:

- Là bạn bè thân thiết từ mấy chục năm nay nhưng mình không dám làm phiền Huyền, nhưng bây giờ kẹt quá không biết chạy đâu ra. Mình hứa sẽ trả lại trong một thời gian rất ngắn.

Huyền xua tay:

- Không sao đâu mình sẽ cho bồ mượn nhưng bây giờ thì chưa có sẳn, chiều mai sáu giờ bồ đến đây nhé!

Tôi mừng rỡ như buồn ngủ mà gặp chiếu manh nên cảm ơn Huyền rối rít. Cái gánh nặng đè trĩu trên vai cả tuần nay trong phút chốc đã được Huyền cất xuống hộ. Tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng trên đường trở về nhà.

Ngày hôm sau chưa đúng sáu giờ tôi đã hí hửng đến nhà Huyền.Theo thói quên từ ngày còn bé tôi vào nhà bằng cửa bếp. Huyền không có ở đó nên tôi phải vòng lên phòng khách vừa đi tôi vừa kêu tên bạn tôi thật to. Sau cùng tôi gặp Huyền đang ngồi trên Sofa, tôi hơi ngạc nhiên trước thái độ im lặng của Huyền không buồn đáp lại tiếng kêu của tôi nhưng tôi vẫn giả lả nói:

- Con khỉ, ngồi ở đây mà không lên tiếng làm tao kêu rát cả họng!

Huyền cười nhạt mà không nói gì cả. Tự nhiên tôi linh cảm có một điều bất thường nào đó. Một khoảng im lặng nặng nề giữa hai người bạn, hình như sự im lặng này chưa bao giờ có giữa tôi và Huyền trong suốt mấy chục năm nay.

Tôi vẫn đứng ló ngớ trong căn phòng khách quen thuộc trước mặt bạn tôi. Mắt tôi dừng lại trên chiếc đồng hồ treo tường có con ngựa bằng gỗ mun đen bóng trên đỉnh. Con ngựa với tư thế cất hai vó trước từ mấy chục năm nay không hề biết mỏi mệt. Còn tôi, cái con bé mười hai tuổi ngày nào bây giờ đã và đang bị đời hành hạ, đọa đày không chút xót thương. Tôi, người nữ sinh nhí nhảnh, yêu đời ngày nào bỗng trở thành một mụ đàn bà nghèo nàn đến đây để vay mượn bạn mình. Tôi không ngồi xuống ghế - bạn tôi cũng quên mời tôi ngồi – cố đánh tan khoảng trống nặng nề khá dài giữa hai đứa tôi nói:

- Huyền hẹn mình sáu giờ nhưng mình đến sớm một chút vì trời bây giờ mau tối quá sợ không có xe về.

Huyền vẫn lặng thinh nhìn bâng quơ đâu đâu. Một cảm giác ngượng ngùng, quê quê làm tôi thấy nóng bừng mặt mũi. Hay là bạn tôi đã quên mục đích của tôi đến đây, hay là bạn tôi đã quên lời hứa ngày hôm qua. Thật là buồn cười đến độ ngớ ngẩn khi nghĩ như vậy nhưng dù sao đi nữa thì tôi cũng đã đến đây và bạn tôi thì cứ im lặng. Cho nên tôi phải ngập ngừng nhắc lại cho bạn tôi nhớ:

- Hôm qua mình có nói với về sự khó khăn tiền bạc, mình kẹt quá nên phải đến đây mượn tạm một chỉ vàng. Huyền đã hứa hôm nay sẽ cho mình mượn! Mình lấy danh dự bạn bè thân thiết từ mấy chục năm nay để hứa là mình sẽ hoàn trả lại Huyền trong một thời gian rất ngắn.

Tôi xin thề có trời chứng giám: chưa bao giờ có sự khó khăn khi phải nói chuyện với người bạn thân của mình như hôm nay bởi lẽ rằng tôi đang cầu cạnh bạn tôi. Tôi lại có ý nghĩ cay đắng rằng mình hơi hèn hèn làm sao ấy, tất cả đã trở thành lố bịch, kịch cỡm mà nguyên nhân chính là vì sự im lặng của bạn tôi. Nếu bạn tôi cứ cười, cứ nói như Những Ngày Xưa Thân Ái của Phạm Thế Mỹ thì tôi, con bạn thân một phần tư thế kỷ của Huyền đâu có nghẹn ngào không nói nên lời trong giây phút này.

Cuối cùng thì người bạn chân tình của tôi cũng phải mở miệng một cách bất đắc dĩ:

- Hôm qua mình có hứa nhưng bây giờ thì không có, vì con em dâu mình – con Hương vợ thằng Dũng- đã đi mua hàng hết rồi.

Tôi cảm thấy căn phòng khách nhà Huyền tối sầm lại, tôi còn có cố vớt vát trong vô vọng:

- Như vậy là mầy không có một chỉ vàng cho tao mượn hả Huyền?

Huyền trả lời lạnh nhạt, giọng thật sắc:

- Tao đã nói với mầy là con em dâu tao đi mua hàng hết rồi mà!

Tôi còn nhớ Dũng là em của Huyền, đứa con trai có khuôn mặt tròn đầy như cái hột vịt mà ông Tây già gần nhà Huyền đặt tên cho Dũng ngày xưa. Thằng Hột Vịt đã có vợ hồi nào tôi không biết và tôi lại cũng chẳng biết con Hương vợ thằng Hột Vịt là ai. Tôi chỉ biết Huyền là người bạn chí thân đã từ chối giúp đỡ mình trong cơn ngặt nghèo, túng quẫn, điều đó làm tôi thấy tủi thân muốn khóc.

Con ngựa đen trên đỉnh chiếc đồng hồ hình như mỏi mệt muốn hạ vó xuống, tôi thẫn thờ nhìn nó rồi nhìn Huyền. Bạn tôi vẫn ngồi đó, hai con mắt đen và sâu trên khuôn mặt thanh tú, xinh xắn nhưng nụ cười đã biến mất tự bao giờ. Nét mặt bạn tôi trở nên lạnh lùng đến độ tàn nhẫn làm trái tim tôi co thắt lại, một khoảng cách vô hình, một sự tan nát, đổ vỡ nào đó làm tôi lao đao như chực bổ nhào xuống đất. Bất chợt tôi cảm thấy sợ hãi khi bắt gặp một thoáng độc ác nào đó trong đôi mắt đẹp của người bạn chân tình.

Tôi biết là không thể lay chuyển được bạn mình nên chào từ giã:

- Thôi, mình về nghe Huyền!

Giọng tôi run run ướt sũng nước mắt. Nét mặt Huyền vẫn lãnh đạm hơn bao giờ cả:

- Ừ mầy về đi!

Bước ra khỏi nhà Huyền tôi khóc oà lên một mình, sự tủi nhục dâng đầy trong tâm hồn. Tôi không cần chú ý đến những người qua lại nhìn tôi một cách lạ lùng, khó hiểu. Từ đường Hoàng Diệu tôi băng qua Hải Thượng, nhìn vào ngôi trường Việt Anh nơi tôi, Huyền và bạn bè đã có những thời gian êm đẹp với biết bao là kỷ niệm thân thương. Cây đào tiên vẫn còn bên chiếc cầu vắt ngang giòng suối. Cái cầu trở nên bé nhỏ lại và con suối thì cạn queo. Tất cả đã thay đổi như tình bạn giữa tôi và Huyền. Tất cả đã thay đổi một cách xấu xí và tàn bạo sau cuộc đổi đời trên quê hương chúng ta.

Đèn đường đã thắp, nên tôi có thể vừa đi vừa khóc mà không ai nhìn thấy trong không gian nhá nhem tranh tối, tranh sáng. Tôi mỏi mệt lê bước lên đường Duy Tân dẫn đến khu Hòa Bình, những chuyến xe cũng nặng nề leo lên dốc. Hình như tất cả đều cố gắng một cách vô vọng, rã rời trong cái thế giới độc ác, tối tăm này. Tôi bỗng muốn lao đầu vào một chiếc xe đang vun vút chạy về hướng tôi. Ý định ấy làm tôi thấy nôn nao một cách kỳ lạ, sự gọi mời của cái chết như một hứa hẹn bình an vĩnh cửu. Chết. Chết. Thế là xong. Hết lo, hết nghĩ, hết buồn, hết phiền, hết tủi nhục, hết đau thương và nhất là ngày mai khỏi bị đòi nợ, khỏi bị chửi bới.

Nhưng tôi chợt bừng tỉnh lại khi nghĩ đến những con mắt tròn xoe và đôi má bầu bĩnh của mấy đứa con. Các con tôi đang chờ mẹ ở nhà, tôi phải trở về lo cho chúng buổi cơm tối, nếu tôi chết rồi các con tôi sẽ ra sao. Tôi lại bắt đầu khóc nức nở trên chuyến xe trở về nhà, khóc vì thương con, vì tủi nhục, vì tình bạn bè, vì tình đời thay đổi.

Khi bước xuống bến xe lam, khu chợ nhỏ bé đã bắt đầu náo nhiệt vì những hàng quán bán thức ăn, nước uống buổi tối. Có một đứa nhỏ nào đó nắm lấy bàn tay và kêu tên tôi một cách mừng rỡ. Tôi nhìn xuống và nhận ra đó là thằng Tý con của cô bán sữa đậu nành ở góc bến xe. Thằng Tý nhìn tôi tò mò rồi xịu mặt lại:

- Cô Quyên, sao cô khóc?

Nó kéo tay tôi lại quán rồi kêu mẹ rối rít:

- Mẹ ơi cô Quyên khóc, mẹ ơi cô Quyên khóc.

Hạnh, cô chủ quán mẹ của Tý chạy ra nhìn tôi ngạc nhiên, ái ngại. Hạnh chỉ là một người bạn sơ giao ngoài chợ trong khi buôn bán, làm ăn, cô là công chức bị sa thải sau năm 75. Tuy tôi không thân thiết với Hạnh nhiều nhưng bản tính hiền hòa, vui vẻ của Hạnh cũng làm tôi cảm mến. Trông thấy Hạnh tôi lại òa lên khóc làm thằng Tý cũng mếu máo khóc theo. Hạnh kéo tay tôi vào quán vừa nói:

- Thôi vào đây uống ly sữa nóng rồi kể cho em nghe chuyện gì đã xảy ra cho chị.

Tôi nghẹn ngào nói:

- Nhục lắm Hạnh à! Chỉ có một chỉ vàng thôi mà một đứa bạn thân quen hơn ba mươi năm cũng từ chối. Mình chỉ muốn chết đi cho rồi vì xấu hổ, nhục nhã làm sao!

Tôi vừa khóc, vừa kể cho Hạnh nghe đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong Hạnh thở dài rồi nói:

- Thôi chị đừng buồn nữa, sáng mai ra đây em cho chị mượn rồi bao giờ có thì trả lại em cũng được.

Tôi nhìn Hạnh chưng hửng như không tin ở cái lỗ tai của mình nữa, thằng Tý nãy giờ ngồi hóng chuyện mắt đỏ hoe khóc theo tôi bỗng la lên:

- Đúng rồi, đúng rồi, mẹ cho cô Quyên mượn đi, cho cô khỏi khóc nữa nghe mẹ!

Hạnh nạt con:

- Im đi, con nít biết gì mà nói leo. Đi chỗ khác chơi.

Tôi ấp úng hỏi lại:

- Ngày mai Hạnh cho mình mượn à?

Hạnh cười xòa:

- Hẹn ngày mai chị lại đâm ra sợ nữa! Ngày mai là ngày không bao giờ có. Thôi cho chị mượn ngay bây giờ để tối nay chị ngủ cho ngon!

Hạnh vừa nói, vừa tháo chỉ vàng trên ngón tay trao cho tôi. Tôi cầm chỉ vàng ngơ ngẩn, bàng hoàng như từ trên cung trăng rơi xuống trong tiếng cười và vỗ tay của thằng Tý. Tôi cảm động quá nước mắt lại có dịp tuôn trào không dừng được, tôi nghẹn ngào nói lời cảm ơn Hạnh. Tý nhìn tôi khó hiểu rồi phụng phịu lầu bầu:

- Sao cô Quyên lại khóc nữa hả mẹ. Sao khóc hoài vậy!


Vài năm sau tôi đi Mỹ nhưng không đến chào người bạn chân tình của tôi, cho đến một hôm trò chuyện với Tuyết Sơn một đứa bạn cùng lớp ngày xưa hiện đang sống ở California thì tôi nghe nhắc đến tên Huyền:

- Mình về Việt Nam gặp con Huyền nó gởi lời thăm bạn và trách dữ lắm.

- Trách sao?

- Nó nói Quyên là đứa tệ bạc. Đã là Đôi Bạn Chân Tình mà ra đi không một lời thăm hỏi nó, qua Mỹ sống sung sướng quá nên quên hết bạn bè ngày xưa.

Tôi cay đắng nói:

- Nói Huyền cứ coi như Quyên đã chết rồi sau cái buổi chiều cuối cùng mình đến nhà nó. Sống ở Mỹ mình chẳng giàu sang hơn ai nhưng không phải nhục nhã đi vay mượn từ người bạn chí thân mà bị từ chối đến nỗi chỉ muốn lao đầu vào xe hơi tự tử. Con Quyên chết rồi!

- Quyên nói gì mình chẳng hiểu gì cả, thế là sao?

- Thôi Tuyết Sơn ơi, có nói ra bạn cũng không hiểu được đâu! Bạn đi lâu rồi làm sao hiểu được những gì đã xảy ra cho tụi này sau cơn lốc tàn bạo đổ xuống miền Nam sau 75. Nỗi thống khổ, đoạn trường này chỉ có ai qua cầu mới hay bạn ạ.

Tuyết Sơn lặng thinh bên kia phone. Tôi bỗng nhớ đến hai con mắt sâu đen, tuyệt đẹp của người bạn thân thuở nọ. Người bạn chân tình ngồi vắt vẻo trên sofa với nét mặt lạnh lùng tàn nhẫn và tôi đứng lớ ngớ đâu đó, trong căn phòng khách ngập tràn kỷ niệm xa xưa. Con ngựa gỗ mun đen đưa cao vó trên đỉnh chiếc đồng hồ treo tường. Hơn ba mươi mấy năm tôi đã từng trông thấy nó không có gì thay đổi. Vậy mà lần cuối cùng nhìn thấy: con ngựa hình như muốn hạ hai vó xuống vì mệt mỏi, chán chường.

Nếu tôi lao đầu vào chiếc xe đang chạy trên dốc Duy Tân sau lời từ chối quyết liệt của người bạn thân trong buổi chiều nhá nhem ấy. Tôi rùng mình khi hồi tưởng lại.

Ôi đôi bạn chân tình ngày nào, Narcissus đã ngồi bên Goldmund trong những giây phút cuối cùng với thương yêu và đau đớn trong trái tim tan nát. Còn tình bạn giữa tôi và Huyền thật là mỉa mai khi nó được gán cho những danh từ hoa mỹ, văn vẻ trong những ngày xưa êm đềm đó. Không có gì xứng đáng, không có gì chua xót cho bằng.

Huyền lại trách tôi quên bè bạn. Dư vị đắng cay ngày xưa còn tràn đầy trong cổ họng làm tôi muốn khạc nhổ nó ra ngoài. Tôi chợt hiểu vì sao người ta phải chửi thề, rất tiếc tôi là một người đàn bà và lại là một người đàn bà không quen chửi thề. Tôi nuốt tất cả vào lòng và quặn đau mỗi lần phải nhớ đến.

Tôi không thể là người hiền lành hay dễ thương khi nghĩ về Huyền người bạn thân ngày xưa của tôi. Thật đáng tiếc, tất cả đã tan vỡ một cách quá phủ phàng. Người ta hay nói bạn là người ở lại với ta khi tất cả đã quay lưng. Goldmund đã thều thào với Narcissus trong những giây phút cuối cùng của đời sống: You give me your love in this moment when I have nothing left. I accept it and I thank you for it.

Còn tôi và Huyền, người bạn chân tình của tôi ơi!

Mimosa Phương Vinh

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 06/Jun/2016 lúc 11:39am

Cuốc Xe Ôm Nhớ Đời


Câu chuyện đời thường của một ông chú lái xe ôm tật nguyền nhưng lại khiến nhiều người nghẹn ngào, xúc động. Có thể nói rằng, tình người mới là thứ rung động lòng người sâu sắc nhất.

Câu chuyện được tài khoản facebook có tên là Hải Hồng đăng tải, chỉ trong một thời gian ngắn đã nhận được rất nhiều lượt chia sẻ từ cộng đồng mạng.

Đó là câu chuyện của một chú xe ôm Miền Tây hồn hậu dù bị tật nguyền nhưng hàng ngày vẫn chăm chỉ lao động, kiếm tiền. Hình ảnh một con người nhọc nhằn vì cuộc sống mưu sinh cứ khắc khoải mãi trong tâm trí.
***
Cuốc xe ôm nhớ đời
9 giờ tối, Xa Cảng Miền Tây.
Xách túi đồ dạo bước ra taxi, nhận một cái níu tay, tui quay lại, chú xe ôm đứng cong người nài nỉ: “Đường giờ này mát mẻ lắm, con đi giúp chú cuốc xe đi. Ai thấy chú tật nguyền vầy cũng ngại đi nên chú chạy ế lắm. Con yên tâm đi, chú chạy được, chạy cẩn thận lắm”.
“Dạ được rồi, con đi”.
Và cái đoạn đường hơn chục cây số từ đó về Tao Đàn, tui đã được nghe một chuyện đời, một chuyện tình đẹp tái lòng.
Chú 58 tuổi, ở quận 7, mỗi chiều 5 giờ ra bến, chạy đến 5 giờ sáng hôm sau. Ráo cũng như mưa, chục năm nay không dám nghỉ ngày nào. Mỗi đêm thường kiếm được trăm mấy hai trăm, mỗi tháng đóng tiền bến hết chín trăm.
Cô thì đi nấu cơm cho công an phường, lương có triệu mốt nhưng được cái họ hay bỏ bữa, cô mang thức ăn về, nhà khỏi đi chợ. Cô đòi đi kiếm chỗ làm thêm, chú không cho. Chú biểu để mình chú cực là được rồi. Kể tới đây, chú cười hịch hạc: “Đàn ông mình, cỡ nào cũng phải sống mà lo cho gia đình được, há con?”.
Tui bắt đầu thấy ngưỡng mộ chú rồi đây, sau cái câu này.
Bạn bè đang đợi, tui thì trễ hẹn nhưng bị cuốn vào câu chuyện tươi sáng của chú nên nghĩ mình cũng chẳng cần phải nhanh hơn. Tới đâu đó Thuận Kiều, thấy vai chú run run, tui hỏi thăm, chú biểu cái chân tật của chú, hễ trời lạnh lại nhức.
“Thôi chú dừng xe lại đi, con chở cho”.
“Đâu có được, ai làm vậy được con? Chú không sao, ráng chạy chút nữa, về bóp dầu”.
“Chú sợ con cướp xe hả? Xe chú cà tàng lắm rồi nha. Với lại con sẽ đưa túi xách con cho chú đeo. Chú dừng lại đi”.
Tui cũng chạy chậm, như chú. Thanh thản lắm, như đang chở ba mình đi dạo vậy. Ngồi sau lưng tui, chắc ấm được chút đỉnh nên chú trải lòng hơn.

Chú khoe hồi trẻ cô đẹp lắm, con gái Cai Lậy mà. Cô lên Sài Gòn ở mướn cho nhà chủ mà chú làm bảo vệ. Ba má cô đâu có chịu chú bởi họ chê thằng này mồ côi mồ cút, nghèo mà còn què quặt nữa. Họ sợ cô khổ khi về với chú.
Nhưng cô hổng sợ, cô bỏ nhà theo chú. Ba má cô từ con gái. Ngày ba cô nhắm mắt, ông còn chưa tha cho cô mà. Chú phải đưa cô về, nửa đêm quỳ ngoài hàng rào lạy vọng vào. Rồi đi.
“Chú biết cô thương chú lắm nên chú muốn cô được sung sướng. Mà muốn vậy thôi chứ tới giờ cô cũng chưa được sướng ngày nào”.
“Sướng chứ chú. Làm lụng thì ai cũng phải làm thôi, chỉ cần có người chồng thương mình như chú, con nghĩ cô sướng trong dạ lắm đó chớ”.
“Thiệt không con?”
“Hổng tin, bữa nào chú về hỏi cô đi”.
“Ừ. Mà tết nhứt tới bên nách rồi con há. Chắc chú phải ráng cày thêm chút đỉnh, vài bữa mua cho cô cái áo kiểu đẹp đẹp mặc tết với người ta…”.

Tui nghe chừng trong lam lũ một trời yêu thương. Cái yêu thương không phải đôi vợ chồng đủ đầy nào cũng có được.
Rồi chú khoe hai thằng con, thằng lớn hai mươi, thằng nhỏ mười ba, thằng nào cũng ngoan.
“Em lớn đang còn đi học hay đi làm rồi chú?”, tôi hỏi.
“Nó học giỏi lắm con, học năm ba Đại học Sư phạm. Mà thằng đó đẹp trai à nha, nó giống cô. Nó có hiếu lắm, hổng bao giờ dám xài tiền”.
“Nói vậy thôi chứ con nghĩ hồi trẻ chú cũng đẹp trai mà. Nghe em nó được vậy, con cũng mừng cho cô chú”.
“Ừ…thì…”
Sao tui nghe câu trả lời như vướng đâu đó trong cổ họng.
Câu chuyện còn đang dang dở, hai chú cháu đã tới nơi. Xuống xe, chú biểu bớt hai chục ngàn, cho cái công tui chở chú.
“Chú bớt phân nửa luôn đi. Hehe”
“Sao cũng được mà con”.
Trả tiền xe xong, tui dắm dúi một ít vô tay chú, dặn dò: “Chú về mua cho cô cái áo đi, áo màu tím nghen chú. Con tin cô sẽ thích. Mà cũng phải mua thêm cho chú một cái nữa. Cô mặc áo đẹp mà áo chú cũ quá, hổng xứng đâu nha. À quên, hai thằng nhỏ, mỗi thằng một cái nữa nhe”.
Chú cúi sát nhìn thứ tui vừa đưa, tay run run.
Chào nhau, chú lại níu tui. Tui ghẹo: “Tính cám ơn con nữa hay gì đây? Thôi khỏi, mai mốt có gặp nhau, chú chở rẻ cho con là được rồi”.
“Hổng có, hồi nãy chú hổng dám kể hết. Thằng con lớn của chú đó, là chú…nhớ nó quá nên chú tưởng tượng vậy thôi, chứ sau khi thi đậu đại học, nó bị tai nạn…mất rồi con ơi. Tới giờ mà chú còn chưa tin là nó hổng còn… Đêm nào cha con chú cũng nói chuyện… Nhưng con yên tâm, chú cũng sẽ lấy tiền này mà mua cái áo mới, để lên bàn thờ cho nó”.
Trời ơi!!! Sao tự nhiên tui muốn quỳ xuống đường mà tế sống người đàn ông này…
st.

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 04/Jun/2016 lúc 2:31pm

“Coi cọp”

1


Khi xem sơ qua tựa đề bài này , chắc rằng ai cũng nghĩ tôi sẽ đưa bà con mình đi vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn nơi mà theo tiếng thường gọi của giới bình dân ngày xưa là Sở thú để xem ông Ba mươi trong dãy chuồng sắt . Những con Cọp nằm với đôi mắt lim dim buồn như bài thơ bất hủ Hổ nhớ rừng của Thi sĩ Thế lữ đã đi vào lòng người qua bao thế hệ dân Việt mình .

    Thuở ấy vùng đất Gia Định quê tôi vào thập niên sáu mươi , cái thập niên mang đầy ấp những kỷ niệm của tuổi thơ chúng tôi ngày xa xưa , mãi đến giờ mỗi khi trong tâm tư tôi có lúc len lén quay về thì hầu như một trong những hình ảnh khó phai mờ trong tâm thức tôi đó là những lúc đi ” Coi cọp ” một vở tuồng cãi lương hoặc một cuốn phim trong rạp chớp bóng với màn ảnh đại vĩ tuyến .
Tôi còn nhớ như in , buổi sáng nọ trên con đường đất đỏ gập gềnh sỏi đá của xóm chúng tôi , tiếng ( Ô pặc lưa) trên chiếc xe ngựa vang lên tiếng giới thiệu đoàn cãi lương nào đó về Võ Ca Đình làng Hanh Thông để hát tuồng : Ba mùa Mai nở , đại khái vở tuồng nói về cuộc hành quân thần tốc của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh chiếm Thăng Long thành thu lại giang san từ tay quân xâm lược .
Đang chuẩn bị quần áo để lội bộ đến trường đi học , nhưng khi nghe tiếng trống dồn dập trên chiếc xe ngựa đang quảng cáo tuồng hát cho đêm ấy, nó làm cho lòng chúng tôi rộn ràng nên mau mau chạy ra đường để cố lấy cho được tờ chương trình do họ thả xuống đường từ chiếc xe ngựa này , hai ba đứa giành giật có khi chưa lấy được thì tờ chương trình đã bị rách , lại phải tiếp tục chạy theo xe ngựa lấy cho bằng được tờ giấy này nhằm mục đích xem hình các tài tử và tóm tắt câu chuyện của vở tuồng , tôi vốn nhỏ con nên không thể chen lấn với mấy đứa bạn trong xóm vì vậy sau một hồi giành giật , kết quả là tôi bị hất té văng xuống đường lấm lem bụi đỏ trên chiếc áo trắng học trò , báo hại tôi bị ba tôi “Thưởng” cho mấy cây roi mây vô bàn tọa đau điếng , đang lấy tay xoa xoa nơi mấy lằn roi còn in dấu thì bên tai tôi tiếng thằng Thành con bà Năm trong xóm nói nhỏ cho tôi nghe :
– Ông Phương ơi ! tui lượm được hai tờ chương trình , tui cho ông một tờ nè , cha chả tuồng này hay lắm nghe , tối nay nhất định đi coi mới được , à mà ông đi với tui được hông dậy ? .
Chưa kịp cầm tờ chương trình trên tay , nghe thằng Thành rủ rê như thế khiến tôi giẫy nẫy nói với nó :
– Trời ! Tui đi học được ba má cho có hai cắc bạc , uống nước vừa đủ lấy đâu ra tiền mua vé mà coi cho được .
Nghe tôi than thở như thế , thằng Thành nó nở một nụ cười đầy bí hiểm rồi nó kê vào tai tôi nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe :
– Ông đừng có lo , theo tui nè , chỉ cần tiền mua đậu phộng rang đem vô rạp ăn thôi , còn chuyện vô cửa tui lo ông yên chí đi , mà hông phải tui với ông đâu , để tui rủ thêm mấy đứa nữa đi cho vui , mấy đứa con gái xóm mình tụi nó mê cải lương lắm nghe , tối nào tui cũng thấy con Thúy con Xinh con Chi tụ tập hát hò um xùm , tui rủ tụi nó tham gia liền thôi .
Nghe Thằng thành đưa ra kế hoạch coi bộ xôm tụ , nhưng làm tôi đâm lo bởi cả đám như vậy theo nó thì lấy tiền đâu mua vé , trong đầu tôi lóe lên cái ý nghĩ xấu về nó tôi nói :
– Thôi đi nghe ông , bấy nhiêu người vậy tiền đâu ông bao cho được , ông mà móc ống Heo đất nhà ông nếu để bà Năm biết được, bà Năm bố cho một trận là tiêu tùng đó nghe .
Vẫn nụ cười bí hiểm , thằng Thành nói chắc như bắp :
– Tui nói tui lo là lo được mà , miễn sao nghe theo tui là vô coi thoải mái luôn , không tốn đồng xu cắc bạc nào hết .
– Ông quen với mấy chú soát vé hả ? hay đập heo đất rồi nói càn cho qua chuyện đó ông , có gì ông chịu nghen , vụ này tui kham không nỗi đâu .
– Đã nói yên chí mà cứ thắc mắc hoài , tối nay theo tui biết liền , vô cửa dễ ẹc hà , tuồng hay không coi là uổng lắm , lâu lâu họ mới ghé về đình làng hát , dễ gì họ ghé về lại lần nữa .

  Thế là cả đám chúng tôi , mấy đứa chơi thân với nhau nghe theo lời ” Đường mật ” của thằng Thành “Gia cát Lượng “, sở dĩ tôi gọi nó là Gia cát Lượng bởi nó thường có những ý nghĩ táo bạo thật hay trong mỗi cuộc chơi khi cả đám bế tắc chuyện này chuyện nọ , qua tay nó mọi chuyện trơn tru vô cùng , có điều lần này thì không được suôn sẻ cho lắm

* * *

Khi cơm nước xong thì trời đã chạng vạng tối , thấy tôi đóng bộ đồ vía vô người má tôi thắc mắc hỏi :
– Bây tính đi đâu mà mặc đồ bảnh tỏn quá dậy ? nhớ dìa sớm sớm để không tía bây ổng càm ràm mệt lắm đa .
Tôi nói liền một khi :
– Thằng Thành con bà Năm rủ con với mấy đứa trong xóm đi coi cãi lương trên Võ ca đình , tuồng này hay lắm má ơi,có chú Thành Được , cô Phượng Liên đó má , hôm rồi trên Vô Tuyến truyền hình thấy cô chú ca hay quá , nay họ về đình làng mình hát , đi coi người thiệt cho nó đã má ơi , còn tiền vé vô cửa thằng Thành nó bao hết .
Má tôi chặc lưỡi rồi nói :
– Mấy đứa đi đứng cho cẩn thận đó , nè má cho năm cắc bây mua nước uống , à mà tiền vé mắc dàn trời thằng Thành tiền đâu mà dám bao cho cả đám dậy , coi chừng nó làm liều lấy tiền bà Năm bả quở là chết nghen con .
Nghe má nhắc tới đây khiến tôi ú ớ nói không thành lời , sợ má tôi rút lại ý kiến không cho tham gia với đám bạn thì thật là một thảm họa đối với mình , tôi bèn tìm cách trả lời rồi nói :
– Ô hô ! hôm nay má hào phóng quá , dám cho con năm cắc lận nha .
– Tổ cha bây , làm như má kẹo lắm hả , mà vụ tiền vé vô cửa thì sao? nói cho má nghe coi .
Trời về chiều cuối năm không khí se lạnh, vậy mà nghe má nhắc lại tiền đâu thằng Thành mua vé cho cả đám lần nữa khiến mồ hôi tôi tự dưng nó rịn ra ước cả trán , bì thế quá vì chính tôi người trong cuộc còn chưa biết thì lấy đâu ra câu trả lời chính xác cho má tôi bây giờ , túng thế tôi đành phải ba xạo cố cho má tôi tin :
– A, thằng Thành nó được cậu Sáu em Bà Năm về phép thăm nhà cho nó tiền , nghe nói cậu Sáu làm sĩ quan gì lớn lắm , lâu lâu về thăm một lần .
– Dậy chắc phải đa , má mới thấy cậu Sáu tuần trước nè , thôi đi mau dìa sớm nghen .
Thế là thoát nạn , tôi cũng thầm khen mình nói dóc cũng có căn quá đi chứ , may mà tôi còn nhớ đến cậu Sáu của thằng Thành để bịa ra câu chuyện hợp tình hợp lý này , bằng không sẽ bị bắt ở nhà là cái chắc .
Ra tới đầu ngõ nơi chúng tôi hẹn gặp nhau lúc sáng thì tôi thấy cả bọn tề tựu đầy đủ , trai có gái có không thiếu đứa nào , ai nấy ăn mặc tươm tất sạch sẽ , có đứa điệu đàng một chút nó xức dầu thơm nghe ngạt ngào mùi hương , còn thằng Thành thì đầu tóc chải chuốc bóng mược bởi lớp dầu (Pi jăng tin) , có thằng còn bày đặt bỏ cái khăn mù soa sọc ca rô mới tinh lên trên miệng túi áo sơ mi , chẳng bằng ngày thường thì khi tay chân lấm bẩn mồ hôi trong khi chơi đùa thì mạnh đứa nào kéo vạt áo lên lau vậy mà hôm ấy anh nào cũng tỏ ra mình đã thành người lớn tự bao giờ .
Từ xóm nhỏ chúng tôi rão bước đi về hướng Võ Ca Đình , gió thổi nhẹ bên đường , hai hàng cây Dầu cổ thụ dường như chúng cũng mang tâm trạng náo nức như chúng tôi bởi những cành lá của nó đong đưa trong gió khi chúng tôi đi ngang qua , chừng hai mươi phút sau chúng tôi đứng trước cổng Đình làng Hanh Thông , cái thu hút mọi người khi vừa đặt chân đến đây là nhiều sợi dây đèn bóng tròn cháy sáng rực , tôi nhẫm tính có hơn cả trăm bóng đèn thi nhau tỏa sáng , phía ngoài hàng rào Võ ca đình họ giăng những băng rôn vẽ hình những tài tử đào kép trong đoàn hát , nhìn kỹ tôi thấy những đào kép chánh thì hình vẽ thật to, trang điểm thật đẹp , còn đào kép hạng nhì thì hình ảnh nhỏ hơn và nằm nép hai bên băng rôn , tủi thân nhất là tên tuổi của nghệ sĩ mới vào nghề, không những chẳng được cái vinh hạnh có hình ảnh cho bà con chiêm ngưỡng nơi cái băng rôn, mà tên tuổi của họ còn được ghi rất nhỏ nằm cuối dưới đáy tấm băng rôn .
Nhìn vào trong sân đình làng tôi thấy một bức tường xây nằm giữa sân đình có đắp nổi hình một chú Cọp đang phóng mình để vồ mồi , tôi có cái cảm giác sợ sệt khi nhìn vào mắt con cọp này , phải công nhận họ tạc hình chú cọp này y như thật , nếu như lúc ấy có mình tôi ở nơi đây chắc tôi đã co giò chạy vắt chân lên cổ cũng không chừng .
Đang mãi mê ngắn nhìn mọi thứ chung quanh tôi thấy ai cũng hớn hở bu quanh phòng bán vé , trên tay họ cầm những tờ giấy bạc có mệnh gia lớn để mua vé , mấy anh gát gian và soát vé cần đèn pile đi tới đi lui và hướng dẩn mọi người sắp thành bốn hàng trước nơi bán vé để tránh tình trạng chen lấn mất trật tự , hơn nữa để tránh mấy tay móc túi làm ăn nơi đông người , thấy đám chúng tôi đứng sớ rớ chưa nhập vô sắp hàng như bà con nên ông gát gian già đến bên cạnh nói :
– Mấy đứa nhỏ này có vô coi hát không , có thì sắp hàng , không thì ra ngoài kia đứng cho bà con sắp hàng tiếp .
Thằng Thành nhanh nhẫu đáp :
– Dạ tới đây phải coi chứ ông , không đi coi hát tới đây mần chi , thôi vô hàng đi mấy bạn .
Cái hàng chúng tôi đang đứng cũng dần được thu ngắn lại , còn chừng năm người là đến phiên thằng Thành đến trước phòng bán vé , tôi mừng thằm trong bụng :
” Vậy là mình sắp gặp mặt Cô Phượng Liên và Chú Thành Được bằng xương bằng thịt rồi ”
Chưa kịp vui với ý nghĩ này bổng dưng thằng Thành ôm bụng ra dáng đau đớn dữ dội , thế là cả đám chúng tôi phải rời cái hàng mà mắc công đứng chờ cả giờ đồng hồ để dìu nó ngồi xuống bên hành lang phía trái của Võ Ca Đình .

  Hồi lâu sau con Xinh nhỏ nhẹ hỏi nó :
– Ông Thành có bớt chưa , xức dầu gió không để Xinh ra mua rồi xức , cái này xức dầu Nhị Thiên Đường là hết đau ngay .
Con Chi nói chen vô :
– Ý đừng xài Nhị Thiên Đường , mùi nó nặng lắm vô coi hát coi chừng mấy người ngồi gần họ chịu không được mùi này mắc công phiền phức , theo Chi nên mua dầu cù là chánh gốc Miến Điện đi, xài tốt lắm đó .
Thằng Thành hỏi ngay :
–  Dầu gì vậy ?
Con Chi nói liền :
– Dầu cù là Hiệu Matsu đó , bộ ông chưa xài bao giờ à .
– Má tui chuyên môn xài dầu Khuynh Diệp Bác sĩ Tính Không hà . có hôm tui đau bụng xức vô rún có chút xíu vậy mà vô lớp tụi nó ghẹo tui bộ bà đẻ hay sao mà xài dầu này , làm mắc cở muốn chết .
– Ủa ông hết đau rồi hả sao nói chuyện tĩnh bơ vậy .
Đến nước này thằng Thành mới bắt đầu thú thật với chúng tôi , thì ra nó cũng đâu có tiền bạc gì để bao cho cả đám chúng tôi , nó nói :
– Phía sau hàng rào kẻm gai bên hông đình là lối đi vào cửa hông của ngôi đình này , chỉ cần lọt vào trong đó thì xem như khỏi cần mua vé tụi bây thấy dễ không ?
Nghe nó bàn bạc với chúng tôi như thế , tôi vội ngó về phía hàng rào kẽm gai , thấy họ rào thật dầy dễ gì phá rào chui vô cho được , tôi bèn nói với thằng Thành :
– Ông ẩu thấy ớn , không có tiền thì thôi bày đặt rủ cả đám ra đây, giờ tính sao đây , còn vượt qua hàng rào này thì đừng có mơ, họa chăng có Tề Thiên Đại Thánh may ra mới phá nổi cái hàng rào . thôi về cho yên thân .
Thằng Thành vội xua tay ngăn tôi lại nó nói :
– Chưa ra chiến trường ông lo sợ thua rồi , làm theo tui sẽ vô được thôi. cần gì phá hàng rào chi cho cực thân . Mà ông Phương này thiếu óc quan sát ghê nghe .
Nói xong nó bèn đứng dậy nắm tay mấy đứa con gái theo nó đến bên hàng rào, thấy vậy tôi cũng lững thững theo sau , đến nơi tôi thấy thằng Thành đang leo lên nhánh cây Trứng cá mọc sát hàng rào, cây này thật to có hơn hai ba chục năm tuổi , tôi thấy nó trèo qua mái tole rồi lần mò đu xuống một nhánh cây Trứng cá khác phía trong cửa hông sân đình , vậy là trong phút chốc nó đã thành người đi coi cãi lương hợp pháp , vì vô bên trong rồi mạnh ai nấy tìm chổ ngồi không bị ai hỏi vé bao giờ , lần lượt mấy đứa con gái cũng qua cái ải này một cách tài tình , tới phiên tôi là người sau cùng đang thực hiện hành vi leo rào ” Coi cọp ” , vừa thòng chân xuống đất tự dưng có một bàn Tay nắm ngay lưng áo tôi rồi la lớn lên :
– Coi cọp , coi cọp bà con ơi .
Khán giả nghe la họ ùa ra nhìn làm tôi sượng người muốn độn thổ, ông già gát gian nói :
– Tao nghi tụi bây lắm mà , mặt mày sáng sủa vậy mà đi coi cọp hả con, còn mấy đứa kia đâu ?
Nhìn thấy mấy đứa bạn lấm lét ra dấu chớ có khai ra , tôi lắc đầu nguầy nguậy rồi nói :
– Cháu không biết , có mình cháu thôi .
Biết tôi khai gian nhưng không có bằng chứng ông ta bèn nhéo tai tôi rồi dẩn ra ngoài cổng đình , ông ta còn đá vào mông tôi một phát rồi đẩy tôi ra khỏi cổng sân đình , trước khi quay gót vào trong ông ta còn nói vói một câu cho tôi nghe :
– Chừa cái tật coi cọp nghe con , lần sau ông giao mày cho cảnh sát nhốt một đêm cho muỗi làm thịt mầy một bữa đó nghen con .
Lòng buồn vô hạn , tôi lũi thủi đi ra phía ngoài đường rồi đứng dựa tường rào nhưng mắt vẫn hường vào phía bên trong , lúc này tiếng cái loa vang lên :
– Đến giờ mở màn , xin quý bà con cô bác ổn định chổ ngồi , mấy em nhỏ hai bên cánh gà vui lòng ra phía trước để xem , không được cản đường để nghệ sĩ bước ra trình diễn…

  Bên ngoài nhướng mắt nhìn vào phía trong sân đình , sau tấm màn che chổ cửa ra vào bấy giờ họ đã tắt tất cả đèn để bắt đầu mở màn , tiếng đàn , tiếng trống bắt đầu dạo lên khiến tôi càng nôn nao khôn cùng , tôi chợt ao ước giá mà trong túi tôi có đủ tiền mua vé thì tôi nhất quyết xem cho bằng được tuồng này . trong hoàn cảnh hiện tại thì tôi phải cố chờ khi họ hát khoảng ba phần tư tuồng hát thì họ sẽ ” xả dàn ” lúc ấy thì không còn ai ngăn cản ai để vào xem đoạn kết của vở tuồng .
Đang rầu rĩ trong bụng , thời may có một bà đến chổ tôi bà nói :
– Ông gát gian có làm cháu đau không ? bộ cháu thích xem cải lương lắm sao ? thôi theo cô vô đây cô dẫn cháu vào xem .
Gặp người chưa từng quen biết , tôi hơi sợ sệt vì mấy lúc gần đây có nhiều tin đồn đãi ” Mẹ mìn ” chuyên đi bắt cóc con nít bán cho mấy ông chệt trong Chợ lớn để làm nhân bánh bao , vậy mà người phụ nữ này nói ngọt ngào với mình khiến tôi liên tưởng sắp bị Mẹ mìn bắt cóc , tôi từ chối :
– Dạ con cám ơn cô , con chờ đây chút xíu bạn con ra rồi cùng về .
– Cháu không phải ngại , Cô thấy tội nghiệp con , vì nãy giờ cô chứng kiến mọi việc hết trơn , nên cô mới giúp con thôi , đi theo cô .
Không đợi tôi có ý kiến , bà nắm tay tôi dìu vào phòng vé , tôi run lên bần bật vì quá sợ , như biết được tâm trạng của tôi bà nói :
– Trời ! gì mà run dữ vậy ông con , tui có ăn thịt ăn cá gì đâu mà sợ quá chừng vậy . nè vé nè cháu vô xem đi , bạn cháu bên trong gặp cháu chắc mấy đứa mừng lắm .
Đến đây thì tôi mới chắc rằng mình không trở thành nhân bánh bao của mấy ông chệt rồi , cầm tấm vé trên tay tôi lên tiếng cảm ơn bà , bà không trả lời nhưng vuốt tóc tôi một cách trìu mến rồi bà trở bước ra ngoài cổng , tôi cố nhìn theo bấy giờ tôi mới cảm nhận đây là một người phúc hậu vậy mà mình nghĩ oan cho bà là người xấu khiến tôi mang mặc cảm mình mới có hành động không tốt,nếu như lúc ấy tôi mà hiểu được câu nói : Đừng coi mặt mà bắt hình dong , thì tôi đâu có ý nghĩ sai trái như thế .
Vào trong rạp tôi phải mò mẫn tìm nơi đứng xem , vì mọi số ghế đã kín người ngồi , những khoảng trống giữa mất dãy ghế cũng người người chen nhau đứng , cố len lỏi tôi đến được cây cột bằng gổ trong rạp, ôm choàng cây cột để đứng cho vững tôi có cảm nhận cây cột thật láng có lẽ nhờ nhiều người ôm chăng ? chưa kịp thưởng thức chú Thành Được đang vô câu vọng cổ thì có tiếng rầy rà :
– Ê cái thằng nhỏ ôm cột đình , mầy ngồi xuống cho người ta coi , bộ mầy làm sếp sao đứng chen ngang xương vậy nhóc .
Tôi nhìn lại phía sau nơi phát ra tiếng nói, tôi thấy một chị phụ nữ sồn sồn đang vạch áo cho con bú , một tay cầm cây quạt giấy quạt phành phạch , tôi bèn ngồi thụt xuống rồi tự càu nhàu một mình :
– Ngồi vầy làm sao mà coi đây trời .
Khi nghệ sĩ Thành Được vừa hát dứt câu vọng cổ , tiếng vỗ tay của những người mộ điệu vang lên hồi lâu rồi dứt hẳn , bổng nơi hàng ghế gần chổ tôi ngồi một anh chàng cằn nhằn :
– Mẹ tổ nó , chiếc dép mới đây đứa nào thỉnh mất tiêu rồi .
Cô gái ngồi kế bên , có lẽ là người tình của chàng ta cũng góp tiếng vào:
– Em nói rồi mà hổng nghe , rút chân lên ghế làm chi cho mất dép, tuần rồi em với con Hoa bạn em coi chớp bóng ở rạp Huỳnh Long , chời ơi mấy cô Ấn độ ca múa hay ác liệt , chừng vãng hát đèn bật sáng cặp guốc vông của nó biến đâu mất , báo hại nó tốn mớ tiền đến chợ Bà Chiểu sắm đôi guốc khác , giờ đi coi hát thì đừng bao giờ rời dép guốc hết nha ông .
Rồi thì không khí cũng trở lại yên tĩnh , mọi người dang chăm chú xem hát , một bà lớn tuổi đội cái thúng nhỏ trên đầu , tay cầm mấy xâu mía ghim , miệng mời mọc :
– Mía ghim đây ..
– Trà đá , đậu phộng rang đây .
Người mua , kẻ bán , nói cười huyên thuyên , không khí nóng bức ngột ngạt , đủ thành phần , đủ lứa tuổi , âm thanh hổn tạp khiến tôi và chắc nhiều người thích cãi lương không thể thụ hưởng hết cái hay của bộ môn này , Tôi thấy khán giả đôi lúc đi xem hát không tôn trọng mọi người chung quanh , không tôn trọng những người nghệ sĩ đã và đang tâm huyết với nghề nhằm cống hiến một phần trong nghệ thuật thứ bảy đến với công chúng , buồn thay khi còn những hình ảnh hổ lốn như hôm tôi đi coi cọp , mong sao hình ảnh này sẽ không còn tồn tại để mọi người cùng nhau thưởng thức lời ca tiếng nhạc cho đời thêm vui.

                       * * *

Khi tấm màn nhung khép lại , đèn bật sáng tôi không ngờ đám bạn trong xóm nó đứng cách tôi không xa lắm , gặp lại nhau trong rạp lòng chúng tôi đứa nào cũng mừng mừng tủi tủi .
Về sau mỗi lần có gánh hát nào về lại Võ ca dình Hanh Thông để trình diễn , khi thằng Thành rủ rê đi xem , thì câu đầu tiên tụi tôi hỏi nó :
– Có tiền không ? hay lại đi ” Coi cọp ” .
Mấy chục năm qua rồi , đất trời thay đổi , vạn vật đổi thay , Võ ca đình Hanh Thông ngày xưa không còn như ngày xưa nữa , nó bị xén bớt để cất xây nhà cửa gì đó , nay Võ ca đình chỉ còn lại gian nhà nhỏ hàng năm chỉ còn số ít cô bác lớn tuổi cúng bái để nhớ lại các bậc tiền hiền có công khai phá vùng đất này . mỗi lần đi ngang đây tôi nhớ lắm mấy đứa bạn ngày xưa , giờ đây mỗi đứa trôi dạt khắp nơi , tôi thầm nghĩ nếu cho thời gian trở lại chắc mấy đứa nhóc tụi tôi thế nào cũng có ngày đi “Coi cọp”.

Hai Hùng SG

Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 04/Jun/2016 lúc 2:49pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 31/May/2016 lúc 10:49am

Con Người Có Số 


Tên hắn là Khải. Hắn học với tôi năm lớp 11 tại trường Tân Phương, Gò Vấp. Nhà hắn ở trại định cư Cái Sắn nằm giữa hai tỉnh Long Xuyên và Rạch Giá. Hình như bố mẹ hắn có quen với một ông trùm họ đạo ngày trước cũng ở Cái Sắn, sau lên Sài Gòn, trông coi giúp Cha sở ở nhà thờ Ngã năm Bình Hòa, Gia Định.

Rồi hắn lên Sài Gòn, nhờ ông trùm đó xin với Cha cho ở nhờ ngoài hành lang nhà thờ, làm người kéo chuông, trông coi, quét dọn… để có chỗ ăn ở, đi học. Cha thấy hắn ngoan ngoãn, lễ phép, nhất là trước đây lại cùng họ đạo với ông trùm nên rất vui lòng.

Lúc ấy, tại Xóm Gà Gia Định có trường Tân Phương của ông Phan Ngô mới mở, dạy tới lớp Đệ Nhị (tức lớp 11 bây giờ). Cha nói với ông Phan Ngô xin cho hắn học miễn phí để chuẩn bị đi thi Tú tài I. Phần vì trường mới mở đang cần học sinh, phần vì nể lời Cha nên ông Phan Ngô cũng đồng ý. Ngoài ra, Cha thấy hắn ham học ngoại ngữ, giỏi tiếng Anh nên mỗi tháng cho tiền hắn học thêm Anh văn cao cấp ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi, Tân Định.

Như vậy, ngoài việc học ở trường Tân Phương vào các buổi sáng, cứ đến buổi chiều, mỗi tuần ba lần, hắn cuốc bộ từ Gia Định lên Tân Định để học tại Hội Việt Mỹ. Cha cũng thích ngoại ngữ, buổi tối hắn thường chỉ dẫn thêm tiếng Anh cho Cha.

Trường hợp tôi thì lại khác. Nhà tôi cũng nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt nhưng tôi thi đậu hạng nhì vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) trường Nguyễn Trãi nên được học bổng, mỗi tháng 300 đồng, tương đương với một chỉ vàng lúc bấy giờ, việc sách vở, học hành đỡ phải lo lắng.

Ba năm sau, khi bắt đầu lên đến lớp Đệ Ngũ (lớp 8), tôi và hai bạn khác trong lớp rủ nhau “học nhảy” : Trường Nguyễn Trãi lúc đó chưa có cơ sở nên phải học nhờ tại trường Tiểu học Đa Kao ở số 94 đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tất cả các lớp đều học buổi chiều, còn buổi sáng thì học sinh trường Đa Kao học.

Buổi sáng được nghỉ, ba đứa chúng tôi đóng học phí học lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường Cộng Hòa của giáo sư Phạm Văn Vận ở đường Pasteur để thi Trung học Phổ thông, nếu đậu sẽ sớm được một năm, cái đó kêu là “học nhảy”. Nhà nghèo, nên dù học thêm lớp Đệ Tứ trường tư nhưng tôi vẫn tiếp tục học lớp Đệ Ngũ trường công để được học bổng và đề phòng nếu rớt Trung học thì vẫn có chân trong trường công.

Cuối năm ấy, cả ba đứa chúng tôi đều đậu Trung học, rồi thi vào lớp Đệ Tam (lớp 10) trường Hồ Ngọc Cẩn, tức lại trở lại trường công. Tôi đậu hạng 5 trong số 52 học sinh thi đậu, hơi thấp, không được học bổng vì Bộ Quốc gia Giáo dục chỉ cho mỗi lớp có 3 người, từ hạng 1 tới hạng 3. Hai anh bạn yên tâm học lớp Đệ Tam tại Hồ Ngọc Cẩn, còn tôi, nhảy được một năm nhưng mất học bổng, tôi ân hận lắm.

Đúng lúc ấy ông Phan Ngô mở trường Tân Phương có tới lớp Đệ Nhị (lớp 11 bây giờ – thời đó trường tư chưa trường nào có lớp Đệ Nhất, học xong lớp Đệ Nhị, đậu xong Tú tài I được quyền xin vào Đệ Nhất trường công, bắt buộc trường công phải nhận, thời ông Diệm là như thế, rất ưu tiên cho học sinh).

Ông Phan Ngô là hiệu trưởng trường Tân Thịnh ở đường Đinh Công Tráng, Tân Định. Người em con chú con bác với ông là ông Phan Thuyết làm giám đốc. Trường dạy giỏi, nổi tiếng nên rất đông học sinh. Nhưng không hiểu hai anh em có chuyện xích mích gì đó nên bán trường, ông Phan Thuyết về mở trường Đạt Đức ở Phú Nhuận, còn ông Phan Ngô mở trường Tân Phương ở Gò Vấp.

Ông cho người phát quảng cáo, mời học sinh thi cũng gọi là học bổng vào lớp Đệ Nhị nhưng khác với học bổng của Bộ Quốc gia Giáo dục là lấy 3 người, người hạng nhất và hạng nhì được miễn học phí, người hạng ba được giảm 50%, còn những người khác thì được cứu xét, nếu nghèo sẽ được giảm. (“Học bổng” của nhà nước Việt Nam hiện nay cũng vậy, chỉ được miễn hay giảm học phí chứ không có tiền. Sinh viên học giỏi mà nghèo thì có thể vay, tối đa mỗi tam cá nguyệt được 400 ngàn đồng tức khoảng 20 đô-la Mỹ, một năm được 1.6 triệu, tức 80 đô-la, sau khi tốt nghiệp, đi làm sẽ phải trả lại). Học sinh thi khá đông. Tôi lại đậu hạng nhì nên được miễn học phí.

Vào học lớp Đệ Nhị trường Tân Phương, tôi quen với hắn rồi dần dần hai đứa trở thành thân thiết với nhau.
Tôi chưa từng thấy một người bạn nào nghèo như vậy. Ngày nào đi học hắn cũng mặc một bộ đồ duy nhất : chiếc áo sơ mi cũ màu cháo lòng có hai miếng vá, một miếng ở lưng, một miếng ở vai; chiếc quần ka ki cũng cũ, vá một miếng lớn ở mông. Có lẽ hắn tự vá lấy bằng chỉ đen, đường chỉ vụng về trông thô kệch chẳng ra sao cả. Chân hắn đi đôi dép Nhật mòn vẹt, sứt mẻ, một quai màu xanh, một quai màu đỏ, cột bằng dây kẽm. Có lần tôi hỏi sao hai quai dép lại bên xanh bên đỏ ? Hắn cười, hơi mắc cỡ : “Tại mình nhặt được trong thùng rác ấy mà. Nó bị đứt, họ vứt đi, mình kiếm được hai cái quai cột vô đi tạm chứ chẳng lẽ đi học lại đi chân không”.

Hắn nghèo, cả lớp ai cũng biết nhưng ai cũng thông cảm, chẳng ai chê cười. Nhất là các chị, nhiều khi giấm giúi cho hắn tiền uống nước. Ngày tết, trường tổ chức cắm trại, thi đấu bóng chuyền và văn nghệ ở trong sân, mỗi lớp có một cái quầy nho nhỏ cung cấp bánh mì, kẹo bánh và nước ngọt cho lớp của mình. Mỗi bạn trong lớp đóng mỗi người 10 đồng, hắn không có tiền, định không tham dự, các chị bàn nhau không bắt hắn đóng.

Cuối năm ấy, lớp chúng tôi có 51 người, thi đậu ngay trong khóa 1 là 13 người, trong đó có tôi và hắn. Tỉ lệ như vậy là khá cao, bởi vì thi tú tài thời đó rất khó, trường tư giỏi lắm cũng chỉ đậu khoảng 10% là cùng, đằng này đậu tới hơn 25%. Thầy Phan Ngô mừng lắm, thầy nói : “Trường Tân Phương là nhứt, không khác gì trường Tân Thịnh ngày trước”.

Sau khi đậu xong Tú tài phần I, các bạn người Nam thì đa số nộp đơn vào học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Petrus Ký, còn tôi và hắn là người Bắc nên nộp đơn vào trường Chu Văn An. Tôi từ trường công lại trở lại trường công, “nhảy” được hai năm. Còn hắn, có sự tiến bộ : ông trùm nhà thờ Ngã năm Bình Hòa cho hắn mượn một chiếc xe đạp cũ. Hội Phụ huynh học sinh Chu Văn An cứu xét, thấy hắn nghèo, cho hai kỳ học bổng, mỗi kỳ 500 đồng và một bộ quần áo may sẵn, hơi ngắn.

Cuối năm ấy, đậu xong Tú tài phần II, tôi thi vào Đại học Sư Phạm còn hắn thì thi vào trường Kỹ sư Phú Thọ nhưng rớt. “Cậu ngốc lắm, giá thi Sư Phạm với tớ có lẽ đã đậu, thi Kỹ sư Phú Thọ khó muốn chết, tớ không dám nghĩ đến”. “Tại tớ thi ngành Điện nên mới rớt chứ giá thi Công chánh hay Công nghệ thì đỡ hơn”.

Hắn rớt, đáng lẽ bị kêu đi sĩ quan Thủ Đức nhưng có người anh cũng đã ở trong quân đội nên được hoãn. “Tớ phải về Cái Sắn làm giấy tờ nộp hồ sơ hoãn dịch cậu ạ”. “Hoãn thì được rồi nhưng làm sao có tiền đi xe ?”. “Cha có cho. Cha dặn làm giấy tờ xong, nhớ lên xem người ta có cho thi vào ngành nào thì thi chứ không lại lỡ mất một năm học”.

Hôm lên, hắn đến nhà tôi chơi và hỏi những ngày hắn về Cái Sắn, ở Sài Gòn họ có cho thi gì không. Tôi nói Tổng nha Cảnh sát ra thông cáo cho thi lấy 50 người vào học khóa Biên tập viên cảnh sát, học bổng mỗi tháng cũng 1,500 đồng giống như Đại học Sư phạm và Quốc gia Hành chánh.
– “Biên tập viên cảnh sát là làm gì ?”.
– “Tớ không rõ, họ nói cũng học 3 năm, ra làm phó quận cảnh sát”.
– “Được đấy, có lẽ tớ sẽ nộp đơn thi Biên tập viên cảnh sát”.

Thời chúng tôi, con nhà nghèo, thi vào ngành nào thì phải nhắm có học bổng chứ nếu học những trường không có học bổng như Y khoa, Dược khoa, Luật, Văn khoa, Khoa học v.v…, tuy không phải thi tuyển nhưng không có tiền ăn học suốt bao nhiêu năm.

Giữa lúc hắn đang lo làm đơn thi Biên tập viên cảnh sát thì có tin Bộ Quốc gia Giáo dục ra thông cáo, Cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO cho hai học bổng, một thi tiếng Anh, du học tại Mỹ, một thi tiếng Pháp, du học tại Pháp hay Thuỵ Sĩ gì đó, tất cả mọi khoản đều do Liên Hiệp Quốc đài thọ, học tiến sĩ kinh tế, sau này sẽ ra làm cho Liên Hiệp Quốc, giúp đỡ các nước nghèo.
– “Cậu đã biết tin đó chưa ?”.
– “Chưa, tớ không biết gì hết, nhà thờ đâu có radio mà nghe. Cậu có nộp đơn không ?”.
– “Không, Tú tài II tớ đậu Bình Thứ chứ đâu phải hạng Bình như cậu. Họ bắt phải từ hạng Bình trở lên mới được thi”.

Thời chúng tôi, thi tú tài I hay tú tài II, kết quả thi đậu có 5 hạng gọi theo tiếng Pháp : đậu thường gọi là hạng Thứ (P***able); trên Thứ là Bình Thứ (***ez Bien); trên Bình Thứ là Bình (Bien); trên Bình là Ưu (Honorable); rồi đến Tối Ưu (Très Honorable) là hết mức, môn nào cũng phải đạt tối đa khoảng 20 điểm. Hắn đậu Bình, cao hơn tôi một bậc.
– “Nộp thì nộp vậy thôi chứ cả Anh văn lẫn Pháp văn mới lấy có hai người, khó lắm, chắc tớ không đậu được đâu”.
– “Biết đâu đấy, cứ nộp đơn đi, may mà giờ vinh quang đã điểm thì bọn cắc ké nghèo mạt rệp như tụi mình cũng ngon lành ra phết”.
– “Vậy tớ nộp đơn cả bên UNESCO lẫn bên Biên tập viên cho chắc ăn”.

Hắn nộp đơn xong, khoảng hai tháng sau thì dự cuộc thi của UNESCO. Hắn kể rằng, đợt thứ nhất, hơn 200 người cả Anh văn lẫn Pháp văn, thi viết, loại bớt còn 50 người. Đợt thứ nhì, 50 người lại loại lần nữa, còn lại 10 người trong đó còn có hắn. Rồi 5 người trong nhóm Anh văn bọn hắn vào “sát hạch” tại tòa đại sứ Mỹ, còn 5 người nhóm Pháp văn thì sát hạch tại tòa đại sứ Pháp hay Thuỵ Sĩ, hắn không để ý.

Hắn kể, giám khảo nhóm Anh văn của hắn gồm ba giáo sư, một ông người Mỹ, một ông người Canada, một ông người Úc hay Tân Tây Lan gì đó hắn không biết rõ, tất cả đều nói tiếng Anh.
Họ thay đổi nhau quay hắn về tình hình kinh tế các nước trên thế giới, về vai trò của một nhà kinh tế học đối với các nước nghèo như ở châu Phi chẳng hạn.

Cuối cùng, vị giáo sư người Úc hay Tân Tây Lan hỏi hắn quê ở đâu, cha mẹ làm nghề gì, từ nhỏ tới lớn sống như thế nào…, hắn nói thật rằng quê hắn ở Nam Định, di cư vào Nam năm 1954, ở trại định cư Cái Sắn thuộc tỉnh Long Xuyên, bố mẹ hắn rất nghèo, làm nghề trồng cói và dệt chiếu ở Cái Sắn, còn hắn thì kéo chuông và hầu hạ trong Nhà thờ Bình Hòa để có chỗ ăn học.

Tất cả ba vị giám khảo đều trợn tròn mắt, không ngờ một học sinh được vào chung kết của một cuộc thi quan trọng như vậy mà gia đình lại nghèo đến thế. “Dám cậu thắng mấy người kia nhờ cái nghèo của cậu lắm ạ ! Người Tây phương họ có cái nhìn khác lắm, sẵn sàng ưu tiên cho người nghèo nếu thấy thực sự đó là người giỏi chứ không khinh bỉ người nghèo như bên Việt Nam mình”.
– “Tớ cũng hy vọng như vậy. Trông nét mặt ba vị giám khảo thấy họ có vẻ có cảm tình với tớ lắm. Nhưng thôi, kệ, muốn đến đâu thì đến. Tớ cam đoan với cậu thi Biên tập viên cảnh sát tớ đậu là cái chắc. Làm phó quận trưởng cảnh sát cũng bảnh ra phết !”.

Trong khi tâm sự, hắn kể với tôi rằng bữa đi mua giấy tờ lập hồ sơ thi du học, hắn mua ở tiệm sách Thanh Trúc gần Ngã tư Phú Nhuận. Cô con gái bà chủ cỡ chừng 15 – 16 tuổi, xinh lắm và rất tốt bụng. Thấy hắn vét túi mà vẫn không đủ tiền trả, cô ta cười rồi cho luôn, không tính một đồng nào cả.
– “Cô bé cỡ 15 – 16 tuổi, vậy là cô em. Cô chị lớn hơn, khoảng 17 – 18 tuổi, mặt tròn, cũng đẹp nhưng không xinh bằng cô em”.
– Ủa, thế cậu cũng biết tiệm đó?”.
– “Biết chứ, tớ là dân Phú Nhuận mà, vẫn mua sách ở tiệm đó”.

Tôi kể cho hắn nghe bà mẹ còn tốt hơn nữa. Hồi tôi được phần thưởng cuối năm ở trường Tân Phương, trong số các cuốn sách lãnh thưởng có cuốn Triết Học Nhập Môn của tác giả gì tôi quên mất tên. Cuốn sách đó nghiên cứu về triết học nói chung chứ không phải sách lớp Đệ Nhất dạy về triết học để đi thi tú tài II. Tôi đem đến tiệm Thanh Trúc nhờ bà chủ đổi cho cuốn Luận Lý Học của tác giả Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa, giáo sư triết trường Chu Văn An.

Bà coi qua cuốn sách của tôi rồi cười : “Sách người ta tặng cho các trường để phát phần thưởng thường là sách khó bán nên họ mới tặng. Tiệm tôi không bán loại này. Nhưng thôi, cậu được phần thưởng như vậy là quý, muốn đổi thì tôi cũng đổi để cậu may mắn, năm tới thi đậu. Một vài cuốn sách chẳng đáng bao nhiêu…”.

Cuốn Luận Lý Học của giáo sư Trần Bích Lan đắt hơn cuốn Triết Học Nhập Môn một chút nhưng bà chủ tiệm cũng cho luôn, không bắt trả tiền chênh lệch. Tôi kết luận rằng bà mẹ tốt bụng như thế nên các cô con gái cũng tốt là một chuyện thường.

Hắn thở dài, nét mặt hơi buồn : “Nhà họ giàu, tiệm sách có tới mấy tầng lầu ở ngoài mặt đường, còn mình thì nghèo rớt mồng tơi không đáng xách dép cho họ. Tớ nói thật, nếu tớ được học bổng đi du học bên Mỹ kỳ này, đậu xong tiến sĩ tớ sẽ trở về, quỳ xuống dưới chân cô ấy, nói với cô ấy rằng nhờ cô cho giấy tờ lập hồ sơ nên tôi mới được du học, không bao giờ tôi dám quên ơn cô…”.

Tôi bật cười : “Cậu ngốc thấy mẹ, nếu đậu thì đến báo tin từ trước khi đi cho người ta còn chờ đợi chứ đậu xong tiến sĩ, hàng chục năm trời, họ lấy chồng mất tiêu rồi thì lúc ấy có ngồi mà khóc !”.
– “Ừ há, mình cũng ngu thật. Nhưng biết họ có đợi hay không ?”.
– “Tại sao lại không ? Vấn đề là cậu có thắng được mấy người kia hay không chứ nhà giàu thì họ khôn lắm, họ dư biết giá trị của một thằng học sinh nghèo được học bổng du học bên Mỹ”.
Và tôi nói thêm : – “Ngoài ra, sang đấy ăn ở ra sao, học hành thế nào cậu luôn luôn viết thư về cho em chứ đâu phải như Kinh Kha sang Tần, một đi là không trở lại”.
– “Ờ há, vậy mà tớ không nghĩ ra, tớ phải ghi địa chỉ tiệm sách nhà em mới được”.

Thế rồi hắn đậu thật, hơn 200 người, lấy có 2 người, khó chứ không phải dễ. Tội nghiệp, trước khi đi hắn vẫn còn nghèo bởi vì sang bên ấy, vào học trường nào rồi người ta mới trả lại tiền vé máy bay và bắt đầu cho lãnh học bổng chứ không phải họ đưa trước.

Mọi thứ chi phí như mua sắm va-li, giày dép, quần áo mặc trong mùa lạnh, kể cả tiền vé máy bay v.v… đều là của Cha (LM) cho. Cha còn nói hôm hắn đi, Cha bận không đưa tiễn được nhưng sẽ cho tài xế chở hắn ra phi trường.
– “Rồi ông cụ bà cụ cậu ở dưới Cái Sắn có lên không ?”.
Hắn lắc đầu, vẻ mặt buồn buồn :
– “Không, gia đình tớ nghèo lắm, không có bà con anh em gì ở trên này. Bố mẹ tớ nói lên đây vừa tốn tiền lại vừa làm phiền Cha, không có chỗ ở chẳng lẽ lại ở nhờ Cha trong nhà thờ”.

Tôi tưởng tượng ra cảnh hôm hắn đi, chắc chỉ có mình tôi và người tài xế của Cha đưa hắn ra phi trường. Nhưng ra đến đấy người tài xế sẽ quay trở lại chứ đâu có tiễn làm gì, chung quy chỉ có mình tôi mà thôi.
– “Cậu đã đến từ biệt cô bé chưa ?”.
– “Có, tớ có đến nhưng cô ấy mắc đi học, chỉ gặp bà mẹ. Tớ kể cho bà ấy nghe chuyện cô bé cho giấy tờ làm đơn, nhờ đó tớ mới được du học, tớ đến chào từ biệt và gửi lời nhờ bà cám ơn cô bé giùm”.
– “Bà ấy có nói gì không ?”.
– “Có, bà ấy xuýt xoa, thế ạ, quý hóa quá nhỉ, tôi không biết gì hết chứ nếu biết tôi đã mời cậu đến nhà dùng bữa cơm thân mật. – Bao giờ cậu đi ? – Dạ, thưa sáng mai. – Sáng mai, sớm vậy sao ? Vậy là không kịp rồi, cậu không đến đây từ trước. Bà ấy tiếc lắm. Tớ cám ơn bà ấy rồi đi…”.
– “Đó, cậu thấy chưa, tớ đã nói nhà giàu, nhất là một tiệm sách quen với chữ nghĩa, họ không dại gì mà không biết giá trị của con người”, và tôi giục :
– “Cậu đến nữa đi, phải gặp cô bé bằng được và dặn cô ấy chờ đợi, học xong cậu sẽ trở về”. Hắn lắc đầu :
– “Không dám đâu, đến sợ lại gặp bà ấy nữa tớ mắc cỡ lắm. Dù sao cô ấy cũng hãy còn nhỏ…”.
– “Trời đất ơi, 15-16 tuổi mà nhỏ cái gì ! Sang đấy cậu phải học cử nhân, cao học, tiến sĩ, ít nhất cũng 8 năm nữa. Lúc ấy cậu khoảng 28, cô bé 24, chả nhỏ một tí nào cả”.
Hắn khẽ thở dài :
– “Nói thật với cậu, từ bé tới lớn tớ khổ sở quá nên không dám nghĩ tới chuyện cao xa. Trước khi ra đi, tớ chỉ mong được nhìn thấy cô ấy một lần, được nghe thấy cô ấy nói một tiếng là sung sướng lắm rồi. Sang đấy tớ sẽ cố gắng học hành để đền đáp ơn nghĩa cô ấy…”.

Thật kỳ cục, có đáng gì đâu mấy tờ sơ yếu lý lịch, mấy tờ mẫu đơn tiếng Việt phải dịch sang tiếng Anh để nộp cho cơ quan UNESCO mà tên bạn tôi lại đặt nặng vấn đề đến thế?

Nếu cô bé không xinh xắn, tính tình không vui vẻ và không có lòng thương người thì hắn có mê cô ta đến mức đó hay không?
Tưởng tượng tới cảnh hắn lên máy bay chẳng có ai đưa tiễn, tôi nghĩ ra cách là ngay buổi chiều hôm đó đến tiệm sách kể hết mọi chuyện với bà mẹ. Có cả cô bé cũng có ở đấy. Nghe tôi kể, cô chỉ cúi mặt mỉm cười, hai gò má ửng hồng còn bà mẹ thì rất chú ý.

Cuối cùng, bà cười dễ dãi: “Hồi sáng cậu ấy có đến đây, tôi có biết mọi chuyện. Ý cậu là muốn nhờ em Trúc đi tiễn cậu ấy giùm phải không?”.
“Vâng ạ”.
“Mấy giờ thì cậu ấy lên máy bay?”.
“Dạ thưa 11 giờ 30, nhưng phải đến sớm ít nhất 2 tiếng đồng hồ để nó còn vào làm thủ tục”.
“Có, tôi biết. Sáng mai Chủ nhật em Trúc đi được. Vậy khoảng 8 giờ 30 cậu đến đây đi cả với em cho vui. Chắc có em Thanh cũng đi nữa”.
Tôi đoán Thanh là tên người con gái lớn của bà.
“Dạ, vâng ạ”.
Cô bé vẫn cúi mặt cười, tay cầm cây bút Bic không mở nắp vẽ vẽ bâng quơ trên mặt tủ kính quầy hàng cho đỡ mắc cỡ, chắc cô cũng quên không nhớ mặt hắn.
Sáng hôm sau, tôi đến. Hai cô con gái mặc juýp theo kiểu đơn giản thời đó, cô lớn juýp trắng, cô bé juýp hồng nhưng cũng rất đẹp.
Nhất là cô chị, cô có thoa chút phấn hồng nên lại càng đẹp, tôi nghe đâu đây thoang thoảng mùi thơm của phấn son hay của hương trinh nữ?
Ôi chao, đời đẹp quá, tôi, một thằng sinh viên bắt đầu học năm thứ nhất ĐHSP, nhà nghèo, mẹ làm thợ dệt nhưng đứng bên cô, ngửi mùi hương ngan ngát đó tôi vẫn thấy đời đẹp như thường.
Chắc cô cũng có cảm tình với tôi, thấy trong lúc đợi xe taxi, cô đứng sát bên cạnh tôi. Bà mẹ tiễn ra tận vỉa hè. Bà đưa tiền cho cô lớn: “Đây, tiền đây, nhớ trả tiền cho anh, đừng để anh trả nghe con!”. Cô không cầm, giọng con gái Bắc ngọt như mía lùi: “Con có rồi mẹ!”.
Chúng tôi đến. Hắn đang đứng một mình bên cạnh chiếc va-li hơi cũ, có lẽ của Cha cho mượn và một chiếc túi xách để trên mặt chiếc va-li đó.

Thấy chúng tôi tới, hắn cứ ngớ ra coi bộ hết sức ngạc nhiên. Tôi cười, giới thiệu:
- “Đây là cô Thanh, chị của cô Trúc. Còn đây là cô Trúc, người bạn vẫn nhớ ơn đó. Các cô thân hành ra đây tiễn bạn...”. Hắn không ngờ mình được hân hạnh đó nên lúng túng như gà mắc giay thun, mỉm cười khẽ gật đầu chào. Các cô chào lại. Cô chị nói:
- “Chúng em đến tiễn anh, chúc anh lên đường mạnh giỏi. Thỉnh thoảng anh nhớ viết thư về cho Trúc”.
- “Vâng, cám ơn các cô, thế nào tôi cũng phải viết”.
Tôi cười:
- “Được viết thư cho người đẹp sướng thấy bố rồi lại còn phải viết với không phải viết. Sao nào, nếu học xong tiến sĩ kinh tế, có trở lại thăm cô Trúc không nào?”.
Hắn cười, mặt đỏ bừng, bây giờ tôi mới thấy hắn nói được một câu có thể coi là thông minh:
- “Có chứ, đó là mơ ước lớn nhất trong đời mình, nếu hai cụ nhà cho phép và cô Trúc sẵn sàng chờ đợi”. Cô chị hỏi: “Học tiến sĩ thì mất chừng bao lâu hả anh?”.
Hắn nói: “Khoảng chừng 8 năm, sớm nhất cũng phải 6 năm. Bên Mỹ nếu cố gắng vẫn có cách học vượt thời gian như vậy. Bên mình thường thường là phải 10 năm...”.
Cô chị nói:
 - “Lúc ấy Trúc mới 22 hay 24 tuổi, còn sớm chán”.
Tôi cười, nói đùa:
 - “Sao, ‘cô bé đẹp’, có đợi được không thì cho biết ý kiến?”.
Cô bé chỉ cúi mặt cười, không nói gì cả. Tôi hỏi gặng quá bắt buộc cô phải trả lời:
“Dạ được”. 
“Được thì ngoéo tay đi, hắn là dân Công giáo, đã nói là sẽ giữ lời, có tôi làm chứng!”.
Cô chị cười: “Em cũng làm chứng luôn”.
Mọi người cùng cười, hắn đã bạo dạn nên đưa tay ra ngoéo tay cô bé khiến cô đỏ mặt nhưng cũng ngoéo lại.

Trời đất ơi, phải chi tôi được ngoéo tay cô chị nữa thì đỡ quá! Nhưng nhà tôi nghèo, mẹ tôi làm thợ dệt, tôi 20 tuổi, còn cô thì khoảng 18 tuổi, kém tôi 2 tuổi, làm sao tôi có điều kiện lấy vợ trong lúc còn đang đi học mặc dầu cô cũng có vẻ quý mến tôi, luôn luôn đứng sát cạnh tôi.

Cuộc tiễn đưa chỉ có thế. Ba năm sau, tôi tốt nghiệp, đi dạy. Thời đó chúng tôi học Đại Học Sư Phạm theo régime 3 năm, các ban khoa học đều phải học bằng tiếng Pháp, thi cử cũng bằng tiếng Pháp. Sau khóa của tôi thì được đổi sang régime 4 năm và đã được chuyển ngữ, học bằng tiếng Việt. Ngoài ra, thời đó các trường trung học đệ nhị cấp dạy tới lớp 12 rất ít, ở các tỉnh lớn mới có, nên tôi đậu hạng 5 mà phải đi xa, Bạc Liêu cách Sài Gòn gần 300 cây số, vài tháng lễ, tết mới về nhà một lần.

Có lẽ cũng đến 5-6 năm, một lần tôi về, thấy trên mặt bàn có tấm thiệp của hắn làm đám cưới với Thanh Trúc. Hai chị em nhà đó có cái lạ là cô em tên Thanh Trúc, cô chị tên Trúc Thanh, ngược lại với nhau.

Phong bì bên ngoài đã có vẻ cũ, bám bụi. Tấm thiệp bên trong đề ngày cưới cách đấy đã hơn hai tháng. “Thằng Khải nó về rồi hở mẹ?”. “Ừ, cậu ấy về, nghe đâu đã đậu tiến sĩ, về làm đám cưới với cô con gái tiệm sách ở gần ngã tư Phú Nhuận. Cả hai cô cậu ấy đến chơi, đem thiệp cưới đến mời anh nhưng tôi nói anh dạy học ở mãi Bạc Liêu, chắc không về kịp. Cậu ấy nói cưới xong sẽ đưa cô ấy sang Mỹ, bao giờ có dịp về sẽ gặp anh sau”. Thời chúng tôi, người Việt ở bên Mỹ rất ít, nên họa hoằn lắm, hễ có ai về Việt Nam cưới vợ thì sau khi cưới xong, đem đi rất dễ chứ không khó khăn, phải làm đủ thứ giấy tờ bảo lãnh mới được đi như bây giờ. Cái thằng đó giỏi thật, lúc nó ra đi thì tôi bắt đầu vào Sư Phạm, học xong 3 năm, đi dạy 6 năm, tức mới 9 năm mà nó đã đậu đạt, đi làm, để dành được tiền về cưới vợ, giỏi thật. Tôi rất phục nó.

Thế rồi tôi được đổi về trường Trung học Dĩ An, Biên Hòa, cách Thủ Đức khoảng 10 cây số.

Năm năm sau, 1975, miền Nam sụp đổ, các giáo viên – giáo sư trung học bây giờ gọi là giáo viên – của 7 trường thuộc hai huyện Dĩ An và Lái Thiêu chúng tôi phải đi cải tạo tại K4 Long Khánh. Người cán bộ giáo dục về tiếp thu các trường thuộc hai huyện đó thấy người ta cách ly các sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát thuộc hai tỉnh Bình Dương và Biên Hòa tại hai trường An Mỹ và Trịnh Hoài Đức, có du kích gác, rồi sẽ đưa đi học tập cải tạo thì bắt các nam giáo viên chúng tôi đi học tập cho... có tinh thần yêu nước vậy thôi. Hơn sáu tháng trời cải tạo tại K4 Long Khánh, tôi suýt bỏ mạng tại đấy. Bởi vì cơ thể tôi ưa lạnh chứ không ưa nóng. Cứ hễ trời nóng là tôi ho rũ rượi, ở nhà thường uống Terpin-Codein, một thứ thuốc rất rẻ do Việt Nam chế tạo. Đi học tập, trong trại không có thuốc men, lại ăn uống kham khổ nên tôi ho liên tục, ban đêm không ngủ được, thân hình gầy xác như con cá mắm.

Sáu tháng sau, các giáo viên được thả về. Sài Gòn buồn thê thảm và nghèo không thể tưởng tượng nổi. Mẹ và em gái tôi nói chuyện người ta đánh tư sản mại bản (nghĩa là tư sản mất gốc), các tiệm lớn ở Phú Nhuận bị tịch thu nhà cửa, hàng hóa, gia đình bị đuổi đi kinh tế mới, tiếng khóc như di.

Còn ở Chợ Lớn, các tiệm người Tàu sợ quá, ném những cây vải còn nguyên cả xấp và các đồ đạc xuống đường, kệ ai muốn nhặt thì nhặt nhưng chẳng ai dám nhặt.
Em tôi kể thêm: “May hồi trước anh Khải về làm đám cưới với cô con gái thứ hai tiệm sách Thanh Trúc rồi đưa cô ấy sang Mỹ chứ không thì bây giờ bị kẹt, tiệm đó bị đánh, muốn cưới cũng chẳng được”.
Tôi ngạc nhiên:
“Sao, tiệm sách Thanh Trúc cũng bị đánh? Người ta bán sách chứ có làm gì đâu mà đánh?”.
“Có, cả nhà may Bảo Toàn cũng bị đánh, tiệm bị tịch thu, nghe đâu người ta đuổi ông bà ấy lên cái gác xép nhỏ tí mãi tuốt tầng ba trên lầu, bây giờ nghèo lắm”.

Bảo Toàn là nhà may lớn nhất Phú Nhuận, trước đây tôi thường may quần áo ở đấy nên cũng khá quen, ông bà Bảo Toàn rất tốt, đối đãi với khách hàng rất niềm nở, ân cần.

“Tiệm sách Thanh Trúc còn một cô con gái lớn nữa tên là Thanh. Cô có nghe nói gì về cô con gái lớn đó không?”.
“Họ nói cô ấy lấy chồng, có bầu, nhà chồng là một tiệm vàng cũng ở gần đấy.
Hôm đánh tư sản, cả hai tiệm bị tịch thâu, cô ấy buồn quá định tự tử nhưng người ta cứu được...”.

Miệng tôi đắng ngắt. Tôi nhớ đến hôm tiễn Khải ra phi trường, có cả cô chị cùng đi, cô thường đứng sát bên cạnh tôi, cái mùi son phấn thơm thơm sang trọng tôi không thể nào quên được.

Rồi chúng tôi được Ty Giáo dục Sông Bé – Dĩ An trước thuộc Biên Hòa, bây giờ thuộc tỉnh Sông Bé – cho đi học tập chính trị hè sau đó cho đi dạy lại. Nghèo lắm. Lương tôi trước 63 ngàn, bây giờ chỉ còn 41 đồng, nghèo không chịu nổi.
Rồi tôi lấy vợ. Nhà tôi cũng dạy cùng trường nhưng môn Anh văn, tốt nghiệp ĐHSP sau tôi 6 năm. Năm ấy tôi 32 tuổi.

Lương của hai vợ chồng cộng lại chưa đầy 80 đồng. Nhà tôi dạy thêm Anh văn buổi tối cho các học sinh gia đình sắp đi vượt biên hoặc được bảo lãnh. Còn tôi, lúc rảnh tôi dịch truyện bán cho các nhà xuất bản ở trên Sài Gòn, buổi tối giữ con cho vợ dạy học. Giáo viên chúng tôi anh nào cũng gầy như cò bợ, quần áo ngày trước mặc vừa, bây giờ rộng thùng thình, áo thì mặc được còn quần cài dây nịt dúm dím, mặc không được.

Một hôm tôi nghĩ ra cách là khi về nhà ở Phú Nhuận, Sài Gòn thì đem hai chiếc quần tây đến tiệm Bảo Toàn, leo lên cái gác xép tận trên lầu ba theo cái cầu thang bên cạnh, nhờ ông Bảo Toàn sửa lại giùm. Ông đo người tôi, xem kỹ hai chiếc quần tây rồi nói: “Sửa không được đâu. Bây giờ phải tháo hết các đường chỉ ra, ủi cho thẳng rồi cắt lại như cắt quần mới chứ sửa đâu có được”. Tôi hỏi giá cả, ông nói: “Ông là người quen, tôi tính ông mỗi chiếc ba đồng gọi là có thôi”.
Tôi mừng quá, cám ơn rối rít. Ông nói: “Ông thấy tôi khổ như vậy đó. Ngày trước tiệm tôi lớn nhất Phú Nhuận, ngay cả may đồ cho khách tôi cũng chỉ trông nom chứ đã có thợ, đâu phải nhúng tay vào. Bây giờ thì đi may lại chiếc quần, kiếm ba đồng bạc...”
“Hình như tiệm sách Thanh Trúc bên kia cũng bị đánh tư sản như bên tiệm bác?”.
“Có chứ, tiệm nào hơi có máu mặt một chút mà chả bị đánh. Họ bảo bán sách là toàn các thứ phản động, đáng lẽ họ đuổi đi kinh tế mới nhưng cô Thanh cô ấy tự tử, họ cho cả nhà ở tạm cái bếp ở phía đằng sau”.

Rồi ông nói thêm:
“Nhà bà ấy cũng bị tịch thu hết, nghèo lắm. May nhờ có vợ chồng cô Trúc ở bên Mỹ gửi quà về nên mới sống được”. Tưởng tôi không biết gì về vợ chồng Khải, ông kể:
“Nghe nói người chồng cô Trúc đậu tiến sĩ kinh tế, trước làm trong cơ quan Liên Hiệp Quốc, sau làm giáo sư dạy đại học tại California”.

Rồi ông kết luận:
Con người có số hay không tôi không biết, nhưng theo tôi nghĩ, câu chuyện giữa cô bé 16 tuổi tên Trúc và anh chàng học sinh nghèo tên Khải hơi giống chuyện cổ tích của một thời đã qua, nay khó có nữa.

Chuyện kể của Đoàn Dự
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Nhom12yeuthuong
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 13/Sep/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 7169
Quote Nhom12yeuthuong Replybullet Gởi ngày: 25/May/2016 lúc 10:15am
Quay lại miền ký ức


Trời về chiều mây tím giăng ngang, từng đàn chim nhỏ quay về tổ ấm sau một ngày đi kiếm ăn, hàng cây bên đường đang khoác lên mình những chiếc lá non xanh mơn mởn  trên cành  như để báo  hiệu cho cuộc đời biết rằng mùa xuân thật sự đang quay về .

                   ***

    Ngồi nơi dảy bàn được kê ngay ngắn ngoài sân của cái quán cà phê sân vườn, vừa nhấm nháp hương vị cà phê thứ thiệt vừa ngồi ôn lại những kỷ niệm vui buồn trong cuộc sống,  đang thả hồn và chìm đắm vào ngóc ngách của quá khứ, chợt phía sau tôi có tiếng hỏi :

  – Xin anh cho hỏi thăm đã mấy giờ rồi ạ!

  Tôi ngoảnh mặt lại rồi buộc miệng trả lời theo phản ứng tự nhiên .

  – kém năm là mười bảy giờ rồi em .

   Sau câu trả lời tôi nhìn về phía cô gái vừa lên tiếng hỏi, tôi giật thót mình vì cô gái này có gương mặt rất quen,tôi giật mình là vì gương mặt nàng ta giống y hệt một cô gái mà tôi từng gặp …

                          ***
Năm ấy khi những cơn mưa mùa hạ chấm dứt, tôi phải vào quân ngũ đếm nhịp quân hành như bao chàng trai thời ly loạn. Ba tháng quân trường mồ hôi đỗ ngày ra đơn vị cũng là ngày đánh dấu sự chia tay bạn bè đã cùng chia ngọt sẻ bùi trên thao trường, thời gian tuy không dài nhưng cũng đủ làm nên chất keo sơn khiến chúng tôi gắn bó thương yêu đùm bọc che chở lẫn nhau như anh em một nhà .

   Về đơn vị mới chúng tôi như những chú chim non mới ra ràng, tập tành bay nhảy để tồn tại trong môi trường gian lao nguy hiểm.

Chiếc GMC cũ kỹ già nua với màu xanh đã nhạt nhòa theo năm tháng, mỗi khi lên dốc cầu tiếng máy nó gầm rú và nhả từng đụn khói đen ngòm vào bầu trời xanh thẳm phía trên , nó đưa những chú “lính sữa” chúng tôi về đơn vị mới, xe chạy từ Gia định đưa chúng tôi vượt cầu xa lộ Sài gòn,  khi xe leo đến trên đỉnh cầu tôi phóng tầm mắt về phía xa xa, từng vạt dừa nước xanh thẩm mọc ven những con rạch phía bên kia sông Sài gòn trông như những con rắn khổng lồ đang vặn vẹo uốn mình đi tìm mồi, quanh đó những ruộng lúa chín vàng trải dài từ mép xa lộ vô tới phía bờ sông Sài gòn, nó đẹp tợ như tấm thảm khổng lồ được trải xuống để chào đón chúng tôi.

  Xe đỗ dốc chạy một mạch rồi quẹo vào ngã ba Cát Lái, đoạn đường từ đây vào Cát lái đi qua nhiều địa danh thân thương như ngã ba Giồng ông tố, Bình Trưng. Bưng ông Thoàng, cầu Võ khế, Ấp Mỹ Thủy, Cát lái , Thành Tuy Hạ…

    Tài xế chiếc GMC này một tay Lính hẳn còn trẻ anh ta chạy thật nhanh, đường liên tỉnh lộ nhỏ xíu xe máy xe lôi chạy dập dìu mà anh ta tránh né rất điệu nghệ nhưng đôi lúc cũng cho chúng tôi nhừ người vì những cái ổ gà trên đường, có đứa bị sốc đầu đập vào những thanh chắn ngang trên xe khiến nó buộc miệng rủa tài xế :

  – Cha nội này đúng là ngựa con háu đá, chạy chậm chậm thôi mắc gì chạy như ma đuổi vậy .

   Một đứa trong bọn chúng tôi trả lời thay cho tay tài xế :

  – Chịu khó vịn chắc đi tụi bây, nhiều khi chổ này mất an ninh ảnh sợ bị phục kích hoặc bắn sẻ gì đó nên vọt lẹ là đúng sách vở rồi .

  Thằng nọ dường như cơn đau hẳn còn  nên đỗ quạu đớp lại đứa kia liền:

  – Sách sách cái khỉ khô họ , ở đây sát nách Sài gòn mà sợ cái quái gì, chạy ẩu thì có .

  Thấy hai đứa vì lý do không đâu cãi nhau mất vui tôi ra tay can thiệp liền:

  – Hai ông ơi! Mới hôm kia lúc làm lễ mãn khóa hai ông còn bịn rin vậy mà hôm nay cãi nhau rồi, mỗi người nhịn một chút đi, ông bà mình nói :

  – Một câu nhịn chín câu cự , úi da lộn rồi chín câu lành mới phải .

    Cũng may sau câu can gián của tôi hai thằng nọ bắt tay làm hòa , chẳng mấy chốc chiếc xe đỗ xịch xuống ngay cầu Mỹ Thủy.

  Đây là chiếc cầu sắt dã chiến do công binh lắp đặt, thành cầu làm bằng những thanh sắt dầy chắc chắn được liên kết lại bằng những thanh chằng chéo bởi các con Bu loong thật to, mặt cầu được lót bằng những thanh gổ to như các thanh tà vẹt dã chiến của đường ray xe lửa, do gổ lát trên mặt cầu thưa khiến xe chạy rất dằn sốc mục đích hạn chế tốc độ khi xe  qua cầu cho an toàn , do cầu hẹp chỉ di chuyển được một làn xe nên đơn vị đồn trú bảo vệ cầu phải lập cái “Chuồng cu” phía đầu cầu hướng từ phía Cát Lái và cắt cử người vừa ngồi gác vừa có nhiệm vụ điều khiển cái bảng hiệu dừng xe cho mỗi một chiều lưu thông .

  Chúng tôi trình diện đơn vị một đại đội hành quân quanh vùng Từ Cát Lái đến ấp Bình Trưng , thỉnh thoảng phải tăng phái hành quân sang vùng Cầu Võ Khế và ấp Long Trường, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ cây cầu Mỹ Thủy cho thông suốt và đây là con đường độc đạo từ cảng Cát Lái ra xa lộ Sài gòn .

  Tôi còn nhớ như in sáng nọ đang ngồi gác trên cái “Chuồng cu”, thời bấy giờ xe cộ qua cầu cũng thưa thớt, họa hoằn lắm mới có đoàn công voa chở hàng hóa đi ngang thì điều khiển hơi vất vả, nên việc ngồi gác cũng như được ” Xả hơi” bù lại những ngày lội bưng biền hành quân gian khổ, là lính mới ra trường còn bở ngỡ và còn ảnh hưởng hơi hám của học đường nên tôi đem quyển sách ca rô có in hình bông hoa cho từng trang giấy để viết nhật ký để làm thơ khi có dịp về phép thăm nhà khoe với bạn bè em út cho vui nhà vui cửa .

  Thấy xe bên Cát Lái đã ngớt tôi liền xoay cái bảng cho phép xe từ phía xa lộ qua cầu, không ngờ bất chợt một chiếc Jeep lùn có bốn quân nhân Hoa kỳ ngồi trên xe cố tình nhấn ga vượt qua cầu gây nguy hiểm cho chiếc xe lôi đạp đang lên cầu, quá bất ngờ không kịp phản ứng nên tôi quyết định bắn chỉ thiên một phát khiến tài xế chiếc jeep thắng xe thật gấp, tôi nhoài người ra khỏi cái chuồng cu lấy tay chỉ vào cái bảng cấm lưu thông, khi ấy mấy anh Lính Hoa kỳ mới nhận ra lỗi của mình các anh cho xe de sát vào lề nhường chi chiếc xe lôi tiếp tục qua cầu, Khi cầu thông thoáng tôi xoay bảng lại và phất tay ra hiệu cho các anh lính Hoa Kỳ đi tiếp , chiếc xe jeep rú ga chạy nhanh đến chổ vọng gác tôi đang ngồi, tôi vẫy tay chào với thiện ý mong các chàng ta thông cảm sự việc vừa rồi, như hiểu ý các chàng cười rồi bổng dưng tôi thấy anh lính ngồi sau xe quăng một gói gì đó rớt ngay dưới chân tôi , điếng hồn sợ rằng phát súng cảnh cáo của tôi khi nãy đã làm các anh lính để tâm thù ghét nên họ liệng mìn hoặc chất nổ gì đó nhằm cho tôi đi thăm ông bà với cái tội dám giỡn mặt với đồng minh . Tôi nhòa người ra khỏi vọng gác và nhanh như sóc tôi lăn vài vòng núp vào mấy hàng bao cát bên dưới , không nghe tiếng nổ mà nghe tiếng cười đùa và tiếng xí xô xí xào gì đó của các anh lính nọ mà tôi chẳng hiểu họ nói cái gì .

  Tiếng xe Jeep chạy xa dần rồi mất hút, lúc này tôi mới hoàn hồn biết mình không bị ám sát như mình nghĩ, tôi lên vọng gác nhìn vào chổ gói đồ khi nãy, nó được bao bọc bởi lớp nylon đen dầy và thu hết can đảm mở ra xem, thật bất ngờ nào là Chocolate , bánh ngọt , sữa tươi , thuốc lá và đồ hộp hiện ra trước mắt tôi, thì ra các anh chàng này chuộc lỗi theo kiểu Mỹ đây, tôi vui mừng thu chiến lợi phẩm từ trên trời rơi xuống và ấn tượng tốt đẹp về cách xin lỗi hào phóng của các anh chàng nọ .

                             ***
Đến lúc chúng tôi phải di chuyển xuống gần Cát lái và nhường cây cầu lại cho đơn vị khác, khi ở cầu thì có đồn bót trú mưa nắng đỡ vất vả, bàn giao cho đơn vị bạn xong chúng tôi như những người (Di-gan) lang thang không nơi cố đinh.

     Đêm nọ chúng tôi vào đóng quân ngoài hàng ba của các căn nhà, nơi đây vùng thôn quê chuyên trồng những cây ăn trái cao rậm rạp, do nước sông Sài gòn gặp triều cường dâng cao có hôm nước ngập di chuyển tới lui phải lội bì bỏm trong làn nước mấp mé dưới chân, không khí ẩm thấp khiến chúng tôi rất khó chịu nhưng đã vào lính phải chấp nhận những nhọc nhằn gian lao, đang cột cái võng vào hai cây cột trước nhà dân, bất chợt có tiếng gầm gừ của chú chó bên trong nhà, dường như nó phát giác ra chúng tôi nó bắt đầu tru lên và sủa vang trời, đám chó của các nhà gần đấy bắt đầu hùa theo sủa nghe đinh tai nhức óc, quá bất ngờ chưa kịp phản ứng thì đèn trong nhà được bật sáng, ông chủ nhà một bác lớn tuổi dáng vạm vỡ cầm cái cây gậy tầm vong mở cửa ra nhìn, thấy đám lính chúng tôi ông đã hiểu vì sao đám chó làm dữ, với giọng thật hiền ông nói :

   – Mấy chú làm tui điếng hồn, tui cứ tưởng trộm đạo gì đó ai dè mấy chú, vô nhà vô nhà tui pha trà cho uống, có bộ ván kia và mấy cây cột trong nhà mấy chú giăng võng ngủ tránh sương tránh gió .

  Nói xong ông mau mắn ra phía sau nhà nhóm lửa nấu nước pha trà, vợ chồng bác Hai chủ nhà thật tử tế, không ngại đã cho chúng tôi vào nhà tá túc qua đêm, đã vậy ông còn kêu bà Hai nấu một nồi chè đậu xanh với hột vịt thật to đãi chúng tôi ăn thật ngon, đang húp từng muỗng chè ngon ngọt thì bên ngoài có cô gái tướng cao mặc trên người bộ đồ bà ba thật dễ thương bước vào, cô gái có gương mặt dễ nhìn và thật hiền nhất là đôi mắt thật đẹp khiến mới chạm mắt cô ta lần đầu cũng đủ làm tôi bối rối vô cùng

                        ***
Cũng may khi chúng tôi đóng quân ở nhà Bác Hai thì tình hình rất yên tĩnh nên chúng tôi không phải thường xuyên đi hành quân đêm , nhờ vậy tôi mới có dịp mon men làm quen với cô gái đêm nọ, Thật là cái tên cúng cơm của em, tôi có cái cảm nhận em sống có tính cách giống y như tên cha mẹ đặt cho mình, hàng ngày em lo công việc đồng án ruộng vườn, thấy Thật dễ gần gũi nên đôi lần lúc rảnh rang tôi cũng theo em ra vườn làm phụ công việc cho vui và cũng là cách cho bớt đi nỗi nhớ gia đình, trong lúc làm lụng tôi hỏi em :

  – Anh hỏi thiệt có anh nào trồng cây si chưa vậy ?

  Với nụ cười tươi và đôi mắt đẹp mê hồn dường như cũng đang cười, Thật nói:

  – Dạ có chứ anh, ở miệt vườn này mười tám hai mươi là lập gia đình rồi, ảnh làm trên Sài gòn, năm nay chắc tụi em làm đám cưới, lúc đó em gửi thiệp mời anh đí nghe .

  Tôi cười và ghẹo em :

  – Tụi anh rày đây mai đó, biểt đâu mà mời, dù sao anh cũng cảm ơn em có lòng với anh .

  Thật nói tiếp:

– Anh đi tới đâu tụi em cũng tìm ra hết. Cái đất Gia định này chú có đâu xa mà tìm không ra .

  Sau cái ngày biết được em là hoa có chủ tự dưng nó làm tôi buồn buồn, thú thật tôi có cảm tình với em từ cái nhìn đầu tiên, lúc này tôi chợt nhớ lại câu thơ của thi sỹ nào đó :

   ” Cái thuở  ban đầu lưu luyến ấy, nghìn năm hồ dễ mấy ai quên “.

  Đơn vị chúng tôi luân phiên thay đổi chổ đóng quân đôi ba lần , lần nọ chúng tôi quay lại nhà vợ chồng bác Hai , khi đoàn quân chúng tôi mới lấp ló ngoài ngỏ thì Bác Hai chạy ra níu chúng tôi vào nhà với thái độ như đón người thân từ xa trở về, nghĩa cử của bác Hai khiến anh em chúng tôi vô cùng cảm động.
***
Sáng nọ chúng tôi tham gia hành quân trực thăng vận vô vùng bưng ông Thoàng , Thật biết tin vội gặp tôi rồi giúi vào ba lô tôi hai trái ổi sá lị chín thơm lừng:

  – Hổng có cái gì hết Thôi anh đem hai trái ổi ăn lấy thảo.

  Thật bất ngờ với món quà nhỏ bé nhưng chứa chan tình cảm, đến giờ thú thật tôi không thể hiểu được tình cảm nàng dành cho tôi là gì ,  Tình nhân thì không phải rồi vì em đã có ý trung nhân, còn tôi một người lính quèn không hơn không kém, tôi lờ mờ đóan già đoán non có lẽ tình anh em hay rộng hơn là tình người tình quân dân cá nước …

                    ***

    Gió xuân man mác thổi về, trên cành cây kẻ lá nhú những chồi xanh, các loài hoa dại cũng mọc ven đường hành quân của chúng tôi, nhìn đôi bướm đang bay là sà trên đầu ngọn cỏ tôi liên tưởng đến ngày hợp cẩn giao bôi của Thật, nàng sẽ cùng chồng dìu nhau qua bến bờ xa lạ và sẽ mãi mãi bên nhau như đôi bướm xinh kia, mãi mê liên tưởng khiến tôi muốn ghen với cái hạnh phúc của nàng thì tiếng trực thăng bốc chúng tôi trở về sau ba ngày hành quân vất vả .

                        ***
Về đến đầu ngỏ nhà Thật, không thấy bác Hai chạy ra đón  mừng hỏi han như mọi khi, không khí hôm ấy thật lạ, tự dưng tôi có linh cảm có chuyện không hay xãy ra.

  Tôi quăng cái ba lô vội xuống đất , với bộ quân phục đẫm ướt mồ hôi, tôi điếng hồn hốt hoảng đến tột độ nhìn cổ quan tài nằm giữa nhà. Di ảnh của em tôi đây sao, cứ ngỡ mình đang lạc vào cơn chiêm bao mộng mị tôi tự véo vào tay mình, cái đau nhói đã nói lên đây là sự thật, tôi đến gần bên bác Hai tự dưng khóe mắt tôi lệ ướt tuôn trào, tôi khẻ hỏi bác Hai nguồn cơn nào khiến em ra đi khi tuổi xuân đang hồi phơi phới, bác Hai cố nén đau thương bác móc trong túi lá thư gấp nếp trao cho tôi.

   Tía má thương mến.
Con bất hiếu chọn con đường này xin tía má thứ lỗi .
Vị hôn phu của con không phải là người tốt như gia đình mình tưởng . Anh ta rắp tâm phản bội con từ lâu và chính con đã bắt quả tang.
Thuong tía má con muốn cắn răng bỏ qua để cố hàn gắn vết thương lòng, con đã tha thứ cho anh ta nhưng ngựa quen đường cũ
Những tưởng chúng con sẽ là một đôi không gì ngăn cách được nên con đã trao thân cho anh . Vậy mà …
Sau khi con ra đi xin tía má cho con nằm yên dưới rặng trăm bầu sau vườn để con còn được gần bên Tía má .
Vĩnh biệt.

Tôi thắp ba nén nhang khấn vái . Mong em quên bao nỗi muộn phiền trong cuộc sống , tình em tôi vẫn mãi ghi tâm .

                    ***
Cô gái thấy tôi nhìn chằm chằm sau khi tôi cho cô biết giờ cô đã hỏi tôi, cô bèn cất tiếng hỏi :

  – Anh gì đó ơi, có việc gì nà anh nhìn làm em sợ quá .

  Tôi hoàn hồn trả lời cô gái :

– À à anh thấy em rất giống một người anh quen ngày xưa, cô ấy tên Thật.

  Đến phiên cô gái ngạc nhiên rồi đáp:

  – Em cũng tên Thật nè .

  Mới năm giờ chiều trời hãy còn sáng mà nghe cô gái trả lời khiến tôi rụng rời tay chân và thầm nghĩ :

  ” Chẳng lẽ có tái sanh thật hay sao “

  Qua suy nghĩ này nó khiến tôi nỗi da gà, tôi vội nói cho qua chuyện :

– Ơ không . Xin lỗi em anh nhìn lầm, thôi không có gì anh chào em nhé .

  Cô gái nhoẽn miệng cười hệt như nụ cười của Thật đã cười với tôi hơn bốn mươi năm qua.

                           ***
Tôi quay trở lại vùng đóng quân ngày xưa , giờ đà thay đổi không còn nhận ra đâu là đâu nữa, có chút tuổi rồi tôi muốn mon men tìm lại kỷ niệm ngọt ngào của ngày nào, nhưng than ôi cái thực tại cao ốc đường sá mới tinh đã xóa nhòa hết tất cả, tôi đã mất tất cả những hình ảnh thân quen của thuở nào, cái xe Jeep của Lính Hoa kỳ . Nồi chè đậu xanh hột vịt , cô Thật nữa đã mãi mãi mất vì nơi đây đã thay da đỗi thịt tự bao giờ, à cũng may vùng ký ức tôi không bị xóa nhòe nên tôi kể lại câu chuyện này cho các bạn nghe dù đã hơn bốn mươi năm qua . Chuyện tái sanh có hay không thì tôi không dám lạm bàn nhưng mỗi lần nhớ đến cô gái nọ thì tôi thấy lành lạnh ở sống lưng

Hai Hùng SG

Có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về...
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 13/May/2016 lúc 9:40am

Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi

 

Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

(Ca dao)

 Chấn nhìn theo anh Ba Đực đang cày ruộng, trước mặt Ba Đực là cặp trâu ông Hội Đồng Là cưng nhất. Cặp trâu này khỏe và mập mạp. Vừa đẩy cái cày đi theo cặp trâu, Đực vừa hét lên những tiếng thá dí cho cặp trâu tuân theo. Không hiểu sao trâu cũng biết nghe theo những tiếng thá dí của Đực. Sự thật thì trâu đâu có ngu cho nên trâu có thể hiểu tiếng người lắm. Người ta nói "ngu như bò", đâu có ai nói ngu như trâu bao giờ.

 Theo chuyện xưa tích cũ thì con trâu là hiện thân của một vị tiên trên trời. Ông tiên này được Trời giao cho nhiệm vụ gieo 4/5 hạt thóc và 1/5 hạt cỏ xuống trần gian. Sau đó ham chơi quên mất lời dặn của Thượng Đế, ông tiên gieo ngược lại 4/5 hạt cỏ và 1/5 hạt thóc. Từ đó ở nhân gian, cỏ mọc tràn lan và dễ dàng. Trái lại, lúa là thức ăn nuôi sống loài người lại rất khó trồng. Loài người không ăn cỏ được, lâm vào cảnh chết đói, than phiền thấu tai Thượng Đế cho nên ông tiên bị Trời phạt đày xuống trần làm trâu giúp con người cày đất trồng lúa và ăn cỏ cho mau hết phần cỏ ông đã gieo bậy trước kia. Bởi vì trâu ăn mãi cũng không hết cỏ trên mặt đất nên đời này sang đời khác, trâu vẫn mang hoài số kiếp kéo cày trả nợ cho loài người.

 Chấn được sinh ra và lớn lên ở một làng nhỏ thuộc quận Củ Chi: làng Trung Lập. Bấy giờ là những năm đầu của thế kỷ 20, xã hội Việt Nam vẫn còn sơ khai nhiều so với nền văn minh của thế giới. Cha của Chấn là ông Hai Là, thuộc hàng vai vế của làng bởi vì ông làm Hội Đồng Làng và người ta hay gọi ông là ông Hội Đồng Là. Mặc dù vùng đất Củ Chi là vùng đất gò nhưng ông Hội Đồng Là có những cánh đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Nhà ông có của ăn của để, có Nhà Máy xay lúa, dân làng đa số là người làm công cho ông.

 Tuy giàu có và quyền thế nhưng ông Hội Đồng Là hiền lương, hay giúp đỡ người nghèo. Ông chỉ lo cho cô con gái lớn của ông là cô Hai Chấn đang tuổi cặp kê, có quá nhiều ong bướm dòm ngó. Vì ở nhà quê cho nên Chấn không được đi học, nhưng với sự thông minh sẵn có, Chấn đã biết viết và biết đọc chữ quốc ngữ qua người em trai kế là Cậu Ba Tuội. Cậu Ba Tuội là con trai độc nhất của ông Hội Đồng Là. Ông Là dốc hết tiền bạc để lo cho cậu Tuội ăn học. Sau khi cậu Tuội học hết lớp năm ở Củ Chi, ông Là đã không ngại tốn kém đưa cậu Tuội lên Sài gòn học lớp cao hơn.

Chấn đứng trên bờ ruộng gọi vọng xuống Đực:

- Anh Ba à, nghỉ tay ăn cơm chút anh Ba. Trưa trờ trưa trật rồi chắc anh Ba đói bụng lắm.

Đực nói với ra:

- Cô Hai để đó đi, tui cày cho xong luống này rồi tui ra.

- Hổng được đâu, tui chờ anh rồi tui mới đi. Tui mà để cơm nước ở đây hổng có ai coi chừng mấy con gì nó ăn thì uổng lắm đó anh Ba ui.

- Được, tui ra liền.

 Tới mùa cày hay cấy gặt, ông Hội Đồng đều kêu Chấn nấu cơm trưa rồi đem ra ruộng cho những người làm của gia đình ông. Phần ăn của những người thợ khác, có anh Mót làm công gánh đem ra. Riêng phần của Đực là Chấn đem riêng. Chấn không quên bỏ thêm một phần thức ăn cho Đực. Có khi là thêm một khúc cá hay một miếng mắm lóc. Hôm nào người làm ăn mắm ruốc xào sả là Chấn lựa nhiều thịt ba rọi cho Đực. Gia đình Đực nghèo, cái nghèo đeo đuổi đến mấy đời. Đến đời Đực, mặc dù Đực chịu khó làm lụng nhưng vẫn không khá được. Lúc nào quần áo Đực cũng vá chằng chịt, vải vá còn nhiều hơn là vải quần áo đến nỗi người ta cũng không biết vải quần áo Đực mặc nguyên thủy màu gì.

 Hôm nay Chấn mặc áo quần bà ba đen vải Nam Định. Mấy chiếc quần vải mỹ a chỉ mặc khi ăn tiệc hay giỗ Tết. Vì đi ra ruộng nên Chấn xăng quần ống thấp ống cao, đi chân đất. Tuy là gái quê, nhưng Chấn không có vẻ đen đúa quê mùa. Mấy anh trai làng và các anh làng bên hay ngắm Chấn, chỉ có Đực mỗi lần gặp Chấn là anh ta cúi gầm mặt xuống đất. Lần này cũng vậy, sau khi cột cặp trâu vào cái cọc, Đực bước tới chỗ Chấn đang ngồi dưới cây xoài và cúi mặt xuống không dám nhìn Chấn.

- Cám ơn cô Hai. Cô Hai ăn cho vui. Mà cô Hai đâu có ăn giống như tụi tui đâu.

- Anh Ba hổng có biết đâu, Cha tui hà tiện lắm, mấy anh ăn gì là Cha tui cũng ăn giống vậy. Má tui đâu có để ý gì đâu anh Ba. Từ hồi tui biết coi mấy đứa em tới giờ, việc nhà Cha với Má tui giao phó cho tui hết.

- Tội nghiệp cô Hai thì thôi. Gia đình có tiền mà sao tui thấy cô Hai cực quá. Mấy việc này mà ông Hội Đồng cũng bắt cô Hai làm. Cô Hai thấy nhà ông Hương Quản hông? Con cái người ta có động tới móng tay đâu nà.

- Cha tui nói tui phải ráng làm lụng cho giỏi để sau này còn làm dâu người ta.

 Nói tới đây Chấn thấy buồn, không biết Cha sẽ gả Chấn cho ai. Đực bỗng im lặng không muốn ăn cơm nữa. Miếng cơm tự nhiên mắc nghẹn ngang cổ họng. Đực biết thân phận mình, nhà nghèo, nên không dám mơ tưởng Chấn nhưng Đực cũng nghe tủi thân. Đực thấy mình như câu ca dao:

Gối rơm theo phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao

Đực bỗng tò mò:

- Cô Hai nè, tui thấy ngộ thiệt nghe cô Hai. Má của cô, Bà Hội Đồng đó, tui thấy bả ít khi ở nhà. Bả cũng ít khi nào ẳm bồng cô Tư với cô Năm. Hồi tháng trước cô Năm đau nặng, tui thấy chỉ có mình cô Hai với ông Hội Đồng chạy thầy chạy thuốc cho cô Năm thôi hà. Hổng phải tui nhiều chuyện đâu cô Hai à. Tại tui thấy cô Hai cũng con nhà giàu mà sao số cô Hai cực quá.

- Thì anh Ba biết đó, Má tui là dân Sè goòng. Cha tui là dân quê mùa. Hồi đó hổng biết sao ông Ngoại tui gả Má tui cho Cha tui. Dìa ở đây hổng xa Sè goòng bao nhiêu nhưng Má tui hổng quen.

- Vậy chắc Bà Hội Đồng hay dìa Sè goòng hả cô Hai.

Giọng Chấn buồn buồn:

- Tui có biết Má tui đi đâu đâu nà. Hồi nhỏ thì tui hổng nhớ. Tới chừng tui lớn một chút thì Má tui hổng có bao giờ dắt tui đi theo.

Đực tiếp lời:

- Úy trời, nãy giờ cũng lâu rồi, cô Hai dìa đi, tui xuống cày cho xong đám ruộng này. Cám ơn cô Hai đem cơm ra cho tui.

- Có chi đâu anh Ba. Tui có cái này cho anh nè. Mà anh đừng có nói ai biết nghe hôn. Cha tui mà biết ổng cạo đầu khô tui đó.

Vừa nói Chấn vừa đưa cái gói mo cau ra.

- Chi đó cô Ba, quý quá thì tui hổng dám nhận đâu.

- Cơm nếp chớ có gì đâu. Hồi sáng này Cha tui thèm ăn cơm nếp, tui nấu cho ổng rồi tui gói một ít để chiều nay anh Ba đem về nhà ăn. Tui gói nó vô mấy cái bánh tráng nè, rồi tui bọc trong lá chuối đó, phía ngoài tui bao bằng lớp mo cau rồi tui cột lại bằng dây chuối. Tui treo lên cây xoài nghe anh Ba. Chừng dìa, anh Ba nhớ đừng có quên.

- Cám ơn cô Ba. Cô nói một chút chứ tui thấy chắc cũng khoảng nửa nồi có đó.

- Thì sẵn tay thôi mà anh Ba. Tối nay anh nhớ ăn cho no bụng chớ trưa mai tui mới đem cơm được.

 Chấn quay lưng bước đi. Đực nhìn theo dáng người thon thả của Chấn mà ngậm ngùi cho mình và cũng cảm thương cho một người con gái sao quá cực nhọc. Trời đã lên thật cao và nóng bức hơn ban sáng. Đực không biết chữ nhiều. Đực và Chấn hay chơi đùa với nhau từ hồi còn nhỏ. Những lúc rảnh Chấn hay đọc những cuốn truyện bằng thơ rồi kể lại cho Đực nghe như truyện “Thạch Sanh Lý Thông”:

“Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem Công Chúa lên hang mà về.”

 Đực thấy ghét cái thằng Lý Thông gian ác. Con người sao không biết thương nhau mà cứ vì danh lợi tìm cách hại người khác như Lý Thông cứ năm lần bảy lượt hại Thạch Sanh. Nhìn mặt trời, Đực nhớ Chấn kể về câu đố, buổi sáng và buổi trưa, lúc nào thì mặt trời ở xa nhất. Nếu buổi sáng mặt trời ở xa thì tại sao mặt trời lại lớn hơn buổi trưa. Nếu buổi trưa mặt trời ở xa thì tại sao mặt trời lại nóng hơn buổi sáng. Đực thấy Chấn hiểu biết nhiều chuyện hơn Đực. Đực lắc đầu, không dám nghĩ tiếp. Đực biết thân mình, người ta bề gì cũng là con gái của ông Hội Đồng.

 Chấn về tới nhà thì ông Hội Đồng Là còn đang ở Nhà Việc của làng chưa về. Chấn ra sân để coi lại mấy cái nia trà mà Chấn đã đem ra phơi hồi sáng. Trà này Chấn đã ướp với bông lài là loại trà mà Cha Chấn rất thích. Ngay trước cổng nhà là hai cây bông lài đã trồng từ đời nào. Khi Chấn lớn lên là đã thấy hai cây này rồi. Trà xanh thì ông Hội Đồng có trồng một góc vườn ở sau nhà. Thỉnh thoảng Chấn hái những lá trà già rồi trộn chung với bông lài đem phơi khô để dành. Ông Hội Đồng Là có nhiều khách ghé thăm nên Chấn phải lo làm sao có đầy đủ trà, nếu không, phải mua trà Thiết Quan Âm, tốn tiền mà ông Hội Đồng Là không thích. Trà Tàu không có vị chát của trà xanh nhà trồng. Hơn nữa mùi thơm của bông lài ở nhà thơm đậm đà hơn.

 Sân sau nhà là một khoảng vườn bát ngát. Chấn trồng mấy giàn sương sâm để những buổi trưa khi nào ông Hội Đồng Là không bận việc, Chấn hái vô làm sương sâm với đường cát cho Cha ăn. Chấn hái mấy lá sương sâm già, đem rửa sạch rồi bỏ vô cái chậu vò cho thiệt nát, xong bỏ vô cái bòng vải lọc xác lá lại. Chấn lấy miếng nang mực gác trên nóc bếp xuống, mài một chút xíu cho ra bột rồi trộn nước sương sâm với bột nang mực, để yên một hồi, nước sương sâm đặc lại, thành món ăn giải khát rất Mát. Làng Trung Lập không có chợ, chỉ có quán chạp phô của chú Chệt mà cả làng quen kêu là chú Hắn Chói. Quán này bán hầm bà lằng từ kim chỉ, dầu hôi đến rượu đế … Dân làng mua sắm gì nhiều phải đi xe ngựa ra chợ Củ Chi hay chợ Hóc Môn. Cả làng chỉ có một chiếc xe ngựa của ông Năm Ta ngày hai bữa đi về Trung Lập- Hóc Môn- Củ Chi. Nhà ông Năm Ta không ở Trung Lập mà ở Tân An Hội. Ông bà Năm Ta có vườn cao su, và có xe ngựa chở khách. Con cái ông bà Năm Ta cũng đông lắm, tới 8 người con. Theo xe ngựa với ông Năm Ta là cậu Sáu Tôn con trai ông. Cậu Sáu này chỉ lớn hơn Chấn hai tuổi nhưng nghe chừng đâu miệng cậu lanh lắm. Dân đánh xe ngựa mà.

 Vài ba tháng một lần, Chấn đi theo Cha ra Hóc Môn bằng xe ngựa để mua tương hột, bánh tráng và thịt heo quay, bánh hỏi. Mỗi lần Chấn đi xe ngựa gặp cậu Sáu Tôn là cậu ta không bao giờ lấy tiền xe của Chấn. Tương hột và bánh tráng Hóc Môn ngon có tiếng. Tương hột được bán trong khạp nhỏ bằng sành. Bánh tráng Hóc Môn nổi tiếng là dẽo mà không có mặn. Chấn cũng biết tráng bánh tráng nhưng không cách nào ngon và dẽo được bằng bánh tráng Hóc Môn. Không biết họ pha bột cách nào mà ngon sao là ngon. Cha Chấn hay ăn bánh tráng cuốn với thịt phay. Thịt phay là thịt đùi heo luộc lên rồi chiên lại với chút mỡ, chút đường cát cho thịt vàng cháy xém lên, xong xắt thịt ra thành miếng dài vừa cuốn bánh tráng, có chút thịt, chút mỡ, chút da. Rau cuốn bánh tráng có xà lách, rau húng, dấp cá, lá xoài non, dưa giá, dưa leo. Bánh tráng cuốn chấm với nước mắm. Nước mắm pha giấm đường và ớt sừng trâu. Ớt sừng trâu là loại ớt của dân miền Đông. Trái ớt có màu vàng hay màu đỏ, da ớt nhăn nheo, trái ớt cắn vô một miếng trong miệng nghe giòn rụm mà cay xé họng. Cha Chấn để nguyên trái ớt trong chén nước mắm rồi lấy muỗng dầm ớt nhỏ ra chứ không có giã ớt. Giấm pha nước mắm thì Chấn nuôi bằng chuối sứ và nước dừa xiêm. Chuối sứ chín mềm để giữa hai miếng lá chuối, lấy thớt đè lên cho trái chuối nát ra. Xong lấy lá chuối ra, bỏ chuối vô hũ keo, cho chút rượu đế rồi cho nước dừa xiêm vô. Lấy lá chuối che kín chung quanh hũ giấm lại. Chỉ cần vài tuần lễ là hỗn hợp này thành giấm, từ từ con giấm hình thành và đóng rất dầy. Chấn chắt nước giấm qua hũ keo khác. Còn con giấm thì bỏ thêm nước dừa vô nuôi giấm tiếp. Gần Tết, Chấn nuôi giấm nhiều hơn để làm củ kiệu với lỗ tai heo ngâm giấm, rồi còn giấm pha nước mắm, pha mắm nêm để Cha và khách khứa ăn trong mấy ngày Tết. Canh thì Cha thích canh lá dang thịt gà. Lá dang là loại lá rừng đặc biệt của dân miền Đông. Đây là loại dây leo. Tuốt lá ra, rửa sạch rồi vò nát một chút, bỏ vô nồi thịt gà thành món canh chua, không cần trái me, trái thơm hay trái khế. Vị chua của lá dang thanh thanh mà các loại trái me, trái thơm hay trái khế không có.

 Ông Hội Đồng Là tuy giàu có như vậy nhưng ông cũng nuôi mấy chục con heo trong nhà để bán. Phần thì để khi nhà có giỗ tiệc, ông có sẵn heo khỏi phải mua. Trong chuồng heo lúc nào cũng có ít nhất 5 con heo nái. Chấn phải thức khuya canh chừng để đỡ đẻ cho heo nái. Chấn sợ không có Chấn ở đó, heo con dễ bị heo mẹ đạp chết. Ngoài ra nhà cũng có cả chục cặp trâu cho thuê cày ruộng. Từ lúc 7, 8 tuổi Chấn đã bắt đầu chăm sóc việc nhà, quần quật từ sáng đến tối mà vẫn không hết công việc. Chấn gần gũi với Cha nhiều hơn là Má. Mỗi khi gặp Má, Chấn thấy sợ, có lẽ Má Chấn hay la rầy vô cớ. Má lúc nào cũng than thở: “Hổng biết sao tui phải khổ như vầy?” Chấn hổng hiểu sao Má lại khổ nổi. Cha không hề gây gỗ với Má một lần nào hết. Má muốn gì Cha cũng ưng. Từ hồi Chấn biết chuyện tới giờ, Má ít khi ở nhà. Cha nói Má hổng quen ở nhà quê, Má phải về Sài Gòn thăm ông bà ngoại cho đỡ buồn. Mỗi khi heo con lớn lên sẻ bầy, Chấn nuôi thúc cho chúng lớn để rồi bán. Chấn phải coi việc bán heo. Mấy ông lái heo ăn gian lắm. Khi cân heo, mấy ổng có mánh lới làm giảm ký lô để mấy ổng trả tiền ít đi. Mấy ổng chỉ cần lắc lắc cái cân vài cái là mất mấy chục ký lô như không. Mấy ông lái heo này không phải người làng mà hình như là từ Củ Chi. Họ đi vòng vòng khắp nơi để tìm mua heo. Bán heo cho mấy ông này là bán dứt luôn, họ không cho lại miếng thịt nào hết. Bán heo cho dân làng để họ làm đám giỗ tiệc gì thì thế nào họ cũng kiếng lại một chút thịt, một chút lòng.

 Đã tới giờ nấu cơm chiều cho Cha. Chấn vô bếp, lấy cái rá xúc gạo rồi đem ra sau hè cạnh lu nước, múc nước vô chậu để vo gạo. Nước vo gạo, Chấn để dành nấu cám heo. Nước vo gạo buổi sáng, Chấn lắng lại, lấy phần cám đọng ở dưới để mỗi tối Chấn đắp mặt. Người ta nói đắp mặt như vậy, da mặt sẽ đẹp và không có mụn. Không biết người ta nói đúng hay da mặt Chấn tốt, nhưng Chấn không có mụn bao giờ. Chấn trút gạo từ rá vô nồi, canh nước rồi bắt nồi lên bếp lò. Bếp có 3 ông táo, Cha Chấn đắp bằng đất sét. Bếp đốt bằng củi nên lọ nghẹ đầy bếp đầy nồi. Chiều nay Chấn cho cả nhà ăn canh chua thơm nấu với cá trào, thịt kho ăn với dưa leo và rau sống. Cha Chấn chỉ cho người làm ruộng ăn cơm trưa, nên ăn chiều Chấn nấu cho Cha và mấy đứa em, không phải nấu nhiều như buổi trưa nấu cho người làm ăn.

Nồi cơm chín xong, Chấn ủ vào tro cho giữ hơi nóng. Chấn đang loay hoay thì nghe tiếng bà Hội Đồng ngoài trước:

- Con Chấn đâu rồi, nhà cửa gì không chịu quét dọn gì hết. Lá ngoài sân đầy nhóc kìa. Chấn ơi Chấn. Đồ con quỷ sứ, mầy mần cái gì mà mấy cái nia trà chiều tối rồi mầy cũng hổng chịu đem vô. Bộ mầy tính phơi sương mấy cái nia trà sao cà.

Chấn lật đật chạy lên nhà trên:

- Dạ Má mới dìa.

- Tao mới dìa hay cũ dìa thì mầy biết rồi, cần gì mầy phải nói. Thiệt con với cái, toàn là của nợ. Còn đứng đó chi. Rót tao ly nước trà coi.

- Dạ, Má.

- Dạ dạ cái gì. Tao khát gần chết nè, ở đó mà dạ dạ, đem nước ra mau cho tao đi. Đồ cái quân gì chậm lụt. Nó là con tui mà sao mặt mày nó giống ai đâu không á, lúc nào cũng chầm dầm cái mặt.

Chấn bước vô bàn ở nhà bếp rót ly nước trà đem ra cho bà Hội Đồng.

Vừa mới uống một ngụm, bà Hội Đồng phun ra:

- Mầy muốn thuốc tao chết hả? Nước gì nóng dữ làm phỏng miệng tao rồi.

- Nước trà phải nóng chớ Má.

Bà Hội Đồng xáng cho Chấn hai bạt tai:

- Ai dạy mầy cãi lợi tao hả con kia? Tao có cho phép mầy cãi hôn vậy mậy? Thằng Cha mầy còn hổng dám cãi tao nữa ở đó mầy. Mầy mà còn cãi nữa tao quánh chết Cha mầy luôn.

Chấn đứng đó nước mắt lăn dài trên Má. Kịp thời ông Hội Đồng vừa về tới nhà:

- Má con Chấn dìa rồi à? Cha Má cũng khỏe hả?

- Khỏi hỏi mấy cái chuyện đó đi. Tui lật đật dìa là lo cái chuyện hôn nhơn của con Chấn. Con gái 15 tuổi rồi ở nhà như là hũ mắm treo đầu giường. Có đám này quen với Cha Má tui. Tui bàn với ông gả nó phứt đi cho rồi, khỏi mắc công lo.

- Quen với Cha Má thì tui chắc là chỗ đàng hoàng rồi. Nhưng tui hổng biết thằng đó ra sao, hổng biết con Chấn có ưng hôn?

- Ông sao khéo lo. Cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đó. Con Chấn biết gì mà ưng hổng ưng. Hồi đó tui đâu biết ông ra sao Cha Má tui cũng gả tui cho ông. Tui nói chỗ này được là được.

- Vậy chớ gia đình họ ra sao? Làm gì? Ở đâu? Tui hổng muốn gả nó xa quá.

- Xa gì mà xa. Ở An Nhơn Tây chứ đâu. Đi qua Bến Súc là tới rồi. Nhà người ta giàu, ruộng vườn biết bao nhiêu mà kể. Thẳng lại học hết đíp lôm gì đó. Nhà có người ăn người làm. Con Chấn là con tui, tui cũng muốn nó được sung sướng. Vuột chỗ này rồi là tui hổng biết còn chỗ nào tốt hơn hôn. Ông tính sao? Liệu để tui trả lời cho Cha Má.

- Thì tui cũng phải gặp họ, còn gặp thẳng nữa chớ. Hổng biết gì hết làm sao tui quyết định?

- Ông hổng tin tui thì tui hổng nói mần chi. Ông hổng tin Cha Má tui là có chuyện đó nghen. Ông có nhớ Ông Cai Tổng Thiệt hôn?

- Có phải thằng con trai lớn của vả là thằng Hai Tiệm đó hôn?

- Đúng rồi đó đa. Đúng thẳng đó.

- Thẳng coi cũng được đứa. Ông Cai Tổng cũng đàng hoàng. Chỉ có Bà Cai Tổng coi bộ khó à Má con Chấn.

- Chớ bây giờ ông muốn cái gì? Người ta khó thì nó cũng phải biết làm dâu, hổng khó nó cũng phải biết làm dâu. Nó dìa làm dâu người ta chớ bộ người ta cưới nó dìa làm bà cố nội người ta sao mà ông nói khó này khó nọ. Vậy đi nghen. Coi như ông đồng ý hén. Mơi sớm tui dìa Sè goòng nói với Cha Má tui là ông ưng gả con Chấn rồi đó đa.

- Má con Chấn à, để tui nói với con Chấn một tiếng.

- Ông nói với nó một tiếng hay nhiều tiếng thì ông nói, đừng có kêu tui nói. Nói chuyện với nó một hồi mắc công tui nổi nóng. Úi, mà nói gì, nó ưng hay hổng ưng thì kỳ này tui cũng gả nó phứt đi cho rồi. Tui ít ở nhà chớ tui cũng nghe nó có tình có ý gì với thằng Đực ở đầu xóm. Ông hổng gả nó cho mối này hay là ông tính gả nó cho thằng Đực?

- Má con Chấn nói sao kỳ cục quá. Thằng Đực với con Chấn chơi với nhau từ hồi tụi nó còn nhỏ tới giờ chớ tình ý gì đâu. Nếu bà thấy đám Cai Tổng Thiệt này được bà kêu nhà trai nhờ mai mối tới đi. Tui gả.

Chấn ở sau bếp nghe Cha và Má nói chuyện về mình mà không ai thèm đếm xỉa tới Chấn coi Chấn suy nghĩ ra sao. Chấn lo là Chấn đi lấy chồng rồi, ai lo cho Cha và mấy đứa em. Con Năm Xẩm đau ốm quặt quẹo hoài. Chấn cũng không hiểu sao mỗi lần gặp Chấn là Má khó chịu. Tuy Má không ẳm bồng con Tư Phuống với con Năm Xẩm hay thằng Ba Tuội, nhưng ít khi Má la tụi nó. Chấn có cảm giác là Má không thương mấy đứa con của Má hay là Má không thương cái gia đình này. Chấn chợt nghĩ tới Đực. Nhà Đực nghèo lắm, có lẽ vì vậy mà Chấn tìm cách giúp đỡ Đực chuyện này chuyện khác. Hồi nhỏ Đực hay dạy cho Chấn cách bắt cua bắt cá, đăng tôm. Đực cũng chỉ Chấn cách làm mắm lóc, mắm sặc rồi món mắm bằm làm sao cho ngon. Chấn biết là Cha Má không bao giờ chịu gả Chấn cho Đực vì không môn đăng hộ đối. Không biết mai mốt này Chấn đi lấy chồng An Nhơn Tây, xa Trung lập, Chấn không có cơ hội giúp đỡ Đực, Đực sẽ sống ra sao? Chấn bỗng thở dài, lắc đầu không muốn nghĩ tới nữa.

***

 Ngày cuối năm, Chấn đã chuẩn bị đủ mọi thứ cho ba ngày tết. Tháng trước đàng trai đã cho nạp sính lễ và làm đám hỏi. Ra giêng họ sẽ rước dâu. Hôm đàng trai đến, Chấn trốn trong buồng không dám bước ra. Tuy nhiên Chấn cũng lén vén tấm màn cửa sổ liếc nhìn chú rể. Chỉ nhìn thoáng qua, Chấn cũng thấy anh ta cao ráo lịch sự. Hôm đó chú rể mặc áo dài the đen phía ngoài áo dài trắng, chân đi giày ba ta. Chấn cũng nhìn sơ qua bà già chồng. Coi bộ bả nghiêm khắc, nhưng biết làm sao, lệnh Cha Má, Chấn đâu dám cãi. Trước đó, Chấn có tâm tình với Cha:

- Cha à, tui chưa muốn lấy chồng. Tui lo cho Cha dí lợi thằng Ba Tuội còn đi học rồi con Tư Phuống còn nhỏ quá, con Năm Xẩm thì bịnh hoài. Cha huỡn huỡn vài năm nữa được hôn Cha. Tui đi xa rồi ai đâu lo cơm nước cho Cha. Tui hổng có yên cái bụng.

Ông Hội Đồng Là nạt ngang:

- Bây khéo lo. Cha lo cho Cha được. Con gái lớn rồi thì bây phải đi lấy chồng chứ bây ở nhà hoài sao. Chỗ này gia đình người ta danh giá. Nghe đâu thẳng cũng có học có hành. Gả bây vô chỗ này Cha cũng đỡ lo cho bây.

 Cha nói như vậy, Chấn đâu dám cãi nhưng trong lòng Chấn không yên. Con gái lấy chồng như thau nước tạt ra ngoài sân, có muốn về thăm Cha coi bộ khó. Làm thân con gái 12 bến nước, biết bến nào trong bến nào đục đây? Rồi không biết Chấn ăn ở có vừa lòng gia đình chồng hay không? Theo Chấn được nói lại, anh ta là con trai lớn và lại là con trai độc nhất, sau anh ta có 4 người em gái. Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng, mà đàng này có 4 bà cô, liệu Chấn có được sống êm ấm với gia đình chồng chăng?

 Vừa nghĩ ngợi, Chấn đem nếp đã ngâm đêm qua đem ra để ráo nước đặng gói bánh tét. Cha Chấn năm nào cũng gói bánh tét hột điều. Những nơi khác gói bánh tét đậu xanh. Riêng vùng Củ Chi đa số gói bánh tét hột điều. Chấn đem hột điều đã ngâm nước một đêm, mỡ thịt cắt miếng dài đem ướp với chút muối, phơi ngoài nắng một canh giờ, lá chuối đem phơi cho héo héo một chút, dây chuối cũng tướt ra phơi khô từ mấy bữa trước, để sẵn trên bộ ván gõ ở nhà giữa. Vậy là Chấn cùng vài người làm bắt đầu gói bánh tét. Chấn xếp mấy lớp lá theo chiều dọc, lá chuối gói bánh phải là lá của cây chuối hột thì bánh mới có màu xanh tươi, Chấn đong nếp cho vừa một đòn bánh rồi lấy phân nửa nếp đổ lên lớp lá chuối, kế đến là hột điều rồi đến lớp mỡ, xong lại một lớp hột điều và một lớp nếp nữa che lên trên. Chấn bắt đầu khoanh tròn đòn bánh, vén hai đầu bánh cho tròn trịa, rồi lấy lá chuối cột đòn bánh lại. Cột cho dư dây chuối trên đầu để sau khi luộc bánh chín lại sẽ treo đòn bánh lên xà nhà.

 Năm nào Cha Chấn cũng bắt gói cả trăm đòn bánh tét, lớp tiếp khách mấy ngày Tết, lớp cho mấy người làm công cho ông Hội Đồng. Mỗi người được ông Hội Đồng biếu một cặp bánh. Nhà bình dân không có gói bánh tét hột điều tại hột điều mắc tiền, họ chỉ gói bánh tét đậu xanh. Năm nào Chấn cũng lén cho Đực thêm một cặp bánh ngoài cặp bánh của Ông Hội Đồng biếu. Nghĩ tới đây, Chấn thấy lòng buồn buồn. Năm tới chắc Chấn không có giúp Đực được, không biết Đực làm sao có thêm bánh tét ăn tết. Khi bánh tét chín, Chấn vớt ra treo lên, Chấn lựa một đòn có vẻ ngon, lột lớp vỏ chuối bên ngoài ra rồi lấy sợi chỉ giữ một đầu, đầu kia của sợi chỉ choàng qua đòn bánh rồi Chấn kéo mạnh, từng khoanh bánh tét rơi ra trên dĩa, tròn trịa và mướt lớp mặt bánh. Đây là cách tét bánh của bánh tét, có lẽ vì thế cho nên được gọi là bánh tét. Chấn không có dùng dao cắt bánh vì chất nhựa của nếp dính dao khó cắt bánh cho đẹp, dao lại khó rửa. Dân Trung Lập chỉ tét bánh theo kiểu này.

 Ngày hôm qua bên nhà trai đã cho người đem biếu bánh mứt họ mua ở Sài Gòn và một cặp rượu tây. Cha cũng thiềng lại sui gia cặp gà trống thiến và hai hộp trà Thiết Quan Âm với một hộp bánh tây đựng trong hộp thiếc có in hình bà đầm tây xòe cây dù. Ngày hôm qua Chấn kho một nồi thịt đùi với hột vịt. Cá lóc với cá tràu Chấn rộng một lu đầy. Dưa kiệu, dưa giá, dưa mít, cải chua, mỗi thứ Chấn ngâm một chậu sành. Chấn làm sẵn cho Cha 2 khạp rượu nếp than. Khi gói bánh tét xong, Chấn luộc hai bộ đồ lòng, mấy cái đùi thịt phay, tối Chấn luộc con gà trống để rước ông bà và ông táo. Tết năm nào Chấn cũng bận rộn cho đến ra giêng. Lớp mấy ông trong Nhà Làng thăm viếng nhậu nhẹt rồi còn bà con hàng xóm nữa. Năm nay còn phải lo đón tiếp bên đàng trai chắc là Chấn sẽ không có phút nào ngơi nghỉ.

 Bầy heo ở nhà trước Tết Chấn đã bán bớt đi một mớ nên chuồng heo bây giờ cũng đỡ phải dọn dẹp. Kỳ này có ông lái heo mới, ông Năm Bụng. Ông này tính tình vui vẻ, người ta kêu ông là ông Năm Bụng nhưng thực ra bụng ông đâu có bự. Ông có chiếc xe đạp, trên xe ông có treo cái cân, ông hay đi từng nhà mua heo, sau khi cân và trả tiền xong, ông đi mướn chiếc xe bò rồi ông đi một vòng gom hết mấy con heo ông đã mua. Ông chở chúng đi đâu Chấn cũng không rõ. Cứ mỗi tháng ông hay về làng này để cân heo. Hôm trước, khi bán lứa heo, Chấn có nói với Cha:

- Khi tui đi lấy chồng rồi, Cha nói Má dìa nhà lo việc nhà, chứ mình Cha làm sao Cha lo được. Cha mắc công việc làng rồi ai coi mấy đám ruộng với bầy heo.

- Bây yên tâm mà đi lấy chồng đi. Chuyện nhà Cha Má biết tính.

Cha nói vậy, nhưng Chấn biết tính của bà Hội Đồng, Má Chấn ít để tâm đến việc nhà, bà lại hay la mắng kẻ ăn người làm. Cha Chấn chẳng biết gì về việc nhà. Chấn lo quá là lo. Nhưng con gái lớn mà không có nơi nào hỏi cưới cũng lại bị tiếng đời mai mỉa. Bây giờ Chấn không ưng đám này, biết sau này có đám nào dám cưới Chấn hông.

***

 Vậy mà Chấn lấy chồng đã được 6 năm. Ngày Chấn sanh con trai đầu lòng, thằng Hai Thinh, cà nhà chồng đều vui mừng và làm đầy tháng thiệt là lớn. Chấn được bà già chồng lo lắng đủ điều. Suốt ba tháng trời sau đó, Chấn không phải làm gì hết, chỉ ở cữ trong phòng, nằm than, ăn cá kho nghệ. Mỗi buổi sáng sớm, bà già chồng chịu khó qua nhà hàng xóm, năn nỉ xin nước tiểu con nít về cho Chấn uống. Chồng Chấn cũng rất cưng chiều Chấn, mỗi bữa cơm, chính anh ta đem cơm vô tận trong buồng cho Chấn. Cưng đứa cháu nội đích tôn nên Má chồng Chấn giữ riệt lấy thằng Hai Thinh. Mỗi lần tết Chấn cùng chồng về Trung Lập thăm nhà, bà giữ cháu nội ở nhà không cho Chấn đem theo lấy lý do đường xa bụi bặm, Hai Thinh dễ mắc bệnh.

 Khi Hai Thinh được hai tuổi, Chấn lại sinh đứa con gái, con Lang, gia đình chồng có phần lợt lạt hơn. Chấn không trách họ tại vì Chấn biết nhà chồng có một người con trai duy nhất cho nên họ mong có nhiều cháu trai. Lần này Chấn chỉ ở cữ được có 10 ngày là phải ra ruộng cấy lúa. Bà già chồng nói là sanh con rạ nên không cần ở cữ lâu.

 Hôm nay Chấn mang cái bụng bầu 6 tháng, ì ạch gánh hai cái thúng, lê bước về nhà Cha. Một đầu thúng là con Lang, đầu kia là đồ đạc nhà chồng trả lại cho Chấn. Mặc dù Chấn đã khóc hết nước mắt, năn nỉ bà già chồng, năn nỉ chồng là Chấn không có tội lỗi gì từ ngày làm dâu đến nay nhưng nhà chồng vẫn cương quyết ra nhà làng làm giấy chia của.

Bà già chồng còn xỉa xói:

- Bây giờ mầy không có lỗi gì với con tao nhưng ai biết được là mấy năm nữa mầy cũng đi theo trai như con gái mẹ của mầy. Mầy không có lỗi tao mới chia của cho mầy, chứ thứ mầy có lỗi tao cạo đầu khô mầy bôi vôi rồi chứ không có cho mầy giữ hết số vàng đồ cưới đâu. Đúng là tao không có con mắt mới cưới mầy cho con trai tao. Thiệt là cái quân…

 Đứa con trai đầu lòng, bên chồng giữ nuôi, giao cho Chấn đứa con gái và đứa con trong bụng. Họ còn nói nếu Chấn sinh con trai họ cũng bắt luôn, là con gái thì Chấn nuôi. Mặt trời đang từ từ lặn, giờ này mọi nhà trong làng chắc đang tụ họp ăn cơm chiều, con đường làng vắng bóng người qua lại. Chấn thấy ngôi nhà của Cha thấp thoáng đàng sau khóm trúc. Chấn mong là Cha có nhà để Chấn được gặp Cha. Khi nhà chồng báo với Cha là trả Chấn về, Cha đã qua An Nhơn Tây bàn lại, nhưng chồng Chấn cũng có ý nghe lời Má chồng Chấn, không hề cất một tiếng nói để xin cho Chấn được ở lại. Cuối cùng Cha phải nói với Chấn:

- Chấn à, vợ chồng là duyên nợ, bây không nên cưỡng cầu. Tại cái số bây như vậy, bây cũng đừng trách Má bây.

- Cha không trách làm sao tui dám trách Má.

 Chấn nói với Cha như vậy, nhưng trong lòng Chấn rất buồn việc làm của Má. Sau khi Chấn theo chồng về An Nhơn Tây, Má ở nhà thường xuyên hơn. Lúc đó Cha rất vui. Cha mướn thêm chị Ba Tương phụ giúp công việc nhà cho Má. Chị Ba Tương cũng trạc tuổi Chấn, dáng người vạm vỡ, đỡ đần công việc cho Má rất nhiều. Mỗi tháng ông Năm Bụng hay ghé nhà gặp Má để coi việc mua heo và hay nói chuyện với Má về chuyện nuôi heo. Lần nào ông Năm cũng ngồi ở phòng khách tới chiều khi Cha Chấn gần về, ông ta mới đi. Mỗi lần bán heo, Má đưa Cha ít tiền đi, Cha thắc mắc:

- Má con Chấn nè, bây giờ heo lên giá mà sao tiền Má nó đưa cho tui ít đi là sao?

Má gây lại:

- Ông nói cái gì vậy chớ? Heo có giá hết mà, heo cân bao nhiêu thì người ta trả mình bấy nhiêu tiền thôi chớ.

- Có phải bà bán cho ông Năm Bụng đó hôn?

Má nổi sùng lên:

- Ông nghi ngờ tui cái gì đây?

Cha đấu dịu lại:

- Má nó thiệt là. Tui chỉ nói vậy thôi mà.

- Ông không bằng lòng chuyện nhà giao cho tui thì tui về Cha Má tui tui ở.

Ông Hội Đồng Là tưởng bà Hội Đồng chỉ nói vậy thôi, ai dè, ngày hôm sau khi đi làm về, bà Hội Đồng đã không còn ở nhà nữa. Ông la lên:

- Tương à Tương, bà đâu rồi.

Cô Ba Tương trả lời:

- Bà dọn đồ đi rồi ông ơi. Bà kêu con nói với ông là đừng đi kiếm bà. Bà không muốn về nhà này nữa.

- Bây có biết Bà đi đâu hôn?

- Bà hổng có nói cho con biết ông ơi. Mấy tháng trước con có nói ông coi chừng ông Năm Bụng nhưng ông hổng tin còn bạt tai con nữa. Có khi nào bà đi theo ông Năm Bụng hôn ông?

- Bây câm cái miệng của bây lại. Nói tầm bậy tầm bạ không hà.

 Tuy trả lời Ba Tương như vậy nhưng ruột gan ông Hội Đồng rối bời. Chẳng lẽ Bà Hội Đồng lại làm chuyện đó sao? Ông xét lại ông không làm gì có lỗi với bà. Suốt đêm ông Hội Đồng trằn trọc, chờ đến sáng là ông đi xe ngựa xuống nhà nhạc gia để rước vợ về. Nhưng Bà Hội Đồng như bóng chim tăm cá, không có ở nhà Cha mẹ vợ, ông Hội Đồng Là cũng không biết đi đâu tìm bây giờ. Ông Hội Đồng Là lấy chìa khóa mở tủ coi lại giấy tờ, ông chợt thấy giấy tờ bán ruộng và bán Nhà Máy xay lúa. Ông lẩm bẩm:

- Ủa, lạ kìa. Tui đâu có bán ruộng với Nhà Máy xay lúa hồi nào đâu cà.

 Ông nhìn kỹ tờ giấy bán ruộng và tờ giấy bán Nhà Máy Xay Lúa đã được Làng chứng, hóa ra Bà Hội Đồng đã bán hết mấy trăm mẫu ruộng của ông, chỉ còn vài mẫu ruộng gần nhà là Bà để lại. Ông Hội Đồng choáng váng mặt mày như người té từ trên cao xuống. Đột nhiên ông trở thành kẻ trắng tay. Ông gục đầu xuống bàn, sáng mai ông sẽ từ chức Hội Đồng, còn mặt mũi nào mà ra Nhà Làng làm việc. Chuyện nhà lo không xong còn lo chi đến chuyện Làng, chuyện Nước.

 Chuyện xấu nào cũng lan truyền rất nhanh. Chuyện Bà Hội Đồng Là bỏ chồng con đi theo người đàn ông khác chẳng mấy chốc đầu trên xóm đưới đều rõ chuyện. Chuyện lan đến An Nhơn Tây. Ba Má chồng Chấn kêu Chấn ra hỏi chuyện, rồi từ đó thái độ của họ đối với Chấn càng ngày càng xấu đi. Anh Hai Tiệm cũng lạnh nhạt với Chấn. Hồi đó mỗi khi anh Hai Tiệm ra bờ sông câu cá là hay dắt Chấn đi theo. Hai vợ chồng ngồi ngắm trời ngắm đất và anh Hai Tiệm kể chuyện cho Chấn nghe. Chuyện bà con họ hàng, chuyện thời sự, chuyện bên tây bên tàu… Chấn vừa thương chồng vừa cảm phục sự hiểu biết của chồng. Chấn thấy Chấn rất hạnh phúc và may mắn có được một chỗ nương tựa tốt đẹp. Dòng sông bây giờ vẫn còn đó nhưng Chấn đã trở thành kẻ sống thừa trong nhà chồng. Hầu như ngày nào bà già chồng cũng chửi và đánh đập Chấn không tiếc tay. Chấn làm việc nhà rất giỏi nhưng cũng không làm bà vừa lòng. Tết nhất, giỗ quảy gì cũng một tay Chấn lo nhưng hình như nhà chồng không cần sự có mặt của Chấn nữa. Có lần bà ta còn lấy một que sắt bỏ vào lò nướng đỏ lên rồi ấn vào đùi non của Chấn. Mặc kệ Chấn van xin khóc lóc, bà cũng không ngừng tay. Hai bên đùi Chấn nổi lên những vết thẹo lằn ngang lằn dọc. Cho đến một hôm anh Hai Tiệm kêu Chấn ra nói riêng:

- Má thằng Thinh, tui nói mình nghe, tui thấy mình bị Má ghét bỏ như vậy, tui cũng đau lòng lắm. Tui nói hết lời với Má rồi mà cũng không được. Má kêu tui thôi mình. Nhà chia dọc của chia hai. Tui cũng hổng biết làm sao, chỉ có như vậy mình mới không phải khổ nữa.

 Chấn chua xót khi nghe những lời nói vô tình của anh Hai Tiệm. Tình nghĩa vợ chồng mà lúc nào Chấn cũng tôn thờ bây giờ không còn gì để mà quý nữa. Người chồng có bằng cấp, chữ nghĩa nhiều mà sao tình yêu quá ít ỏi.

 Ngày đám cưới Chấn, hai họ đưa rước ồn ào, mọi người vui vẻ tấp nập. Hôm nay một mình Chấn lặng lẽ trên đường về nhà. Anh Ba Đực sau ngày đám cưới Chấn nghe đâu cũng đã bỏ xứ ra đi. Đi ngang qua thửa ruộng ngày trước anh Ba Đực vẫn hay cày bừa cho Cha Chấn, Chấn nghe trái tim nhói đau. Chấn mường tượng như anh Ba Đực còn buông tiếng thá dí với cặp trâu của gia đình. Những lời anh Đực nói ngày nào còn văng vẳng: “Tội nghiệp cô Hai thì thôi. Gia đình có tiền mà sao tui thấy cô Hai cực quá.”. Cây xoài bên cạnh thửa ruộng mà ngày xưa Chấn hay ngồi chờ anh Ba Đực dưới gốc cây để anh Đực ăn cơm trưa vẫn còn đó, nhưng anh Đực đã không còn ngồi đó nữa. Nước mắt của Chấn bỗng lăn dài trên má. Cảnh cũ vẫn còn đây nhưng tất cả đã thay đổi hết rồi. Chấn thở dài lo lắng cho những ngày tháng sắp đến. Chấn thương yêu chồng, nhịn nhục chịu đựng sự hành hạ của Má chồng cùng sự quá quắt của 4 cô em chồng. Chấn tưởng rằng sẽ được cùng chồng răng long đầu bạc, ai ngờ nửa đường đứt gánh. Chấn không có lỗi gì hết nhưng bên chồng tìm cách đổ lỗi cho việc bỏ nhà ra đi của Má Chấn để ruồng bỏ Chấn. “Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra”. Tương lai của Chấn hoàn toàn đen tối. Cha Chấn đã suy sụp từ ngày Bà Hội Đồng bặt tăm. Thằng Ba Tuội phải nghỉ học ngang xương, Cha không còn tài sản để lo cho nó học ở Sài Gòn nữa. Con Tư Phuống phải mở quán bán cháo lòng để phụ giúp cho Cha, Năm Xẩm thì cứ suốt ngày khóc đòi Má rồi lại ốm đau hoài. Cành nhà ngày nào khá giả bỗng chốc trở thành bần hàn. Chấn biết trách ai bây giờ cho số phận của Chấn quá bi thương. Chấn nhớ lại sự tích con trâu. Hay là kiếp trước Chấn là vị tiên gây nên lỗi lầm nên kiếp này phải chịu khổ như kiếp của con trâu. Trâu kéo cày trả nợ loài người, Chấn chịu đau khổ để trả nợ này cho ai đây? Nhìn lại đứa bé còn nhỏ ngồi trên cái thúng, Chấn ngậm ngùi lại cất bước đi .....

 

Thanh Huyền



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 13/May/2016 lúc 9:46am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 24448
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 08/May/2016 lúc 9:41pm
ĐÈN KHUYA - Lam Phương - Thanh Thúy hát   <<<<

Không biết đêm nay vì sao tôi buồn?
Buồn vì trời mưa hay bão trong tim?
Đã mấy thu qua tôi vẫn đi tìm
Để rồi buồn ơi nghe tiếng mưa đêm

Khi bước chân đi lần trong cuộc đời
Lời mẹ hiền ru còn nhớ khôn nguôi:
"Khi lớn con đi trên vạn nẻo đời
Đừng buồn khi lúc tay còn trắng tay
"

Mưa ơi, mưa ơi, còn nhớ thương hoài
Nhớ khi mẹ lo sớm chiều, nhớ nụ cười khi nâng niu
Đôi tay run run ánh mắt dịu hiền
Biết tìm lại chốn nào?
Mẹ ơi biết chăng, đêm về quạnh hiu

Nghe tiếng mưa rơi mà nhớ thương nhiều
Đường về đèn khuya in bóng cô liêu
Ai biết đêm nay tôi vẫn mong chờ
Tìm đâu những phút vui ngày ấu thơ...

                    

                     (Nhạc sĩ Lam Phương khi còn ấu thơ và Mẹ)   
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Nhom12yeuthuong
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 13/Sep/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 7169
Quote Nhom12yeuthuong Replybullet Gởi ngày: 05/May/2016 lúc 1:16pm

Cái bóng của vị thầy tu


    Dừng xe trước quán cà phê nằm bên triền núi, tôi kéo Lân vào ngồi bên chiếc bàn nhỏ, nằm riêng rẽ dưới bóng mấy cành thông. Ngày thường, quán vắng khách. Đã hơn bốn giờ chiều mà mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Mùa hè Bắc Âu ngày dài ra, có những ngày cuối tháng sáu, gần như không thấy bóng đêm. Trời nắng, nhưng không nóng lắm. Thỉnh thoảng có vài cơn gió làm lung lay những cành thông, như muốn khuấy động cái không gian tĩnh mịch và tạo thêm chút mát mẻ, thư thái cho khách nhàn du.

Đến đây đã nhiều lần, dần dà bọn tôi trở thành khách quen của ông chủ quán, người Na-Uy, vốn trước kia ở cùng xóm với tôi, nên đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi đặc biệt, thoải mái. Hơn nữa đã từng nghiên cứu về Đạo Phật, nên thấy Lân trong bộ áo thầy tu, ông chủ cũng tỏ ra ít nhiều tôn kính, có khi trao đổi đôi điều về Phật và Thiền học, mặc dù ông chưa hề biết quá khứ, nhất là cả một thời tuổi trẻ đầy sôi nổi, hào hùng và biến động của Lân.

    Gần mười năm nay, sau khi về hưu, hằng năm, vào khoảng giữa tháng Mười, vợ chồng tôi thường sang Cali ở sáu tháng để trốn mùa Đông Bắc Âu, mà với tuổi già càng lúc cái lạnh như càng ngấm vào da thịt và cả trong lòng mình.  Đến hè, mỗi lần trở lại Na-Uy, tôi thường ghé lại thăm Lân. Từ lúc nhận ra tuổi già qua nhanh quá, cái quỹ thời gian không còn nhiều, và một số bè bạn đã lần lượt ra đi, chúng tôi dành nhiều thì giờ cho nhau hơn. Lân về hưu trước tôi một năm, và anh đã chọn một hướng đi đặc biệt cho tuổi già: tu tại gia. Anh xuống tóc, ăn chay trường và mỗi ngày sống với kinh kệ như một vị thầy tu, mặc dù không đến chùa. Anh cho rằng cái khung cảnh và sinh hoạt ở một số chùa chiền bây giờ không thích hợp với anh. Hầu hết bạn bè và những người quen biết đều tôn trọng cái quyết định đó, cũng như rất mến mộ phong cách, đạo đức của anh. Thực ra, trước khi chọn con đường tu hành, anh cũng đã có đầy đủ tố chất của một vị chân tu rồi. Hiền lành, đạo hạnh, luôn chia sẻ tấm lòng với tha nhân, nhất là những người không may, gặp điều khốn khó, và với ai anh cũng luôn nở một nụ cười hiền hòa nhân ái. Lân dùng nguyên ngôi nhà ở sửa sang lại làm tịnh thất, nằm trong khu ngoại ô, bên bìa rừng yên tĩnh. Anh sống ẩn dật, chỉ tiếp vài ba người bạn chí thân.Tôi thường đến đây với Lân, có khi ở lại cả tuần, theo anh ngồi tĩnh tâm hay tập thiền, nhưng thỉnh thoảng Lân cũng chìu tôi, theo tôi ra ngồi ở cái quán cà phê  bên vách núi yên tĩnh này. Tôi nghĩ đây là nơi lý tưởng để Lân còn nhìn thấy một chút “thế gian” và chúng tôi có thể ngồi hằng giờ tâm sự chuyện đời xưa,  nhắc nhớ khoảng thời gian khá dài mà chúng tôi có cùng chung quá khứ.

***


   

  Tháng sáu năm 1976, sau khi bị chuyển tù ra Bắc, đến Trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi gặp lại người bạn cũ, có thời ở cùng đơn vị. Anh ở khác lán với tôi, nhưng cùng tổ và nằm bên cạnh Lân. Qua anh bạn này, tôi quen biết Lân từ đó, để rồi sau này trở thành thân thiết. Điều đặc biệt là dù qua bao lần “biên chế”, bị chuyển đi nhiều trại, Lân và tôi đều được may mắn, đi chung với nhau cho đến ngày Lân ra tù, tháng 9 năm 1981.

    Trước ngày miền Nam thất thủ, Lân là thiếu tá, làm việc ở Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân (thuộc Bộ Tư lệnh Không Quân). Một công việc bất đắc dĩ, ngoài sở thích của Lân. Anh vốn là phi công trực thăng được chuyển về đây sau khi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa và được Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp vào loại 2, không thể phi hành hay chiến đấu được. Anh bị trọng thương trong một chuyến bay cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi trong trận chiến An Lộc.

     Lớn hơn tôi một tuổi.  Lân tình nguyện vào Không Quân và được sang Mỹ học ngành hoa tiêu trực thăng. Về nước được bổ sung cho Phi Đoàn Long Mã 219 ở Đà Nẵng, từ thời còn xử dụng trực thăng loại H-34, về sau này được thay thế bằng UH-1. Đây là một phi đoàn đặc biệt. Trên các máy bay sơn toàn màu đen, không vẽ quốc kỳ và  bất cứ danh hiệu hay mã số nào, ngoài hình những lá bài “ách xì” cơ, rô, chuồn, bích. Phi Đoàn có nhiệm vụ thả và bốc các toán lôi hổ, biệt kích, hoạt động trong vùng đất địch. Lân nổi tiếng là một phi công tài giỏi, thông minh và can đảm.

      Sau đó, được thuyên chuyển về một phi đoàn thuộc Vùng 3. Năm 1970, Lân cùng phi đoàn đã đóng góp nhiều chiến công trong các cuộc hành quân sang lãnh thổ Cam- Bốt. Năm 1972, tham dự trận chiến An Lộc, đổ quân, tản thương cho Liên Đoàn 81 BCND và một số đơn vị thiện chiến khác, Lân mấy lần bị thương nhẹ, được đặc cách thăng cấp thiếu tá. Khi đã có lệnh và đang chờ thuyên chuyển đến một phi đoàn khác để giữ chức vụ Phi Đoàn Phó, thì anh tình nguyện tham gia phi vụ cấp cứu (rescue) một phi hành đoàn bạn bị bắn rơi. Nhờ tài năng, lòng dũng cảm và nhất là tình đồng đội “không bỏ anh em không bỏ bạn bè”, anh đã bất chấp mọi hiểm nguy, cứu được 3 trong 4 người của một phi hành đoàn, khi phi cơ phải đáp khẩn cấp vì bị trúng đạn phát hỏa, người xạ thủ đã bị tử thương. Được bốn gunships yểm trợ, Lân đã lừa địch và bất ngờ đáp xuống trong màn lưới đạn, bốc ba người bạn đang bị Cộng quân truy bắt. Nhưng khi vừa bốc phi cơ lên, Lân bị trúng hai viên đạn, làm gãy xương cánh tay và ống chân trái. Sau này, trong một dịp tình cờ, tôi gặp anh co-pilot trong phi vụ này, kể lại chuyến bay rescue vô cùng hiểm nguy với tất cả lòng thán phục Lân.  Anh bảo, nếu không có Lân hôm ấy, chắc chắn việc cấp cứu đã không thành và ba người bạn cùng phi đoàn đã bị địch quân giết hay bắt sống.

     Khi ở trại Nghĩa Lộ, tôi được sắp xếp cùng tổ với Lân. Chúng tôi thuộc đội phát rừng (vào mùa Đông) và tăng gia (vào mùa Hè, vì mùa Đông, ở vùng này rất lạnh, không trồng rau được). Tù ăn uống thiếu thốn và lao động cực khổ, nhưng Lân rất khỏe mạnh. Có lẽ nhờ vào khả năng mưu sinh. Phải nói đây là một sở trường đặc biệt của Lân mà bạn tù ai cũng nể phục. Anh có thể bắt tôm, cá bằng tay không,  khi đứng giữa một dòng suối hay con sông. Nhìn dấu chân các loài vật anh biết ngay đó là con vật gì. Chỉ cần một nhánh cây anh có thể “sáng chế” thành một cái bẫy để bắt các loại chim, chồn, và cả thỏ rừng. Nhờ vậy mà anh nuôi sống cả một tổ tù, đặc biệt cứu vài người bị đau bệnh, kiệt sức. Anh còn biết cả thuốc Nam, các loại lá, vỏ cây trị bệnh. Một lần đi rừng chặt nứa, tôi bị một con ong đất chích vào tay, sưng vù lên và tím cả một vùng da. Lân cho biết nọc loài ong này rất độc, có thể làm chết người. Anh dùng dây rừng cột chặt cánh tay tôi lại, đi tìm một loại lá và vỏ cây gì đó đắp lên. Chỉ sau một giờ đồng hồ vết sưng biến mất. Một buổi trưa nhân ngày lễ, được nghỉ lao động, anh đã câu được gần ba mươi con ếch ngay trong trại, dưới các rãnh mương thoát nước. Chính tay trưởng trại đã đi theo xem và phục tài của Lân. Tất cả ếch câu được đều giao cho nhà bếp “hậu cần” để có thêm chất thịt cho anh em.  Lân cho biết là chỉ cần nghe tiếng ếch kêu đêm hôm trước là anh biết có khoảng bao nhiêu con và đang trốn ở đâu. Cần câu chỉ là một thanh tre và một sợi chỉ từ cái bao cát được Lân xe lại, và mồi câu chỉ bằng một miếng bông gòn nhỏ. Tối hôm ấy, tôi khuyên Lân nên chấm dứt chuyện câu ếch và cần phải giấu kín cái tài mưu sinh, vì có thể bị bọn cai tù nghi ngờ, “ra tay” trước đề phòng khả năng anh trốn trại. Tôi cũng ngạc nhiên, khi Lân là một phi công “hào hoa”, nhưng khả năng mưu sinh thoát hiểm rất tuyệt vời. Lân cho biết, khi còn nhỏ, nhờ cả thời tuổi thơ sống bên quê ngoại, một vùng quê ở Tây Ninh, anh đã theo đám bạn bè và cả những người nông dân lớn tuổi, học được rất nhiều điều như thế.

      Điều làm tôi nể phục hơn, ngoài mưu trí, lanh lẹ, Lân còn là một con người gan dạ, liều lĩnh và chí tình với bạn bè. Một lần trải qua một trận kiết lỵ kéo dài, thuốc men không có, tôi chỉ còn khoảng ba mươi ký, kiệt sức đứng không vững. Lơi dụng lúc đi lấy “phân xanh” ( loại lá cây để ủ thành phân bón), không có vệ binh canh giữ, Lân đã lén vào trại heo của Hợp Tác Xã (cách trại khoảng vài trăm mét, mà trước đó đám tù bọn tôi có đến vài lần làm chuồng cho họ) bắt một chú heo con (heo sữa) mang về giấu ngoài khu vực tăng gia (nằm sát bên hông trại), để hôm sau vùi vào hầm lửa ( do tù đào và dùng các gốc cây đốt lửa sưởi ấm) cho tôi ăn dần. Nhờ đó mà tôi sớm lấy lại được sức. Một lần khác, khi được giao cho công việc lên phơi lúa trên sân trại, nằm ngay trước ban chỉ huy trại, Lân thấy có một buồng chuối thật dài sắp chín được đám bộ đội chăm sóc cẩn thận, bao lại bằng mấy tấm bao cát và chống lên bằng hai thanh gỗ. Vài hôm sau, trong một buổi sáng sớm mùa Đông, khi sương mù còn dày đặc (đứng cách vài thước không nhìn thấy nhau), Lân đã lẻn lên sân trại cắt trộm cả buồng chuối mang ra chôn giấu ngoài khu lao động. Hai hôm sau chuối chín, chờ lúc không có mặt tay quản giáo, Lân đào buồng chuối lên để cả tổ cùng ăn. Vì sợ mùi chuối chín dễ bị phát hiện, nên Lân đề nghị phải ăn cho hết. Một thời gian quá lâu thiếu chất đường, nên cả tổ tám người thanh toán buồng chuối khoảng một trăm quả trong vòng 20 phút đồng hồ mà vẫn chưa thấy ngọt. Nhưng vì ăn nhiều quá, nên khi vừa đứng dậy, cả bọn bị ói thốc tháo ra toàn là chuối.

      Biết tài bắt cá của anh, nên mỗi lần trại tù hay hợp tác xã bên cạnh tổ chức “tảo” các hồ cá để thả cá con, Lân đều được chọn đi bắt cá. Hầu hết các hồ chỉ nuôi loại cá trắm cỏ, nhưng có nhiều loại cá khác, như cá lóc, cá trê sống trong đó, sẽ ăn hết đám cá trắm cỏ con. Nên trước khi thả cá, phải “tảo”hồ, băng cách bơm cạn và bắt tất cả các loại cá khác nằm dưới bùn. Lân sở trường về việc này. Nhưng thay vì  phải giao tất cả cả bắt được cho trại, anh tìm vài cái hang dưới bờ hồ, tạo thành những cái hộc để nhốt một số cá lóc vào đó. Những cái hồ cá này, cũng là nơi cho tù rửa ráy hay tắm sau giờ lao động. Và cứ mỗi lần tắm, Lân lại bắt một con cá nhốt sẵn trong hộc, mang về cho cả tổ cùng ăn. Vì là đội tăng gia, được giữ mấy cái bình tưới bằng nhôm, nên dễ dàng giấu cá trong đó mà không bị “phát hiện”.

      Có một kỷ niệm tôi không thể nào quên. Một khoảng thời gian ở Trại Hang Dơi, bọn CS luôn tìm mọi cách vắt kiệt sức của chúng tôi. Tất cả tù đều phải lên rừng chặt nứa (loại tre nhỏ) mang về bán cho nhà máy giấy Việt Trì, theo hợp đồng của trại. Chỉ tiêu mỗi ngày là ba mươi cây. Nếu không đủ, sẽ không được nhận khẩu phần ăn. Chỉ sau một tháng là nứa ở các vùng núi chung quanh trại tù hết sạch. Chúng tôi phải chia nhau một toán ba người đi rất xa lên các dãy núi cao tìm nứa.  Lân và tôi luôn đi chung một toán. Trời mùa Đông, lạnh buốt xương, và suốt cả ngày mưa phùn rả rích. Các lối mòn, ngõ ngách lên núi biến thành bùn nhão, trơn như mỡ. Bọn tôi phải đóng những cái cọc ngắn dọc trên các con đường, mỗi lần vác nứa xuống, dùng đầu ngón chân tì vào các cọc để không bị trượt ngã xuống vực. Nguy hiểm hơn là khi bị té ngã, bó nứa chùi xuống đâm vào người đi trước, có thể mất mạng. Một buổi trưa, len lỏi trong rừng già, rất khó khăn để chui qua những cây mây già, nằm chằng chịt như những con trăn dài chặn các lối đi, những cây cổ thụ cao to che hết ánh sáng mặt trời. Khi bọn tôi đang lo âu có thể bị lạc đường, chia nhau đi chặt vào các thân cây làm dấu, thì bất ngờ một một cây cổ thụ bỗng rung rinh, lá cây xào xạc,  bóng một con vật to lớn nhảy xuống. Cả ba thằng khựng lại, rồi như theo bản năng, nhanh chóng tìm lại ngồi sát vào nhau, mặt thằng nào cũng tái xanh. Bỗng Lân quát lớn: “Đừng sợ, đứng dậy, đưa dao lên!” Tôi làm theo Lân như cái máy. Khi hoàn hồn, nhận ra ngay trước mặt mình không xa, một con dã nhân (vượn người?), cao to bằng ba con người, lông lá đầy mình, mặt mày dữ tợn, đang rú gào đe dọa chúng tôi. Lân rất bình tĩnh, bảo bọn tôi cùng hét thật lớn và bước tới với con dao đưa lên chém vào không khí. Không ngờ con dã nhân lùi lại, rú thêm mấy tiếng rồi nhảy phóc lên cây, phóng đi nơi khác. Hôm ấy bọn tôi về tay không và biết là sẽ bị phạt mất phần ăn, nên Lân đã đi tìm mấy mụt măng rừng và luộc lên cho bọn tôi ăn đỡ đói. Tôi và anh bạn tù kia phục Lân vô cùng. Nếu hôm ấy mà không có Lân, chẳng hiểu bọn tôi sẽ phản ứng ra sao. Cũng đã từng bao lần vào sinh ra tử, nhưng đứng trước một tình huống quá bất ngờ này, thực tình chúng tôi mất hết bình tĩnh, chẳng biết cách nào đối phó. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một con vật lạ lùng, ghê sợ, mà trước đây chỉ biết mơ hồ qua sách vở và lời kể của ông bà.

     Năm 1979, trước khi chuyển trại để rời khỏi Hoàng Liên Sơn, vì Trung Cộng đang tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc, đội tù chúng tôi được chọn ra hai tổ đi lao động “thông tầm”, gặt lúa cho một HTX nông nghiệp, ở cách xa trại khoảng mười cây số. Lân được chọn làm toán trưởng. Chúng tôi khoảng 20 người, đi bộ, có hai tên vệ binh đi theo. Đến nơi vào buổi chiều, trời sắp tối, bọn tôi được trú ngụ trong một cái đình làng bỏ hoang, một phần mái và một bức tường đã rệu rã. HTX dùng cái sân đình để chứa và phơi lúa. Không biết có phải để “khuyến khích tinh thần” hay tạo thêm sức, HTX “bồi dưỡng” cho bọn tôi một bữa xôi nếp với thịt trâu khá no nê. Có cả một xị rượu mía. Đây có lẽ là bữa ăn thịnh soạn nhất trong đời tù bọn tôi.

      Sáng hôm sau, tay Chủ nhiệm HTX hướng dẫn chúng tôi ra khu ruộng, nằm cách ngôi đình làng khoảng 100 mét. Khi đến nơi bọn tôi mới ngỡ ngàng. Đây là những đám ruộng sình, lúa rất tốt, nhánh nào cũng trĩu đầy hạt, nhưng nếu bước chân xuống ruộng, người ta sẽ bị lún sâu xuống ngay, khó mà ngoi lên được, vì càng cử động, tìm cách thoát lên, lại càng bị lún xuống thêm, có thể ngập đầu. Bọn tôi lắc đầu ngán ngẩm, khi vừa hiểu ra cái giá của bữa cơm nếp có thịt trâu, rượu mía tối hôm qua. Trong khi cả bọn nhìn nhau bất lực, Lân đưa ra sáng kiến. Dùng các tấm cửa cũ của ngôi đình bỏ hoang, cột dây kéo hai đầu, chỉ cần một người (chọn những người nhẹ ký nhất) ngồi trên tấm cửa, gặt lúa, những người còn lại, đứng trên bờ hai đầu, thay phiên kéo và giữ thăng bằng tấm cửa và an toàn cho người gặt lúa. Một tấm cửa khác kéo theo bên cạnh, để chứa những bó lúa gặt được. Khi nào đầy lúa, người gặt ra dấu, để được kéo vào bờ. Sáng kiến của Lân được mọi người hoan nghênh, kể cả tay Chủ nhiệm. Khoảng mười tấm cửa cũ đủ loại lớn nhỏ được mang ra sử dụng, một số cuộn dây được cung cấp, kể cả một số tre được mang tới để vài anh chẻ ra đan thành những cuộn dây dài.  Không ngờ sáng kiến của Lân lại tuyệt vời. Chỉ hai hôm, tất cả lúa trên hơn mười thửa ruộng sình được gặt xong. HTX “thu hoạch” được số lượng lúa khá lớn. Tay Chủ nhiệm xin cho bọn tôi được ở lại thêm một ngày để nghỉ ngơi và “liên hoan”.  Ăn cơm trắng với cá “trám cỏ”. Thấy có một cái trống rách, bỏ nằm lăn lóc trong góc đình, Lân bèn nghĩ ra một điều “kỳ lạ” khác.  Anh tháo da từ cái trống ra, mượn một cái chảo đun sôi gần cả một đêm, sáng hôm sau, các miếng da nở ra, mềm, dẻo và trắng mướt. Lân thái nhỏ ra, xin thêm đậu phụng (lạc), giã nát cùng với ít rau, rắc lên. Miếng da rách trong chiếc trống lăn lóc ngày hôm qua, bây giờ đã trở thành một món ăn khoái khẩu. Những bạn tù hôm ấy chắc chắn không ai có thể quên Lân và những ngày tù thật đặc biệt này.

        Sau khi được chuyển về Trại Nghệ Tĩnh, Lân rủ tôi và một người bạn thân nữa tổ chức một cuộc trốn trại. Tôi rất tin tưởng vào khả năng vượt thoát của Lân. Thời gian này bắt đầu được thăm nuôi, Lân đã nhờ người nhà mang theo nhiều thức ăn khô, một số tiền mặt và một cái địa bàn nhỏ dấu kín trong hũ mắm ruốc. Nhờ hối lộ hậu hỉ cho tên công an phụ trách, nên mọi thứ đều trót lọt. Nhưng chưa tới ngày thực hiện thì bất ngờ Lân có lệnh thả. Anh rất ngạc nhiên về việc này. Kế hoạch trốn trại phải hủy bỏ, vì tôi và người bạn còn lại không tin vào khả năng của mình, nếu không có Lân.

         Năm 1983, sau gần một năm được chuyển về Trại Z-30 C Hàm Tân, tôi được thả. Ra trại, thay vì về quê ngoài Nha Trang, tôi vào Sài gòn tìm Lân. Vì trước lúc chia tay, Lân cho biết là sau khi về nhà, anh sẽ mua ghe tổ chức vượt biên. Anh còn dặn dò, bất cứ lúc nào ra khỏi tù, tôi nhớ tìm gặp anh ngay. Tôi luôn tin tưởng vào khả năng, đạo đức và chân tình của Lân.

      Thời gian trong tù, qua tâm sự của Lân, tôi biết rất rõ về nhà cửa, địa chỉ và tất cả những người trong gia đình anh. Ông cụ đã mất trước 75, Lân chỉ còn bà cụ đang sống với hai cô em gái trong ngôi nhà khá lớn ở bên Quốc lộ, gần Ngã Tư Hàng Xanh. Ông anh duy nhất là một Biên Tập Viên Cảnh Sát, làm việc tại Sài gòn, đã kịp rời khỏi Nhà Bè vào sáng sớm ngày 30.4.75.

      Lân được cả nhà, đặc biệt là bà mẹ hết lòng yêu thương. Chính vì điều này mà Lân đã không đành bỏ mẹ để ra đi khi CS chiếm Sài gòn, mặc dù khi ấy Lân có nhiều phương tiện trong tay, đã giúp khá nhiều bạn bè ra khỏi nước. Sau này Lân còn cho tôi biết, chính mẹ và các em gái của Lân đã bán nhiều tài sản và dùng vàng bạc giấu được sau các đợt “đánh tư  sản”, tìm đường dây đến một tay thứ trưởng Bộ Nội Vụ CS mua cho Lân cái giấy ra trại, để vượt biên sớm.  Lân là một trong số rất ít tù được thả sớm từ miền Bắc trong thời gian ấy.

        Khi tìm đến nhà, tôi gặp mẹ và cô em lớn của Lân. Bà mẹ cũng là một người tu hành.  Bên kia phòng khách, tôi nhìn thấy một tượng Phật Quan Âm lớn hơn một người thật, cao gần đến trần nhà. Tôi bảo tôi là bạn tù rất thân của Lân vừa mới được thả ra, tìm đến thăm Lân, nhưng cả mẹ con đều bảo Lân đang sống ở vùng kinh tế mới dưới Phước Tuy. Nhìn vẻ mặt của hai người tôi biết là họ đang nghi ngờ tôi, có thể là một gã công an nào đó muốn thăm dò tin tức Lân. Khi tôi hỏi xin địa chỉ nơi ở của Lân trong vùng kinh tế mới để đi thăm, viện cớ là tôi ở ngoài Trung, sau này khó có thể gặp Lân, hai người bảo là không biết, hơn nữa người lạ cũng không được phép đến đó. Đoán là có điều gì xảy ra cho Lân, nên cả  mẹ và em Lân cố tình giấu giếm, tôi lấy tờ Giấy Ra Trại đưa cho cô em xem và kể thêm một số chi tiết về Lân cũng như những người trong gia đình. Khi ấy hai người mới tin và cho tôi biết là Lân tổ chức vượt biên, kéo theo một số bạn bè, nhưng chẳng may ghe bị mắc cạn ở cửa sông Mỹ Tho, Lân bị bắt và đang bị nhốt trong một trại tù rất khắc nghiệt. Tôi cám ơn và xin tạm biệt, nhờ chuyển lời thăm Lân khi có thăm nuôi. Tôi cũng để lại địa chỉ và nhờ nói lại với Lân, khi ra tù nhớ liên lạc với tôi. Mẹ của Lân bảo cô em vào lấy một số tiền biếu tôi. Tôi từ chối nhưng hai mẹ con nhất mực bắt tôi phải nhận. Cô em đã nhét tiền vào túi áo của tôi.

        Sau hơn tám năm, trở về nhà, chưa kịp làm quen với mấy đứa con, nhất là con gái út còn nằm trong bụng mẹ ngày tôi vào tù, và cũng chưa kịp hỏi được tin tức về nơi chôn cất cha tôi, ông đã chết trong môt trại tù khác trong Nam từ tháng 6/1976, thì bốn hôm sau, tôi được “mời” ra công an thị trấn, nhận cái giấy trả lại trại tù, với lý do “nhân dân địa phương không chấp nhận cho tôi được tạm trú”. Khăn gói vào lại trại tù Z-30C, được cho ở tạm nhà thăm nuôi ba hôm, sau đó nhận một tấm Giấy Ra Trại khác, với nơi chỉ định tạm trú mới là sinh quán của tôi. Ở đó tôi chẳng còn ai, ngoài bà cô già, góa bụa sống trong ngôi nhà từ đường của ông bà nội tôi để lại. Tôi lại bị chính quyền CS ở đây hành hạ, làm nhục đủ điều. Không còn con đường nào khác, ngoài vượt biên. Nhờ một ông anh con ông cậu ruột, nguyên là một HSQ Hải quân, đang có sẵn ghe đánh cá, tôi liều lĩnh âm thầm khuyến khích và tổ chức vượt biên, chỉ dành cho gia đình và những người thân thiết nhất. Tôi nhờ đứa cháu vào nhà Lân. Rất may là Lân vừa mới ra khỏi tù hơn một tuần lễ, cũng nhờ bà mẹ lo lót.  Lân mua giấy tờ giả, đóng vai một “cán bộ thương nghiệp” ra Nha Trang công tác. Tôi gởi Lân ở chung nhà với một người bạn thân khác của tôi, là căn phòng nhỏ ngay phía sau một trường tiểu học mà anh là hiệu trưởng, không ai để ý. Đúng giờ hẹn, tôi cho người đón Lân bằng xe Honda và đưa Lân trốn trong một ghềnh đá sát bên bờ biển ở một nơi an toàn. Tôi hẹn cho ghe ghé đến, đậu xa bờ khoảng 200 mét, báo mật hiệu bằng đèn và cho thằng cháu chèo thúng chai vào đón. Nhưng Lân bảo không cần, vì thúng chai chèo chậm lắm, anh sẽ bơi ra tàu cho nhanh. Khi kéo Lân lên tàu, hai đứa ôm chầm lấy nhau, như thầm hứa hẹn một “trang sử” mới.

       Mặc dù có người anh định cư ở Mỹ từ 1975, nhưng Lân quyết định cùng đi Na-Uy với chúng tôi. Mấy lần tôi hỏi, có phải trong lòng Lân còn “hận” Mỹ, đã phản bội, bỏ rơi người bạn đồng minh, để đất nước và cả dân tộc mình điêu đứng lầm than?  Lân cười, bảo chỉ muốn sống gần tôi, người bạn đã cùng sống chết với anh trong suốt đoạn đời tù đày khốn khổ.

       Lân cùng học rồi cùng vào làm một sở với tôi cho đến ngày về hưu. Chúng tôi cùng hăng say hoạt động trong một tổ chức kháng chiến ngay từ ngày đến Trại Tị Nạn Bataan, Phi Luật Tân. Vào thời điểm ấy, tổ chức này rất nổi tiếng và được nhiều người khắp nơi tham gia, ủng hộ. Khi một cán bộ cao cấp của tổ chức từ Hoa Kỳ đến Na-Uy sinh hoạt, cả Lân và tôi xin tình nguyện được về “chiến khu quốc nội”(?), nhưng ông ta bảo không còn cần thiết nữa. Chỉ một tháng sau đó, tổ chức này rạn nứt, tan vỡ, phơi bày bao điều không thật, đau lòng. Chúng tôi thất vọng và phẫn nộ khi có cảm giác mình bị lừa dối. Những năm sau, Lân sang Mỹ nhiều lần, thăm ông anh, họp bạn bè và tìm hiểu các tổ chức, hội đoàn hoạt động ở đây. Anh háo hức, thiết tha mong được đóng góp phần mình. Lân thường bảo, cuộc sống lưu vong này sẽ trở nên vô nghĩa, nếu chúng ta không làm được điều gì. Chẳng lẽ rồi bọn mình cũng chỉ là những “con chim ẩn mình chờ chết!”hay sao?

      Cuối cùng, dường như Lân đã không tìm được một “ánh sáng nào ở cuối đường hầm”. Anh bảo những hình thức, phô trương, những bộ quân phục và lon lá bị lạm dụng, những ông bà háo danh, tranh giành cộng đồng này, hội đoàn nọ, tệ nhất là mấy cái chính phủ với đám tướng tá tự phong, tự diễn, lố bịch như đám phường tuồng, làm anh muốn buồn nôn.

      Có những ông chưa có một ngày trong lính, nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một nhà quân sự tài ba, huênh hoang chê bai ông tướng này ông tá khác, phê phán đủ các trận chiến ngày xưa. Cũng có những ông gốc lính, chẳng biết ngày xưa khí phách, tài năng đến đâu, giờ nằm nhà chửi bới, chụp mũ không sót một người nào.

      Bạn bè thì một số thoải mái với cuộc sống mới và đã biến thành những con người mới, quên mình đã từng là lính và bị tù đày. Một số thì tìm đến với nhau trong những hội hè, mong có nhiều cuộc họp mặt tiệc tùng, để có dịp mặc bộ quân phục, tìm lại chút “dư âm ngày cũ”. Chưa kể một số đua nhau về Việt nam, để đi trở lại trên những “đường xưa lối cũ.”  Lân bảo, vẫn biết mỗi người có quyền chọn cho mình một cách sống riêng để bù đắp những mất mát hay xoa dịu phần nào vết thương quá khứ, tất cả đều tội nghiệp, nhưng sao anh vẫn thấy có điều gì đó làm xót xa, đau đớn trong lòng.

      Đôi khi Lân than thở với tôi:

      -Đã hơn gần 30 năm sống trong cái cộng đồng ly hương này, sao nhiều lúc mình vẫn có cái cảm giác bồng bềnh như ngày nào còn ngồi với bạn trên chiếc thuyền vượt biển ra khơi!

       Tôi lên mặt lý sự cốt an ủi Lân:

      -Bạn đừng lý tưởng quá, thời gian nó sẽ xói mòn và làm đổi thay tất cả. Trong cái xô bồ, mình phải gạn lọc để chấp nhận và trân trọng những gì tương đối, bởi rất nhiều anh em, cũng như chúng ta, đành phải “lực bất tòng tâm” trước những ước vọng đó sao!

        Tôi thầm tiếc và tội nghiệp cho Lân, một con người yêu nước, tài ba, can đảm và đức độ như vậy mà chẳng còn một nơi nào để “dụng võ”.



         Nhiều lúc thấy Lân trầm ngâm, ngồi im lặng như một thiền sư, tôi tự hỏi, từ ngày chọn con đường tu hành, ngày đêm với kinh kệ, không biết trong lòng Lân có còn nỗi khắc khoải nào không? Tôi ngại không dám hỏi Lân. Mới đây, trong lúc ngồi bên nhau Lân nói với tôi:

      -Bây giờ tôi chỉ còn mong ước hai điều, trước khi chết được thấy đất nước mình đổi thay, không còn Cộng sản, và khi nhắm mắt được có bạn ở bên cạnh để vuốt mắt và niệm cho tôi một bài kinh A Di Đà!

***

      Con chim gỗ trên chiếc đồng hồ treo trong quán cà phê vừa hót lên bảy tiếng. Như vậy là bọn tôi ngồi đây đã ba giờ đồng hồ. Trời không tối nên cứ tưởng còn sớm lắm. Ánh mặt trời vẫn chói chang qua những tàng cây. Tôi đứng dậy dành đi trả tiền. Lân bước ra trước, đứng chờ ở vệ đường, nhắm mắt ngước mặt lên trời. Không biết anh đang cầu nguyện điều gì hay muốn xóa đi, quên hết những gì mà chúng tôi vừa tâm sự, để trở về với cái tâm yên tĩnh của một thầy tu. Anh đứng yên lặng nhưng cái bóng của anh lung linh, sống động trải dài theo bờ con dốc đá. Nhìn cái bóng, tôi mơ hồ như bất ngờ được gặp lại người phi công trẻ, hào hoa, oai hùng, mà mình đã từng quen biết từ một thời nào xa xưa như trong tiền kiếp.

      Bỗng dưng, tôi nhớ tới những đồng đội bạn bè đã hy sinh, nhớ tới những chàng phi công hào hùng đã từng sống chết với đơn vị tôi trong Mùa Hè 1972 và suốt một thời binh lửa. Khi bước đến bên Lân, tôi vẫn thấy anh đứng lặng yên, bất động, hướng mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Trên không gian bao la chỉ có vài áng mây đang chầm chậm bay về phía cuối chân trời.

Phạm Tín An Ninh



Chỉnh sửa lại bởi Nhom12yeuthuong - 05/May/2016 lúc 3:26pm
Có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về...
IP IP Logged
Nhom12yeuthuong
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 13/Sep/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 7169
Quote Nhom12yeuthuong Replybullet Gởi ngày: 02/May/2016 lúc 9:36am

Có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về...
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 162 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.490 seconds.