Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Tâm Tình
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Đời Sống - Xã Hội :Tâm Tình  
Message Icon Chủ đề: NIỀM TIN & HY VỌNG&GƯƠNG TỐT&CHIA SẼ Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 150
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 24/Nov/2025 lúc 12:54pm
Cô Gái Sang Trọng Và Người Ăn Xin (Song Ngữ)
 


Từng ngạc nhiên khi thấy quý cô nọ kiên nhẫn thuyết phục người ăn xin ngồi trên góc phố, anh cảnh sát không khỏi xúc động khi biết được cuộc hội ngộ thú vị giữa hai người.

Một ngày nọ, người phụ nữ trông thấy một người ăn xin trên đường. Ông ta trông có vẻ khá già với râu ria xồm xoàm cùng quần áo lếch thếch. Mọi người qua đường đều nhìn ông bằng ánh mắt chẳng tốt đẹp gì vì với họ ông chỉ là một kẻ ăn xin bẩn thỉu và rách rưới. Chỉ có người phụ nữ này thấy thương cảm với người đàn ông nghèo khổ kia. 

Ngoài trời thì rét căm, lão ăn xin co quắp trong bộ trang phục chính xác hơn là một cái áo khoác lớn đã sờn cũ quần lấy người. Trông chúng không có vẻ gì là có thể mang đến hơi ấm cho ông cả. 

"Thưa ông, ông vẫn ổn chứ?", người phụ nữ lịch sự hỏi.

Nhìn vào quý cô đang đứng trước mặt, ông lão gằn giọng hừm một tiếng lớn. Một người có địa vị như vậy đứng trước mình chỉ có thể là giống như nhiều người khác, muốn chọc ghẹo, chế giễu mình mà thôi. 

Người phụ nữ vẫn đứng yên ở đó. Điều làm ông càng ngạc nhiên hơn nữa là cô còn mỉm cười và hỏi ông có đói không. 

“Không. Tôi vừa mới đi ăn với Tổng thống về đây. Xong chuyện rồi, cô đi đi”, người ăn xin đáp lời với vẻ châm biếm.

Người phụ nữ nọ vẫn cười. Cô khẽ đưa tay vào dưới cánh tay người ăn xin và cố kéo ông đứng dậy.

“Này cô, cô đang làm cái quái gì vậy?” người ăn xin kêu toáng lên.

Một người cảnh sát từ xa đi tới hỏi: “Có chuyện gì không, thưa cô?”

“Không có chuyện gì lớn đâu ngài cảnh sát. Tôi chỉ đang cố kéo ông ấy đứng lên thôi. Anh giúp tôi một tay nhé!” cô trả lời. 

Người cảnh sát ngạc nhiên nhìn cô và nói: 

“Người đàn ông vô gia cư này đã ở đây mấy năm rồi. Chắc cô phải có chuyện gì cần giải quyết với ông ta chứ?”

“Chỉ là tôi muốn đưa ông ấy đến một cửa tiệm để ăn chút gì đó và giúp ông tránh cái lạnh ngoài trời một lúc thôi.”

“Cô bị điên à, thưa cô?” người ăn xin cương quyết. “Tôi không muốn tới đó!”

Đột nhiên, ông cảm thấy có một bàn tay to khỏe đang nhấc lấy cánh tay kia của mình, ông nói lớn: 

“Buông tôi ra, ngài cảnh sát. Tôi có tội gì đâu”

“Đây là cơ hội để ông có một bữa ăn no đấy. Đừng như vậy”, người cảnh sát khuyên nhủ.

Sau một hồi giằng co, cuối cùng cả ba cũng đi tới một quán cà phê. Quán ăn vừa mới phục vụ xong cho buổi sáng và vẫn còn quá sớm để bắt đầu bữa trưa. Người quản lý sải bước về phía bàn và hỏi xem chuyện gì đang xảy ra. 

“Có chuyện gì vậy thưa ngài cảnh sát? Gã ăn xin này phạm tội gì à?”

“Không! Quý cô đây muốn mời ông ấy một bữa ăn”, vị cảnh sát đáp.

Người quản lý tỏ rõ thái độ không hài lòng: “Không phải trong quán của tôi chứ? Ông ấy sẽ khiến việc kinh doanh của chúng tôi bị ảnh hưởng."

Người ăn xin liền nói: "Giờ thì cô đã biết tại sao tôi không muốn đến đây rồi đấy. Buông tôi ra! Tôi đã nói không muốn đến chỗ này rồi mà."

Người phụ nữ nhẹ nhàng quay sang nói với người quản lý: "Thưa ông, tôi chắc là ông biết ngân hàng Eddy & ***ociates ở cuối dãy phố này chứ?”

"Đương nhiên tôi biết. Họ thường tổ chức họp hàng tuần trong phòng tiệc của chúng tôi”, người quản lý nhanh nhẹn đáp. 

“Chắc các ông cũng kiếm được kha khá từ những buổi đó nhỉ?”

“Vì sao chuyện đó lại khiến cô bận tâm?”

Bởi vì tôi là CEO của công ty đó!" 

Người quản lý thốt lên và không biết phải nói gì nữa trong hoàn cảnh này. 

Người phụ nữ quay sang phía cảnh sát và hỏi: “Anh có thời gian để dùng bữa cùng chúng tôi chứ?”

“Cảm ơn cô nhưng tôi đang trong ca trực”, anh đáp.

“Vậy thì một cốc cà phê nhé?”

“Vâng. Tôi nghĩ như thế sẽ tốt hơn”.

Người quản lý nhanh nhảu nói: “Để tôi đi làm cà phê cho anh, anh cảnh sát.”

“Cô thật tốt với người ăn xin”, viên cảnh sát nói với quý cô.

" Sự thật là khi bước xuống phố sáng nay, đây không phải là điều tôi dự định sẽ làm đâu”. Cô quay sang nhìn người ăn xin và hỏi: “Này ông lão, ông có nhớ tôi không?”

Người ăn xin suy nghĩ một hồi: “Đúng là nhìn cô quen lắm.”

“Ông có nhớ cô gái từng co ro trong cái rét và đói từng xuất hiện ở gần nơi ông làm việc trước đây chứ? Cô ấy có vẻ già đi nhiều phải không?”, người phụ nữ gợi ý.

Chứng kiến cuộc trò chuyện, người cảnh sát không khỏi ngạc nhiên. Anh không thể tưởng tượng được rằng quý cô xinh đẹp đang đứng trước mặt mình từng là một cô gái nghèo khổ.

“Lúc ấy tôi vừa mới ra trường và chuyển tới thành phố này để tìm một công việc. Rất lâu sau đó, tôi vẫn chưa kiếm được công việc nào. Không còn đồng nào trong túi, tôi phải trả căn phòng đang thuê và thành người vô gia cư, sống trên những con phố một thời gian. 

Tôi vẫn còn nhớ, đó là vào những ngày lạnh giá của tháng 2. Tôi thấy quán ăn này và đã liều mình bước vào với hy vọng sẽ tìm được chút thức ăn nào đó còn thừa hay những đồng bạc lẻ còn sót lại.”

Một ký ức lóe lên trong đầu người ăn xin: 

“A! Tôi nhận ra cô rồi. Hồi đó tôi làm ở quầy thu ngân. Cô bước vào và hỏi liệu cô có thể làm việc gì đó để đổi lấy thức ăn không. Tôi trả lời điều đó vi phạm quy định của cửa hàng.”

“Đúng! Và sau đó, ông đã mang ra cho tôi một cái bánh sandwich kẹp thịt bò nướng thật là to cùng một cốc cà phê. Ông còn tử tế cho tôi ngồi vào bàn để thưởng thức bữa ăn của mình. Tôi đã nhìn thấy ông trả thay tôi số tiền của bữa ăn đó.”

Người ăn xin bắt đầu tò mò: “Và cô đã bắt đầu kinh doanh ngay sau đó?"

“Cũng không nhanh vậy. Trưa hôm đó, tôi đã tìm được việc. Sau một khoảng thời gian học hỏi, tôi đứng ra kinh doanh riêng.”

Người phụ nữ mở túi xách lấy ra một tấm danh thiếp và dặn dò ông lão: “Hãy ghé qua phòng nhân sự của chúng tôi nhé. Tôi sẽ nói với người trưởng phòng. Chỗ chúng tôi có lẽ có việc cần đến ông đấy. Tôi sẽ đưa trước cho ông một số tiền để ông trang trải sinh hoạt.”

Người ăn xin bật khóc khi nghe những lời nói đó. Ông nghẹn ngào nói trong nước mắt: 

“Làm sao tôi có thể trả ơn cô đây?”

“Ông không cần phải làm vậy đâu. Cảm ơn trời đất khi đã để tôi được gặp lại ông. Cảm ơn anh cảnh sát vì đã giúp chúng tôi nhé!”.

Người cảnh sát đáp lời: 

“Thưa cô Eddy, tôi phải cảm ơn cô mới phải. Hôm nay cô đã cho tôi thấy một điều kỳ diệu. Và cũng cảm ơn cô rất nhiều vì cốc cà phê nhé!”

Nghe đến đây, người phụ nữ chợt nhớ ra: “Tôi quên không hỏi anh thích dùng sữa hay đường rồi. Đây là cà phê đen.”

“Tôi thích cho sữa và nhiều đường nữa.”

“Ôi, tôi sơ ý quá!”

“Cô đừng xin lỗi. Với tôi, ly cà phê trên tay có vị ngọt ngào như đã thêm đường vậy!”

Nguồn: https://eva.vn/eva-tam/quy-co-sang-trong-keo-lao-an-xin-vao-quan-an-canh-sat-rung-rung-vi-mot-dieu-ky-dieu-c66a430504.html

 

A BEGGAR AND A LADY

February 29, 2016


As a woman walked down the streets one day, she spotted a beggar. The man looked pretty old, unshaven and ill-dressed. Every p***erby looked at him with contempt; Not like they had anything against him, but merely because of who he was- a filthy beggar.

But when this particular woman saw him, she was filled with comp***ion.

The beggar was improperly dressed for a weather so cold. Precisely, he wasn’t dressed by wrapped up in what looked like a coat from a very old and not-so-warm suit. She kindly asked the man “Sir? Are you all right?”

The man looked at the women, who, clearly by her appearance was a demonstration of what people from a wealthy background looked like. The old beggar thought that she, like every other person, was mocking him. “Leave me alone,” he growled.

The women did not move. Instead, to his surprise, she smiled at him and gently asked if he was hungry.

“No, I’ve just come from dining with the president. Now go away.”-the beggar replied with a notable sarcasm. The woman’s smile did not fade. She slid her hands under the beggar’s arm and tried to pick him up.

“Woman, what do you think you are doing?” the beggar sounded annoyed.

“Is there a problem ma’am?” a policeman shouted, walking towards the lady and the beggar.

“Not at all officer. I’m just trying to get this man to his feet. Will you help me?”-the women replied

The policeman looked at her with surprise- “that man is old jack and has been here for  years. What have you got to do with him anyway?”

“I am taking him to a cafeteria to eat something and to get him out of the cold for a while”- The women answered.

“Are you crazy, lady?” the homeless man resisted. “I don’t want to go in there!” Then he felt strong hands grab his other arm and lift him up. “Let me go, officer. I didn’t do anything.”

“It’s a good chance to feed yourself jack. Don’t blow it.”- The officer advised.

After a lot of difficulty, the woman and the officer managed to drag jack into the cafeteria. It was past breakfast and too early for lunch hour of the day. The manager strode towards the table and asked “What’s going on here, officer?” he asked. “Is this man in trouble?”

“She brought old jack in here to be fed,” the policeman answered.

“Not in my cafeteria! People like him are bad for business.”-the manager angrily retorted.

“Now you know why I didn’t want to come in here woman.”- Jack said to the lady-“now let me go. I never wanted to be here in the first place.”

The woman turned to the cafeteria manager and smiled. “Sir, I reckon you know Eddy and ***ociates, the banking firm down the street?”

“Of course I do, ” the manager answered impatiently. “They hold their weekly meetings in one of my banquet rooms.”

“And I guess you make a good amount of money through those meetings.”

“Why does it concern you, I anyway?”

“Because I am the CEO of the company” the women replied, showing no sign of pride in her statement. “Oh.”- it was all that the manager managed to say.

She looked at the officer- “Would you like to join us in a cup of coffee and a meal, officer?”

“No thanks, ma’am,” the officer replied. “I’m on duty.”

“Then, perhaps, a cup of coffee to go?”

“Yes, ma’am. That would be very nice.”

“I’ll get your coffee for you right away, officer.”-the manager immediately replied.

“You served him right,” he said.

“Oh, believe me officer, that was not what I intended. I have a reason behind all this.” She stared at Jack intently, and asked “Jack, do you remember me?”

Old Jack examined her face- “well you do look familiar.”- He thoughtfully added.

“Do you remember a cold and hungry girl who frequently visited this place when you worked here?” the women asked – “she has perhaps grown old hasn’t she?”

The officer looked surprised. He couldn’t imagine this fine looking woman as a poor and hungry woman.

“I had just graduated and had come to the city looking for a job. Didn’t find one for a really long time. I was running out of cash and had been asked to vacate my apartment too.  I lived on these streets for days. It was the cold month of February, I still remember. And that’s when I found this place and walked in hoping to find eatable my little budget could afford.”

Jack’s face suddenly lit up- “now I remember you. I used to be at the counter. You came up and asked me if you could work for something to eat. I said that it was against company policy.”

“I know,” the woman said. “Then you offered me the biggest roast beef sandwich, a cup of coffee, and a table for me to sit and enjoy the meal. I saw you put the price of my food in the cash register”

“So you started your own business?” Old Jack asked.

“No, not exactly. That very afternoon I got a job. I worked my way up. Then, I started my own business.” She opened her purse and pulled out a business card. “Please pay a visit to the personnel director of my company. I’ll go talk to him now. I am sure there is something in my office for which we can use your help. We can even pay you a certain amount of your salary in advance.”


Theo Alltimeshortstories
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 28/Nov/2025 lúc 11:12am

Một Câu Hỏi Của Người Miền Bắc


 Một câu hỏi.

“Để trả lời một câu hỏi?”
Có lần mình đã gặp một anh người Bắc, nói năng nho nhả cũng thuộc dạng trí thức anh đã hỏi mình một câu như vầy :
Em người miền Nam sống ở Saigon từ nhỏ, anh hỏi thật em trả lời đúng sự thật với suy nghĩ của người Saigon nhé !
Tại sao cũng là người Bắc, nhưng Bắc 54 di cư vô miền Nam, tới giải phóng là 21 năm.
Anh vô miền Nam năm 75 đến giờ là 42 năm, gấp đôi dân 54.
Thế nhưng tại sao người SàiGòn lại coi Bắc 54 là một phần của họ gặp nhau tay bắt mặt mừng như ruột thịt, anh để ý riêng bản thân anh thôi nha. Có thân lắm có vui lắm, dân SàiGòn vẫn luôn mang một khoảng cách khi tiếp xúc với anh, nếu họ biết anh đến với Sài Gòn năm 75???
Trời, một câu hỏi khó cho thí sinh à nha !
Em trả lời thật, anh đừng giận em nói :
-Tách riêng 2 phần chính trị và văn hoá nghệ thuật ra đi ha!

Phần chính trị thật ra khi giải phóng vô em mới có gần 15 tuổi thôi về quan điểm thắng, thua em chưa đủ trình độ nhận xét,
Nhưng nếu nói về cuộc sống của thời trước và thời sau 75, khác nhau nhiều lắm : sướng khổ rỏ rệt. Má em chỉ là công chức nhỏ của tổng nha kiều lộ, bây giờ mấy anh gọi là cầu đường đó, nhưng hồi nhỏ em rất sướng, đi học toàn trường dòng, em không biết ngoài Bắc anh có không, chứ thời đó mà học nội trú là mắc lắm đó, nhà em không giàu, cậu đi lính Quốc Gia, dì và ông ngoại đều dân Kiều lộ, nhưng sống rất thanh thản, mặc dầu lúc đó chiến tranh tràn lan khắp nơi.
Thời đó người Bắc di cư vô Nam, thường sống từng vùng do chánh phủ chỉ định, rồi từ từ lan ra.
Người miền Nam học được người Hà Nội nhiều điều : Cần kiệm, lễ giáo, nếp sống thanh lịch quý phái và tri thức.
Người miền Bắc vô Nam học được của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam nói chung : Sự giản dị, chân thật, tốt bụng, phóng khoáng ; không câu nệ bắt bẻ hay khó khăn.
Và cả hai miền học được của miền Trung cái chịu thương chịu khó, cái đùm bọc tình đồng hương.
Cả ba miền hoà nhập với nhau, ảnh hưởng nhau lúc nào không hay. Hồi đó, em đi học gặp mấy đứa bạn Bắc Kỳ rốn vẫn hay chọc tụi nó là “Bắc kỳ con bỏ vô lon kêu chít chít” mà tụi nó cũng không giận, chọc lại em : “mày Nam kỳ ga guộng, bắt con cá gô, bỏ dô gổ ,kêu gột gột”, rồi lại khoác tay nhau chơi bình thường. Trẻ con thì như vậy, người lớn gặp nhau ba miền chung bàn nhậu là dô đi anh hai mình, là tay bắt mặt mừng …

Em nói dài dòng để cho anh hiểu rõ hơn vì sao Bắc 54 trở thành người miền Nam.
Chưa kể đến cái tình nha anh! Tình đồng đội khi chiến đấu chung. Ngoài anh chắc gọi đồng chí, trong đây em nói quen tiếng dân Sài gòn xưa, lúc chiến tranh mà đi lính thì cũng phải đi chung, cả ba miền gặp nhau giữa lúc thập tử nhất sinh, thân nhau là chuyện bình thường.
Đó là lính, còn người dân giữa cái tan tác đau thương chạy loạn lạc, chết chóc hầu như từ mũi Cà Mau đến sông Bến Hải…. nơi nào không có. Từ đó, người ta thương yêu nhau và không ai nghĩ miền nào là miền nào. Người ta gọi đó là tình đồng bào, tình quân dân cá nước nói theo kiểu miền Nam của em.
Đó là nói hơi thiên về chính chị chính em đó nha !

Bây giờ, bàn hơi sâu văn hoá nghệ thuật thời đó nha !
Em nói với anh ngay từ đầu rồi nhé ! Lúc đó em chỉ mới 15 tuổi, làm sao đủ tư cách phê bình văn học. Em chỉ kể cho anh nghe theo cái hiểu biết nhỏ bé của em thôi.
Người miền Bắc 54 vô miền Nam đem theo được gì nhỉ ?
Người thì chắc cũng không có của cải gì nhiều rồi, đi giống như đi vượt biên mà có gì, sao anh cười, em nói thiệt mà !
Nhưng có một di sản khổng lồ mà người miền Bắc 54 đã đem cho miền Nam. Đó là văn hoá, nghệ thuật. Nếu xét kỹ, nhà văn thời đó của người Nam bộ vẫn ít hơn người Trung và Bắc. Những tác phẩm giá trị, từ dịch thuật đến thơ văn, hầu như tác giả người Hà Nội, người Huế, Đà Nẵng, Sài gòn, v.v… toàn những tác phẩm để đời.
Em xin lỗi, “giải phóng” hơn bốn chục năm rồi, nhưng nếu ai có hỏi em đã đọc được cuốn sách nào để lại ấn tượng trong em chưa….
Xin chào thua, giận em, em chịu, vì có đọc đâu mà nhớ !
Chả có gì cho em ấn tượng, chắc một phần do em dốt anh ạ, nên không hiểu nổi văn học thời này thôi.

Nói đến nghệ thuật cái này thì em thích ca thích hát nên hơi rành một chút. Chắc anh không ít thì nhiều cũng phải có nghe Duy Quang hay Sĩ Phú, Duy Trác, Tuấn Ngọc… những người con Hà Nội hát trước 75, nói về văn học có thể anh không biết chứ hát hò anh phải biết sơ thôi.
Vâng, Hà Nội 36 phố phường để lại cho người miền Nam nhiều ca khúc để đời của Phạm Duy, chắc anh không biết bài Viet Nam… Việt Nam, bài tình ca Con đường cái quan, của bác ấy .
Em nói nhiều về Pham Duy vi đúng là dân Hà Nội 45 đó anh !
Oh, anh biết nhiều về Phạm Duy, như vậy chắc anh cũng biết rõ những nghệ sĩ nổi tiếng trước 75, đến bây giờ vẫn ăn khách, những người ca sĩ mà anh biết không, cái thời ngăn sông cấm chợ, muốn được nghe phải thức canh đài BBC hay đài VOA, vừa nghe vừa khóc vì quá xúc động. Đó là lý do tại sao ca sĩ Hải ngoại khi về nước người ta đi đón râ`n trời, một cái vé có khi nữa tháng lương người ta vẫn cắn răng để nghe cho bằng được thần tượng của mình hát.
Đó là ca sĩ Hà Nội, còn trong Nam hay ngoài Huế cũng rất nhiều ca sĩ nổi tiếng, kiểu Chế Linh, Nhật Trường, Duy Khánh, v.v…
Em xin lỗi anh nhé, có thể ca sĩ ngày xưa người ta hát không cần phải là học trường lớp thanh nhạc như cái cô Thanh Lam gì ngoài Bắc của anh bây giờ đâu, nhưng vẫn đi vào lòng người nghe mãi không quên, còn cô ấy học cao quá diva diviec gì đó, nói thiệt anh đừng cười em lạc hậu với thời cuộc quá anh ạ, nhờ cái chuyện cổ chửi ca sĩ miền Nam thất học, dư luận ồn ào quá, em mới để ý, chứ thiệt tình bình thường em mà biết cô này .. em chết liền đó anh, chưa từng nghe giọng hát này bao giờ.
Thì đó, nhờ những tác phẩm giá trị của văn học nghệ thuật, những nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ đều có sự đóng góp của Huế, Sài gòn, Hà Nội.. đã đưa ba miền Nam-Trung-Bắc, gần nhau hơn, hoà quyện lại với nhau thành một.
Cám ơn anh chịu khó nghe em phân tích một cách dài dòng xoay quanh câu hỏi của anh.

Vì đây là lần đầu tiên em được nghe một câu hỏi rất thật của một người Bắc vào trong Nam … năm 1975 .Thế cho nên em cũng trả lời rất thật lý do vì sao Bắc 54 lại là dân miền Nam dầu chỉ mới sống với nhau có 21 năm.
Và dân Bắc 75, dầu sống trong Nam đến 42 năm, vẫn mãi mãi là …. người Bắc, chứ không thể nào là người Hà Nội của dân miền Nam xưa.

Với một ít kiến thức nhỏ nhoi, một ít kinh nghiệm sống từng trải qua những thăng trầm của đất nước.
Em xin các cô bác, anh chị đã, đang và sắp đọc những giòng tự sự này một lời xin lỗi nếu như em có viết sai một ít chi tiết nào đó, các bậc cao nhân, tiền bối làm ơn bỏ qua cho kẻ hậu bối này câu trả lời mơ hồ của em, chắc chưa đủ sức thuyết phục cho anh bạn miền Bắc của chúng ta hiểu rõ hơn… Nhưng sức người có hạn, em nói rồi – tầm hiểu biết của em hạn hẹp bao nhiêu đấy thôi.
Xin chỉ giáo thêm!

Khuyết Danh

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 04/Dec/2025 lúc 4:14pm

Trái Tim Vẫn Còn Chỗ…



Tôi lấy chồng ở tuổi 65. Con tôi nói tôi “phản bội” người cha đã khuất của chúng.

“Đồ phản bội.”

Đó là từ mà con gái cả đã dùng khi tôi nói với nó về Carlos.

Tôi nghe tiếng thở của con ở đầu dây bên kia, cái im lặng nặng nề luôn đến trước cơn bão. 

— Mẹ ơi, ba mất mới… mười lăm năm thôi.

“Tạm bợ mười lăm năm à?”, tôi lặp lại, cảm thấy chữ đó vỡ vụn trong miệng mình. 

Mười lăm năm không phải “mới”.

Là 5.475 ngày thức dậy một mình.

Là hàng ngàn bữa tối trước tivi, nói chuyện với bản tin chỉ để nghe tiếng của chính mình.

Là vô số hoàng hôn, ngồi nhìn ảnh của chúng tôi cho đến khi nước mắt tự cạn.

Chồng tôi qua đời vì nhồi máu cơ tim lúc sáu mươi hai tuổi. Khi đó tôi mới năm mươi.

“Còn nửa đời phía trước,” bác sĩ an ủi.

Tôi chỉ nghĩ: “Nửa đời trống trơn.”

Những năm đầu là sống sót đúng nghĩa.

Tôi học cách sửa bình nước nóng, tự giữ sổ sách chi tiêu, và ngủ vắt ngang giường để không cảm thấy khoảng trống bên cạnh.

Ba đứa con đưa gia đình về mỗi chủ nhật; tiếng cười và ồn ào lấp đầy căn nhà, rồi tất cả lại đi, để lại cho tôi đồ ăn thừa cho cả tuần và một khoảng lặng dội vào tường. 

— Mẹ nên ra ngoài một chút, theo một lớp gì đó, kết bạn đi mẹ. 

Tôi thử. 

Tôi học vẽ màu nước. 

Ở đó, tôi gặp những góa phụ khác — họ nói về chồng ở thì hiện tại, như thể các ông chỉ mới ra ngoài mua tờ báo.

Ba tháng sau, tôi bỏ lớp.

Tôi gặp Carlos ở siêu thị, theo cách tầm thường nhất: xe đẩy của chúng tôi va vào nhau ở dãy đồ hộp.

Ông tìm ô-liu xanh, tôi tìm atisô.

Chúng tôi bật cười. Ông có một tràng cười ấm, thứ lây lan mà bạn chẳng hiểu vì sao.

— Sáu mươi lăm năm sống trên đời mà tôi vẫn chưa biết đọc nhãn mác, — ông nheo mắt nói.

— Tôi cũng sáu mươi lăm, — tôi đáp, — và kính thì để trong xe.

 Chúng tôi uống một ly cà phê ở quầy. Rồi thêm một ly nữa. Tuần sau lại gặp.

 Carlos cũng góa bảy năm.

 Chúng tôi nói về hôn nhân của mình mà không mặc cảm, bằng sự thẳng thắn bình thản của những người chẳng còn gì phải chứng minh.

 Vợ ông là người tốt.

Chồng tôi là người tốt.

Chúng tôi đã yêu.

Chúng tôi đã khóc.

 Và rồi tiếp tục sống, vì đó là điều người còn sống phải làm.

— Mẹ không thay thế ba con, — tôi nói khi gọi cả ba đứa về phòng khách. 

Carlos chờ ngoài xe, như một cậu trai hồi hộp.

— Ba con có chỗ của ông trong tim mẹ. Và sẽ luôn như vậy. Nhưng trong tim mẹ còn chỗ nữa. 

— “Còn chỗ” ư? — con gái giữa thở hắt. 

Một năm trước mẹ còn không chịu đi tìm hiểu ai, giờ… kết hôn? Người ta sẽ nói gì? 

— “Người ta” là ai? — tôi thật lòng hỏi.

— Họ hàng, hàng xóm, giáo xứ! Mẹ 65 tuổi rồi! Thật… thật…

— Đáng xấu hổ? Phản cảm? Lố bịch? — tôi nói tiếp.


Không đứa nào trả lời, nhưng gương mặt chúng nói hết. 

— Nghe mẹ nói đây, — giọng tôi vững hơn tôi tưởng. 

Mẹ đã làm “người vợ của ba các con” suốt mười lăm năm qua.

Mẹ làm vợ tốt suốt ba mươi hai năm.

Mẹ nấu nướng, dọn dẹp, nuôi ba đứa con, đi làm bán thời gian để phụ.

Mẹ chăm ông ấy khi ốm.

Mẹ chôn cất ông.

Mẹ khóc cho đến khi không còn giọt nào.

Và rồi mỗi sáng chết tiệt mẹ vẫn phải dậy, vì ai cũng mong mẹ như vậy.

 

Con gái cả rưng rưng:

— Mẹ, tụi con chưa bao giờ…

— Đừng ngắt lời mẹ. Bây giờ đến lượt các con nghe. 

Mẹ đã gặp một người đàn ông tử tế, người làm mẹ cười.

Người hỏi mẹ ngủ có ngon không.

Pha cà phê dở tệ nhưng sáng nào cũng khăng khăng mang đến.

Nắm tay mẹ khi đi bộ mà chẳng than phiền vì mẹ đi chậm.

Và đúng, bọn mẹ sẽ cưới — vì ở tuổi này, chờ đợi để làm gì? 


— Nhưng còn ba… — con trai mở lời.

— Ba các con đã mất rồi, — tôi nói.

Sự cứng rắn trong câu nói làm cả bọn lặng đi.

 — Mẹ xin lỗi, nhưng đó là sự thật. 

Ông ấy mất rồi, và sẽ không trở lại.

Còn mẹ — mẹ xứng đáng được sống. 

Mẹ xứng đáng được yêu.

Mẹ xứng đáng được cười.

Mẹ xứng đáng không phải đêm nào cũng tự hỏi: có phải đây là tất cả những gì còn lại trước khi mẹ cũng rời đi?

 

Sự im lặng sau đó khác đi. Nặng, nhưng theo cách khác.

— Mẹ có yêu ông ấy không? — con gái giữa hỏi khẽ.

Câu hỏi làm tôi sững lại. 

Đó không phải tình yêu cuồng nhiệt tuổi trẻ, không phải đam mê của phim ảnh.

Nó dịu dàng và yên ổn hơn.

 — Mẹ… thương ông ấy, — tôi thành thật. 

Ông ấy khiến mẹ thấy bình yên. Ông ấy làm mẹ hạnh phúc. 

Và sau từng ấy năm, mẹ nghĩ như vậy là đủ. 

Hai tháng sau, chúng tôi làm lễ cưới đơn giản: chỉ hai đứa, một thẩm phán, và hai người bạn ở câu lạc bộ cờ vua của Carlos làm chứng. 

Các con tôi không đến. 

Chúng giận vì tôi không năn nỉ, không chờ “phúc lành” của chúng.

Nhưng đời tôi đã chờ đủ rồi.

 

Một tuần sau cưới, con gái cả gọi cho tôi. Giọng nó run:

— Mẹ… con chỉ muốn nói là con sợ.

— Sợ gì hả con?

— Sợ mất mẹ. Sợ người đàn ông này kéo mẹ khỏi bọn con. Sợ quên ba. Sợ không còn nhận ra mẹ nữa.

 

Tôi nhắm mắt, xúc động:

— Con à, mẹ là mẹ con từ ngày con chào đời cho đến khi mẹ nhắm mắt. Không gì thay đổi được điều đó.

Và ba vẫn sống — trong ký ức của mẹ, trong những câu chuyện mẹ kể cho các cháu, trong chính cử chỉ của ba đứa.

Không ai lấy được ông khỏi mẹ, vì ông ở đây — ngay đây — trong tim mẹ.

Và sẽ mãi ở đó.

Nhưng trái tim mẹ lớn lắm.

Nó có chỗ cho quá khứ và cho hiện tại. 

— Mẹ hạnh phúc chứ? — nó hỏi, giọng run.

— Mẹ hạnh phúc, — tôi đáp.

Lần đầu tiên sau mười lăm năm, mẹ thực sự hạnh phúc.

 

Một khoảng lặng dài. Rồi:

— Vậy… bọn con có thể gặp ông ấy không? Lần này là thật?

Tôi mỉm cười, thấy một nút thắt trong mình được gỡ ra.

— Mẹ sẽ rất vui.

 

Hôm nay, sáu tháng sau, Carlos và các con tôi hòa hợp hơn tôi tưởng.

Chẳng hoàn hảo — con gái cả vẫn cứng người khi Carlos ngồi lên “ghế của ba” — nhưng là thật.

Là chân thành. 

Tối qua, tôi tựa đầu lên vai Carlos trước tivi. Tôi nghĩ về quãng đường đã qua.

Về nỗi đau, cô đơn, và cảm giác tội lỗi những tháng đầu — tự hỏi có “đúng” không khi ở tuổi 65 mà vẫn thấy bươm bướm bay trong bụng.

— Em nghĩ gì thế? — ông vuốt tóc tôi.

— Em nghĩ em xứng đáng với tất cả điều này, — tôi nói.

— Em còn xứng đáng với tình yêu nữa, — ông thì thầm và hôn lên trán tôi.

Và tôi biết, bằng một sự chắc chắn đã lâu quên, rằng ông đúng.

Ở tuổi sáu mươi lăm, tôi cho phép mình hạnh phúc trở lại.

Và điều đó không phản bội ai cả.

Đó là cách tôi trân trọng chính mình.


“Trái tim có chỗ cho cả ký ức và hiện tại. Hạnh phúc muộn không phải phản bội — đó là can đảm.”

   

Sưu tầm 

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 10/Dec/2025 lúc 2:17pm
LÒNG MẸ 

5554%20LongMeDMLinh

       Đời sinh viên vốn rất khó khăn và vất vả, thế mà Thoa lại phải theo học một ngành mà nàng không thích. Riêng Chi – em của Thoa – rất bằng lòng với cuộc sống hiện tại; vì, sau những dằn co dữ dội giữa Mẹ và nàng, Chi đã theo học phân khoa nàng thích; cũng sau sự “tản lờ” của nàng về những bài luân lý “xưa như trái đất” của Mẹ, Mẹ đành làm ngơ khi Chi có bạn trai, Trực, học bên Nha Khoa.
       Thỉnh thoảng, vào những chiều chủ nhật, sau khi Mẹ đi làm, Thoa tâm sự với Chi. Những lời phàn nàn, than thở của chị làm cho Chi xúc động, cảm thấy thương chị nhiều hơn, nhưng không biết khuyên giải bằng cách nào, đành hỏi:
-Tại sao chị không nói thẳng với Mẹ?
-Nói làm sao được khi mà Mẹ hy sinh tất cả cho chị em mình? Ước vọng duy nhất của Mẹ là chị phải trở thành bác sĩ y khoa.
-Ước vọng của Mẹ là của Mẹ. Cuộc đời và sự nghiệp của chị là của chị. Sau này Mẹ không thể sống cho cuộc đời của chị.
-Sống trên đời không phải mình chỉ biết thực hiện những điều mình thích mà mình phải dung hòa giữa mình và những người liên hệ. Như Mẹ đó, nếu Mẹ chỉ muốn làm những điều Mẹ thích thì ai nuôi chị em mình?
-Tại sao chị có thể biết Mẹ không thích những điều Mẹ đang làm? Em nghĩ Mẹ phải bằng lòng, vui thích thì Mẹ mới chịu khó như vậy chứ!
-Em không thấy vấn đề chị đưa ra hay sao? Mẹ đưa chị em mình vượt biển sang đây lúc Mẹ chỉ mới ngoài 30 tuổi. Có người đàn bà nào ở tuổi đó mà không thích được một người đàn ông yêu thương, chăm sóc? Có người đàn bà nào với trình độ học vấn như Mẹ bỗng nhiên thích trở thành bà bán hàng tạp hóa ở xứ này? 
-Ai bắt Mẹ phải như vậy? Nếu Mẹ thích lấy chồng thì Mẹ lấy chồng; Mẹ không thích làm việc bán hàng thì Mẹ xin việc khác. Việc bán hàng tạp hóa ở Mỹ không tốt hơn thời Mẹ lam lũ ở kinh tế mới sao? Ai cũng chỉ có một đời để sống; vậy thì hãy sống thế nào cho mình vui sướng và hạnh phúc.
-Không ai bắt Mẹ, nhưng lòng thương con làm cho Mẹ phải hy sinh hạnh phúc riêng của Mẹ. Nếu Mẹ sống đúng theo quan niệm của em thì – sau khi      Ba vượt biển trước, rồi lập gia đình khác – chị em mình đành chịu đói khổ ở vùng kinh tế mới Đồng Bò chứ làm thế nào vượt biển sang đây để được học lên đại học?
-Chị nói kỳ vậy? Mẹ sinh mình ra, Mẹ phải lo cho mình. Đó là luật!
-Luật chỉ bảo vệ trẻ con khỏi bị hành  hạ chứ luật đâu có buộc Cha Mẹ phải lo cho con được sung sướng, hạnh phúc và cho con theo học đại học. Em thấy nhiều gia đình Mỹ “phủi tay” sau khi con học xong trung học hay không?
Chi đưa ra một nhận xét rất bất ngờ:
-Thật ra cho con theo học đại học chưa hẳn là ý Cha Mẹ mong con vui sướng, hạnh phúc mà chính vì sự ích kỷ, sự phô trương, tự mãn của Cha Mẹ.
       Thoa giật mình, nhìn thẳng vào mắt Chi. Trong mắt Chi, Thoa có thể thấy được sự chân thật, ngay thẳng cho nên nàng có vẻ hoảng sợ, tưởng như Chi đã đọc hoặc nói hộ ý tưởng của nàng. Một chốc sau, Thoa hỏi:
-Tại sao em nghĩ như vậy?
-Chị thử lắng nghe những mẫu đối thoại của các bậc Cha Mẹ người Việt thì chị biết. Họ chỉ cố đốc thúc cho con của họ chen cho được vào các trường đại học danh tiếng để họ “lên mặt” với bạn hữu mỗi khi có dịp. Họ không cần biết trong các trường đại học danh tiếng như thế con của họ phải “vẫy vùng” như thế nào, thần kinh của con họ phải căn thẳng đến mức độ nào, sức chịu đựng của con họ phải dai dẳng đến thế nào mới có thể đối đầu được với sự ganh đua của những sinh viên chọn lọc đó! Có người, con của họ không phải là bác sĩ hay luật sư nhưng gặp ai họ cũng cố tình khoe con của họ là bác sĩ, là luật sư! Họ làm như xã hội loài người chỉ có bằng bác sĩ và luật sư mới có giá trị!
      Sau một lúc cúi mặt lặng thinh như ngầm đồng ý với nhận xét của em, Thoa đáp:
-Chị không nghĩ Mẹ như vậy; vì Mẹ ít nói và rất ít giao thiệp.
-Có thể Mẹ không giống như những người Việt Nam mà em đã đề cập; nhưng nhận xét của em là nhận xét chung. A, chị biết Trực nói gì với em không?
Thoa ngước mắt nhìn Chi, chờ đợi. Chi tiếp:
-Trực bảo sau những lần thực tập Trực không muốn ăn uống gì cả! Thấy ai nhổ bãi nước bọt mình đã gớm rồi; thế mà Trực phải nhìn vào trong miệng, nạy răng người ta, đủ thứ mùi hôi, tối nằm ngủ thấy ác mộng! Nhưng Trực vẫn cố gắng học ngành Nha để Bố Mẹ được vui lòng! Thế mà có bao giờ Bố Mẹ của Trực vừa ý đâu! Lúc nào Bố Mẹ của Trực cũng đem con của người khác ra so sánh rồi nói người ta có phước, con mới 23, 24 tuổi mà đã “ra” nha sĩ, bác sĩ! Bố Mẹ của Trực cứ phân bì, sao ông bà không giỏi đi học đi! 
-Thật ra những nhận xét của em cũng không mới mẻ gì; nhưng những người con đã hấp thụ chút văn hóa Việt Nam chưa dám nói ra; họ chưa dám nói ra với Cha Mẹ nhưng họ đã tâm sự với bạn hữu và người yêu rất nhiều. Chị có anh bạn, học trước chị hai năm, thường tỏ ra bực dọc vì phải theo học y khoa để Cha Mẹ vui lòng chứ chàng ta không thích. Thời gian thực tập, sau khi thức suốt đêm ở phòng cấp cứu, trên đường lái xe về nhà, chàng ta buồn ngủ, lạc tay lái, ủi vào gốc cây. Hai chân của chàng ta bị tê liệt!
-Ô, No!
-Một lần, vô tình Mẹ nhắc là ngày cúng “thôi nôi” cho chị, chị bốc cây thước. Ba Mẹ tin rằng chị sẽ là cô giáo. Sau khi thuyết phục được chị vào y khoa, Mẹ bảo, Mẹ và họ hàng ai cũng vui mừng, hãnh diện về chị; đâu ai cần biết chị nghĩ gì và ước mơ gì!
-Có phải chuyện cúng “thôi nôi” ám ảnh chị hay không?
Im lặng. Một chốc sau, Thoa nói ra nỗi niềm của nàng:
-Không. Từ những ngày Mẹ chưa nhắc chuyện cúng “thôi nôi” chị cũng đã cảm thấy sợ xác chết và vi trùng. Lòng chị bất nhẫn khi thấy xác người được gắn ống thở, ống cho thức ăn/thức uống vào miệng, ống “ị”/ống “tè”, v. v… Chị nghĩ đó không còn là đời sống mà đó chỉ là sự đày đọa xác người!
-Lạ nhỉ! Em tưởng khi thấy rõ sự đau đớn của con người, chị sẽ hăng hái bước vào con đường Y khoa để xoa dịu vết thương cho nhân loại chứ!
-Từ bé chị cũng nghĩ như vậy; nhưng, sau khi vào thế giới y khoa chị lại thấy khác. 
-Qua những gì chị bộc lộ, em ngại chị sẽ bỏ dở; nếu bỏ dở cũng uổng vì chị đã đi gần hết đoạn đường rồi.
-Mẹ “chăn” chị kỹ quá, bỏ sao nổi!
-Dù sao thì đó cũng là sự bất công!
-Em thấy đó, đi học, chị phải trực diện với những gì mà người đời ghê sợ, như máu, xác chết và vi trùng, v. v…Về nhà, ít khi chị gặp Mẹ, ít khi chị gặp em. Thỉnh thoảng có chàng nào mời chị đi chơi, Mẹ nói bóng gió xa xôi và so sánh thời Mẹ mới lớn và chị bây giờ! Mẹ lại đem phong tục tập quán Việt Nam ra giảng cho chị khiến chị cảm thấy như “date” là một trọng tội!
Chi thở dài:
-Mẹ hành xử vói chị như vậy vì chị không dám nói ra những gì chị nghĩ. Chị phải nói ra để Mẹ hiểu chị cần gì, muốn gì; nếu không, Mẹ sẽ bắt chị sống theo ý của Mẹ.
-Đôi khi tình thương cũng “đọa đày” con người nhiều lắm, em biết không?
Nói xong Thoa lại lắc đầu, tiếp:
-Không biết cuộc đời của chị sau này ra sao chứ từ ngày xong dự bị y khoa đến bây giờ chị cảm thấy như chị đang “vùng vẫy” trong một vũng lầy!
-Sao lại thảm não đến như vậy, chị?
-Chị được vào một trường mà đa số sinh viên được tuyển chọn với tiêu chuẩn cao. Vì tự ái cá nhân, vì tự ái dân tộc, chị phải chứng tỏ chị là một trong những sinh viên ưu tú của trường. Thế là “stress”!
-Cũng không còn bao lâu nữa, thôi, chị cố gắng lên, nha chị!
-Ra trường rồi làm gì? Không phải bác sĩ nào cũng “hái” ra tiền. Mà cuộc đời này đâu phải có tiền là có hạnh phúc! Em thấy có bao nhiêu người Việt đến văn phòng bác sĩ người Việt?
-Tại sao?
-Tại vì, trong khi bác sĩ ngoại quốc nghĩ rằng – đối với họ – bệnh nhân là quan trọng; bệnh nhân đem lợi nhuận đến cho họ. Họ cư xử và khám bệnh cho bệnh nhân với cả tấm lòng. Còn bác sĩ người Việt cứ nghĩ giống như Bố Mẹ họ đã nghĩ: Bác sĩ là “ghê gớm” lắm, bệnh nhân cần họ chứ họ đâu cần bệnh nhân. Họ là bác sĩ chớ giỡn sao! Sau khi chị ra trường thì Mẹ – cũng giống các bà Mẹ khác – sẽ thúc chị lập gia đình; vì, theo quan niệm Á Đông, chị không còn trẻ nữa! Rồi làm vợ, làm Mẹ, v. v…Cuộc đời của chị có khoảng thời gian nào vô tư để sống cho chị hay không? 
        Cả hai cùng im lặng. Trong khi Chi không ngờ nàng “khám phá” ra những điều đáng thương nơi người chị duy nhất của nàng thì Thoa chợt nhận ra tối hôm qua về muộn, nàng đã để quên kính cận trên Piano. Thoa bước đến Piano với dụng ý sẽ lấy cặp kính, nhưng bất chợt Chi reo lên:
-Chị Thoa! Chị biết bao lâu rồi chị không hề “đụng” đến phím đàn hay không?
Thoa nhìn em bằng ánh mắt buồn buồn, không nói. Chi tiếp:
-Đàn đi, chị! Đàn cho vui.
     Thoa ngồi vào ghế, mở nắp đàn, đôi tay lướt nhẹ trên phím đàn với dòng nhạc chợt đến trong hồn. 
      Lắng hồn trong dòng nhạc êm đềm, thiết tha được một chốc, Chi tự trách, tưởng “xúi” chị đàn cho vui, nào ngờ… Chi vói tay lấy tập nhạc ngoại quốc, chưa kịp để tập nhạc trên Piano cho Thoa thì tiếng hát buồn buồn của Thoa khiến Chi dừng tay: 
“Lòng Mẹ bao la như biển thái bình dạt dào. 
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. 
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào ...”(1) 
        Chi cảm thấy nặng lòng! Piano này là món quà đầu tiên và đắc tiền nhất trên xứ Mỹ mà Mẹ đã mua – trả góp – để tặng hai con. Thoa và Chi cứ ngăn Mẹ đừng mua Piano à queue, vì giá rất đắc và nhà nghèo không có chỗ tương xứng cho Piano à queue; nhưng Mẹ bảo: “Cái đẹp thì ở đâu cũng đẹp. Cũng là Piano, nhưng Piano ‘có đuôi’ thì âm thanh tuyệt hơn nhiều. Lúc nào Mẹ cũng chỉ muốn tặng hai con những gì tốt đẹp nhất mà Mẹ có.” Nhớ đến đây, Chi âm thầm quẹt nước mắt.
        Trong khi Chi quẹt nước mắt thì Thoa đang cố nén cảm xúc vì hình ảnh của Mẹ ở kinh tế mới lại hiện về. Mẹ gánh nước. Mẹ ngồi quạt than, nướng bánh tráng và bắp, bán. Mẹ phụ bán cơm ở bến xe đò. Ban đêm Mẹ dạy hai con – và các em bé quanh xóm – học văn hóa và tiếng Anh, v.v…Công ơn của Mẹ còn nhiều nhưng bản nhạc đã đến đoạn cuối. Thoa cúi mặt, đưa ngón tay thấm nước mắt rồi ngẫn nhìn em. Thấy mắt Chi cũng sủng nước, Thoa đứng dậy, dang đôi tay, chị em “hug”  nhau.
Vừa đi xuống bếp với em để tìm thức ăn trưa, Thoa vừa hỏi:
-Nè, còn chuyện em với Trực tới đâu rồi?
-Cũng vậy thôi.
-Tại sao lại cũng vậy? Em và Trực tính gì thì tính nhanh đi. Hai người “bồ bịch” cũng lâu rồi, để lâu em bị mang tiếng.
-Tại sao em bị mang tiếng mà Mẹ và chị cứ lo? Bộ hai người yêu nhau là xấu xa lắm hay sao? Nếu xấu xa tại sao con trai không ngại mang tiếng mà chỉ ngại cho con gái?
-Dư luận người Việt thường tha thứ, dễ dãi với đàn ông, con trai nhưng lại rất khắc khe với đàn bà, con gái. Hai người yêu nhau trong sạch thì không có gì xấu; nhưng nếu tình yêu đổ vỡ, cô gái bị mang tiếng. Mẹ “nhồi” vào đầu chị như vậy và cũng vì chương trình học của chị nặng nề quá cho nên chị chưa dám có bạn trai.
-Như vậy thì buồn quá!
-Em nghĩ xem, có chàng nào chịu được cảnh mấy ngày mới điện thoại thăm nhau; cả tháng mới gặp nhau một lần vì chị bù đầu với sách vở, máu và xác người!
-Nghĩ cũng lạ, người Mỹ, hễ con của họ đến 13, 14 tuổi mà chưa có bạn trai là họ quýnh lên, sợ nó bị bệnh bất thường; còn người Việt thì ngược lại!
*****
       Vào nhà, thấy Mẹ ngồi cắt móng tay, Chi nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để thưa chuyện với Mẹ về Thoa. Nhưng khi Chi vừa mở đầu câu chuyện thì bị Mẹ gạc đi:
-Con còn nhỏ, biết gì mà nói (?!). Thoa không bao giờ nghĩ như vậy đâu. Thoa hiểu rằng những gì Mẹ muốn cho các con làm là vì Mẹ muốn các con có một tương lai xáng lạng.
-Làm thế nào Mẹ có thể quả quyết được rằng ý muốn của Mẹ sẽ đưa các con đến một tương lai xáng lạng? Cho dù tương lai có xáng lạng thì làm thế nào Mẹ biết chúng con có hạnh phúc với cuộc sống do Mẹ áp đặt hay không?
-Tại sao không? Khi con có bằng cấp cao, có địa vị xã hội, có tiền là con có hạnh phúc.
-Không đúng như vậy đâu, Mẹ!
-Con lại sắp sửa tranh luận với Mẹ nữa, phải không? Chỉ có hai đứa con thôi mà một đứa thì hiền lành, hiếu thảo còn một đứa thì cứ lý sự, ngang bướng, chịu hết nổi! Đồ bất hiếu!
Vì Mẹ không “chêm” nhiều tiếng Anh cho nên Chi không hiểu, vội hỏi:
-“Bat hiu” là gì mà Mẹ cứ nói với con hoài vậy?
-Bất hiếu là không biết thương/không biết nghe lời/không biết lo lắng cho Cha Mẹ.
-Tại sao tiếng Việt lại có chữ  “bat hiu” kỳ vậy?
Mẹ dậm chân, kêu “Trời!” rồi bước ra sân sau, ngồi! 
       Chi vào phòng Thoa với dụng ý nhờ chị ra hỏi Mẹ lý do nào Mẹ nổi giận; nhưng Chi ngạc nhiên khi thấy khăn trải giường vẫn thẳng băng. Thì ra tối hôm qua Thoa không về. Biết chị phải trực ở bệnh viện, Chi thở dài nhớ những lần chị em đang ăn tối hoặc chị em đang đàn hát bên nhau thì điện thoại của Thoa reng. Trả lời điện thoại xong, Thoa thở dài, than: “Sau này đang cho con bú mà bệnh viện gọi là cũng phải bỏ con mà đi!” Khi nào nghe Thoa than, Chi cũng nhìn chị bằng ánh mắt tràn đầy xót xa!
        Rời phòng của Thoa, thấy Trực đang đứng nói chuyện với Mẹ nơi sân sau, Chi bước ra. Trực và Chi cùng cười, nói “Hi!” rồi Chi ra dấu cho Trực vào nhà. Mẹ bước theo.
       Từ ngày quen Trực, Chi để ý, dường như Mẹ cố ý quanh quẩn bên nàng và Trực mỗi khi Trực đến nhà. Trực không bận tâm nhưng Chi lại khó chịu vì nàng nghĩ Mẹ không tin tưởng nàng và Trực. Mẹ muốn kiểm soát, Mẹ “xâm phạm” những điều riêng tư của nàng. Chi nhớ, lần đầu tiên khi nàng giới thiệu Trực với Mẹ, Mẹ cứ  hỏi dò xem Trực học hành ra sao, gia thế như thế nào, v.v… Chi bực dọc, trả lời “nhát gừng” với Mẹ làm Mẹ không vui. Chi nghĩ rằng nàng yêu Trực, tin tưởng và hiểu Trực, thế là đủ. Mặc cho Mẹ giải thích về cách thức “chọn” người yêu – theo kiểu Việt Nam…xưa – Chi nghĩ rằng đối tượng của nàng là Trực chứ nàng không “lấy cả gia đình” của Trực làm chồng thì tại sao phải “điều tra” gia đình của Trực. 
       Tuy Mẹ đã giải thích, nhưng sau lễ đính hôn của Trực và Chi, nàng cứ nghĩ rằng Mẹ sẽ “nới lỏng” cho “hai đứa”, nhưng không; Mẹ vẫn lẩn quẩn bên cạnh khi Trực đem DVD đến để Mẹ, Trực và nàng cùng xem. 
        Sau khi cho DVD vào máy, Trực đến ngồi cạnh Chi, trên ghế Piano. Với dụng ý không cho Chi và Trực quá âu yếm nhau, Mẹ bảo Chi xuống bếp lấy cho Mẹ ly nước. Khi Chi trở lên, trao ly nước cho Mẹ, Mẹ cứ hy vọng rằng Chi sẽ ngồi sang ghế “xa lông”, nhưng không! Chi ngồi vào vị trí cũ và có vẻ tựa vai sát vào người Trực. Thỉnh thoảng Trực và Chi âu yếm nhìn nhau, cười. Lạ thật! Chi thấy Mẹ quay nhìn nàng với ánh mắt nghiêm khắc.
         Xem hết DVD, Trực ra về. Chi đưa Trực ra “driveway”, vô tình thấy Mẹ nhìn theo Trực và nàng qua cửa sổ. 
Chi vừa trở vào phòng khách, bị Mẹ cật vấn:
-Hai đứa làm cái gì kỳ vậy?
-Dạ, tụi con có làm gì đâu!
-Hai đứa mới làm đám hỏi chứ đã là vợ chồng đâu mà ngồi như vậy?
         A, thì ra Mẹ không muốn Chi và Trực ngồi gần nhau. Tại sao phải đợi đến đám cưới hai người mới được tỏ ra âu yếm? Chi than thầm, khổ ghê! Người Mỹ giải thích cho con tất cả những vấn đề thầm kín của con gái/con trai, trong khi không bao giờ Mẹ đề cập đến vấn đề thực tế này! Mẹ thường nhắc hai con là “nam nữ thọ thọ bất thân”. Hai chị em chỉ hiểu lờ mờ. Thoa im lặng trong khi Chi cười lớn:
-Bên Việt Nam, muốn tránh tai họa cho con gái thì phải có những câu châm ngôn như vậy. Xã hội Tây phương, cũng với mục đích đó, người ta lại giải thích cho con gái về “birth control  pills”!
        Mẹ mở lớn mắt nhìn Chi như không ngờ nàng biết ba chữ “birth control  pills”! 
*****
       Vì Chi trực tính và cứng rắn cho nên mối tình đứt đoạn giữa nàng và Trực không làm nàng đau khổ nhiều như làm cho Mẹ buồn! Điều Chi không thể hiểu được là tại sao Mẹ không hề đề cập đến sự đau khổ của Chi mà Mẹ chỉ ngại là danh dự gia đình bị tổn thương:
-Đây rồi không biết làm sao ăn nói, giải thích với họ hàng, bằng hữu!
-Mẹ! Con lấy chồng cho con hay là con lấy chồng cho họ hàng, bạn hữu của Mẹ?
-Cô lấy chồng cho cô nên cô đâu coi ai ra gì! Cô chỉ biết sống cho cô. Cô thương thì mau mau làm đám hỏi; hết thương thì cắt đứt “cái rụp” để cho tôi phải mang tiếng chịu lời!
-Mẹ, không ai mang tiếng chịu lời gì cả. Mình không lấy người này thì mình lấy người khác.           Tại sao mình không sống cho mình mà mình phải sống cho dư luận? Dư luận có bao giờ đem hạnh phúc đến cho ai đâu!
-Cô nói dễ quá mà! Làm Mẹ ai cũng mong con thông suốt chứ ai muốn con mình dang dỡ? Sau này cô ở vào cương vị của tôi cô sẽ hiểu.
-Bây giờ Mẹ muốn con làm gì? Mẹ muốn con lấy Trực để chịu khổ cả đời hay sao?
-Mẹ không bắt con phải hành xử như vậy. Mẹ chỉ muốn con phân tích xem Trực có những điểm nào tốt, bao nhiêu điểm xấu, rồi con cân nhắc xem con có thể quên được những điểm xấu của Trực để chú tâm vào những điểm tốt của Trực hay không? Nếu không có gì trầm trọng mà chỉ vì những bất đồng nho nhỏ thì hãy tha thứ cho nhau.
-Hạnh phúc và tình yêu không thể đo lường được, Mẹ à!
-Thật ra Mẹ thấy Trực cũng có nhiều điểm tốt như vui vẻ, nhiệt tình, dễ dải, học giỏi, đẹp trai…
-Là phụ nữ Mẹ cũng hiểu rằng, người con gái, khi lấy chồng thường thường mình lấy người mình yêu. Người mình yêu có thể là một người không ra gì dưới mắt những người khác; nhưng đối với mình người ấy là số một. Khi yêu người phụ nữ mù quán đến như vậy và người phụ nữ cũng chỉ đòi hỏi người đàn ông đó cũng nghĩ rằng nàng là số một. 
      Chi vừa nói ngang đây, Thoa mở cửa bước vào với gương mặt bơ phờ vì thiếu ngủ. Thấy rõ sự mệt mỏi của Thoa, Chi chưa muốn cho chị hay về sự đổ vỡ giữa nàng và Trực. Mẹ ái ngại nhìn Thoa:
-Con đi rửa mặt, Mẹ làm chút gì con ăn rồi con ngủ, nhen, con!
-Thôi, con cần một chỗ nằm.
        Nói xong Thoa cởi giày, nhào lăng vào lòng ghế “xa-lông” dài. Mẹ không nở “đuổi” Thoa vào phòng. Mẹ vào phòng đem ra hai cái gối. Thoa gối đầu lên một gối, nằm nghiêng mặt vào thành ghế rồi che cái gối kia lên tai. Xoay trở một chốc, Thoa lấy ống xem mạch trong túi áo nhét dưới gối, rồi ngủ. Chi hỏi Mẹ:
-Mẹ chưa sửa soạn đi làm sao?
-Còn sớm, con.
         Chỉ thốt được ba tiếng ấy rồi Mẹ nhìn ra sân, dáng nghĩ ngơi. Trong khi Mẹ chìm vào sự xa vắng nào đó, Chi chợt nhớ đến Trực và tự hỏi lòng xem lý do nàng dứt tình với Trực  có xác đáng hay không? Cho đến lúc này, Chi cũng vẫn nghĩ rằng quyết định của nàng là một hành động sáng suốt. Bất ngờ Mẹ hỏi:
- Chi! Con có nghĩ rằng con nên suy nghĩ lại về quyết định dứt tình với Trực hay không?
-Dạ không.
-Con có thể cho Mẹ biết – tý tý thôi – về nguyên nhân cuộc đổ vỡ hay không?
-Thưa Mẹ, có thể những cô gái khác cho rằng con dại; vì Trực có tất cả ưu điểm bề ngoài để chinh phục phái nữ. Nhưng con chỉ cần một người yêu chứ con không cần một người lúc nào cũng muốn chứng tỏ ta đây là kẻ luôn luôn “chiến thắng” trên tình trường.
-Con có nói ý nghĩ của con cho Trực biết để Trực thay đổi hay không?
-Dạ, có. Trực đã thay đổi những khi con hiện diện bên cạnh; những khi vắng con, Trực vẫn không thay đổi; điều này làm cho con xem thường Trực. Và con không thể làm vợ một người mà con không kính trọng!
Cả hai cùng im lặng thật lâu. Cuối cùng Mẹ bảo:
-Chi! Con là một thiếu nữ can đảm và nhiều nghị lực.
-Cảm ơn Mẹ. Nhưng, tại sao Mẹ lại nghĩ như vậy?
-Hành động dứt khoát của con đối với Trực cho Mẹ thấy điều đó. Con hơn Mẹ xa. Mẹ đã bị nhồi vào đầu mớ luân lý “tào lao” của mấy ông Tàu “Trai năm thê bảy thiếp; gái chính chuyên một chồng” cho nên Mẹ khổ suốt đời!
       Rất ngạc nhiên khi nhận thấy quan niệm sống của Mẹ không còn quá thủ cựu nữa, Chi muốn nhân cơ hội này trình bày với Mẹ về tâm sự của Thoa để Mẹ hiểu rõ lòng thương yêu vô bờ của Thoa dành cho Mẹ; nhưng giọng bực dọc của Thoa vang lên:
-Mẹ ơi! Suốt đêm trực ở phòng cấp cứu, không chợp mắt được một giây, cho con ngủ một chút mà!
Tiếng “cằn nhằn” của Thoa làm đứt ngang câu chuyện giữa Mẹ và Chi!

Điệp Mỹ Linh
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 15/Dec/2025 lúc 1:46pm

GIÁNG SINH 1976: Một Đêm Sài Gòn, Một Lời Hẹn Ước Nửa Thế Kỷ Trước …

 Viết nhân mùa Giáng Sinh 2025

 


Thêm một mùa Giáng sinh nữa lại về. 

Khác với khung cảnh rực rỡ đèn hoa ở các nhà thờ ở Việt Nam ngày nay. Ở Úc, những nhà thờ chỉ trang trí hang đá đơn sơ trong nhà thờ và một ít dây đèn màu bên ngoài.

Tại Canberra, nơi gia đình tôi định cư, vào những ngày đầu mùa hè, sắp tới ngày Giáng Sinh … cũng mang một nét riêng biệt. Không khí Noel vẫn len lỏi qua từng dãy nhà, từng cửa hàng lộng lẫy, và những ca khúc Giáng sinh quen thuộc vẫn vang lên khắp nơi … nhưng lòng tôi lại bồi hồi nhớ về một mùa đông đặc biệt, một Giáng sinh 1976 ở Sài Gònxa xôi ngày xưa. 

Nhà thờ Đức Bà (Sàigòn) rực rỡ đèn chờ đón Giáng Sinh 2025.

Một căn nhà ở Canberra trang trí đón mừng Giáng Sinh 2025

Cây thông Giáng Sinh trong phòng khách gia đình chúng tôi.

… Sài Gòn năm ấy, sau biến cố tháng Tư năm 1975, mang một không khí trầm mặc, khác hẳn sự nô nức vui vẻ của hiện tại. Giáng sinh không nhộn nhịp, chỉ có chút đèn hoa trang trí đơn sơ ở các nhà thờ. Ai cũng mang trong lòng ít nhiều niềm âu lo, trăn trở về cuộc sống phía trước, trong đó có chúng tôi.

Trong đêm an lành đó, tôi hẹn đón Phương lúc 8 giờ tối để cùng em dạo phố đêm Giáng sinh đầu tiên của thời sau chiến tranh.

Em mặc một chiếc áo dài màu vàng mới may, tôn lên vóc dáng cao, gầy. Áo em bay nhẹ theo nhịp bước, hoà vào ánh đèn lấp lánh rồi chảy vào nỗi nhớ dâng lên trong lòng tôi.

Trong buổi tối yên bình, khi phố phường chỉ còn những ánh đèn vàng như thở chậm, tà áo dài vàng của em khẽ bay theo gió. Trông em như một dải hoàng hôn còn vương lại trong đêm, vừa dịu dàng vừa rực sáng. Tôi bước bên cạnh, chỉ mong khoảnh khắc ấy đừng trôi qua vì từng nhịp gió chạm vào tà áo em đều làm trái tim tôi mềm mại!

Màu áo vàng của em khiến tôi nhớ đến câu thơ lãng mạn của thi sĩ Nguyên Sa: “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc…” Nhưng với Phương, màu áo ấy càng làm dáng em thêm phần thanh thoát, đẹp đến nao lòng.

Chúng tôi cùng sánh bước, chầm chậm đi qua khu nhà thờ Chúa Cứu Thế rồi hướng về trung tâm Sài Gòn.

Chúng tôi đến khu vực Nhà thờ Đức Bà. Nơi đây có khá đông người. Họ chờ tham dự lễ Giáng sinh nửa đêm, hoặc có lẽ chỉ đơn giản là tìm chút hơi ấm tinh thần trong những ngày tháng bộn bề. Âm thanh bản nhạc Silent Night vọng ra từ cuối nhà thờ khiến lòng chúng tôi lâng lâng … Hang đá nhỏ cuối nhà thờ, ánh đèn vàng hắt lên tượng Chúa Hài Đồng… Em và tôi cùng nhau cầu nguyện.

Tôi không biết em cầu xin điều gì, nhưng cả hai chúng tôi đều nghĩ đến những ngày sắp tới, những dự định lớn lao của tuổi trẻ. Chúng tôi sẽ làm đám cưới trong mùa hè tới. Trong hoàn cảnh cuộc sống còn nhiều khó khăn, lo lắng bủa vây, Phương vẫn thủ thỉ nhẹ nhàng về một tương lai giản dị: “Chúng ta sẽ có một đám cưới đơn giản, một mái nhà ấm áp rồi sẽ có những đứa con. Em thích đặt tên con trai là Vĩnh Duy, con gái là Phương Thư. Anh thích tên này không?”

Tôi gật đầu, hôn nhẹ lên má em, một nụ hôn vội vã nhưng chứa chan hy vọng.

Khi đưa em về nhà cũng đã gần nửa đêm. Đường xá khi đó vắng lặng hoàn toàn. Em ái ngại nhìn tôi, có ý định xin phép bố mẹ cho tôi nghỉ lại ở phòng khách, vì đường về nhà tôi ở quận 11 khá xa. Tôi xin phép về, từ từ đi bộ về nhà. Dù có một anh lái xe ôm mời mọc, tôi vẫn ngần ngại, muốn tự mình tận hưởng trọn vẹn niềm vui đang tràn ngập trong lòng.

Chậm rãi bước đi trong đêm vắng, tôi cầu xin Chúa Hài Đồng thương ban nhiều hồng ân và hạnh phúc cho chúng tôi.

Viết ngắn đôi dòng để nhớ lại mùa Giáng sinh 49 năm trước, mùa Giáng sinh của mối tình đầu, của những ước mơ giản dị đã theo tôi suốt gần nửa thế kỷ.

Tạ ơn Chúa vì nay chúng tôi đã có cả Vĩnh Duy, Phương Thư … mà còn thêm hai con trai dễ thương nữa.

Viết nhân mùa Giáng Sinh 2025 tại Canberra để nhớ lại một mùa Giáng Sinh 49 năm về trước khi cuộc sống còn nhiều khó khăn sau vì miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm 30/4/1975

 

Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn   

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 17/Dec/2025 lúc 4:16pm


Hồi%20Ký%20Miền%20Nam%20|%20Những%20Người%20Không%20Đất%20Đứng

Tôi gặp chị vào những ngày sau tháng tư năm 75, khi hai người đàn ông của chị và tôi cùng vắng mặt trong gia đình. Tôi trở về nhà với mẹ trong một xóm nhỏ ở thành phố Cần Thơ, còn chị cũng dắt con về nhà người anh tá túc, vì cha mẹ chị không còn.

Hoàn cảnh hai đứa thật giống nhau, hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, mỗi nhà hai đứa con dại còn bế trên tay. Hỏi ra thì trước kia tôi và chị cùng học một trường, cũng mái trường Nữ Trung Học và cũng những thầy cô năm cũ. Tôi đi dạy một ít lâu, lấy chồng rồi bận rộn con cái, yên phận làm mẹ. Chị lý tưởng hơn, sau khi đậu Tú Tài, thích là "hoa lạc giữa rừng gươm", chị đi học khóa nữ trợ tá xã hội, tham gia nhiều công tác giúp đời.Chị có học qua một khóa trợ y,nhờ vậy sau này khi lâm vào bước đường cùng, chị đem chút tài mọn ra chữa bệnh cho dân nghèo ở vùng sâu, vô tình được phong làm "cô bác sĩ", dù không đỗ đạt được mảnh bằng y khoa nào hết.


Dạo ấy hai đứa đều dưới tuổi 30, vì chưa lăn lộn với đời nên vẫn có nét ngây thơ của những người đàn bà trẻ con. Chúng tôi sống bám vào hai mảnh ny lông trên vỉa hè thành phố. Hai người cùng hoàn cảnh nên dễ thân nhau, cả hai đứa cùng có núm đồng tiền rất sâu trên má. Chị thật thà bảo tôi: 

- Người ta bảo những ai có núm đồng tiền thì lúc nào cũng dư dả, sao hai đứa mình đói rách quá!

Tôi ngắm chị. Một khuôn mặt hơi vuông nhưng rất ưa nhìn. Hai mắt sâu và sáng, vầng trán thông minh, mỗi khi cười hai núm đồng tiền lõm xuống, trông chị rất có duyên. Ngày còn trẻ, chắc chắn có nhiều anh "chết" vì nụ cười của chị. Bởi vậy khi gặp chị, anh mau mau đón chị về, rồi không cho đi làm nữa, vì giữa chốn ba quân, chị như một bông hoa đẹp mà ai cũng muốn hái.

Tôi không đẹp như chị, chỉ dễ coi, cũng hai núm đồng tiền sâu trên má. Hai đứa có những bốn cái đồng tiền mà lúc nào cũng túng bấn, phải chia nhau từng đồng tiền vốn, xẻ cho nhau đồng tiền lời để mua thức ăn cho con. Có sống trong cảnh đời ấy mới thấy được lòng dạ con người tốt xấu ra sao. Hoàn cảnh bên ngoài thì đổi thay như chong chóng, anh em trong gia đình ai cũng lo thủ phận mình, hai điều ấy đã giúp những con người như tôi với chị xích lại gần nhau hơn. Những lúc hai đứa đi kiếm ăn, dồn cả 4 đứa trẻ lại nhờ mẹ tôi trông giúp. Hai đứa lớn đến trường, hai đứa nhỏ nhờ bà cụ già chăm bẵm, mỗi chiều về ngoài quà cho con, chị vẫn không quên mua mớ trầu, mấy quả cau tươi cho mẹ tôi. Có khi cả hai gia đình cùng ăn chung bữa cơm tối, những lúc ấy cả hai đứa cùng cảm thấy sự chia xẻ cái khổ, cái nghèo cho nhau thật là đáng quí. Dưới ngọn đèn điện đỏ quạch, chỉ có đàn bà và trẻ con, không ai nói ra nhưng tôi vẫn nhận thấy nỗi cô đơn và băn khoăn của những cuộc đời không lối thoát.


Không còn gì để bấu víu và tin tưởng, khi tương lai là một chuỗi mịt mù, tăm tối. Đêm nào mẹ con tôi cũng cầu nguyện, ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ, đêm đêm chúng tôi chờ phép lạ, như chờ đợi từ ngày mùng 1 Tết dài mãi cho đến chiều 30 cuối năm, vẫn không có gì hơn. Chị đi chùa, hôm nào có tiền mang theo bó nhang, nải chuối. Không chỉ có Phật mà hễ nơi nào có Thánh Thần là chị đến, với một niềm hy vọng là anh ấy được mau trở về với chị. Dưới ngọn nến sáng bập bùng dưới chân Đức Mẹ, tôi nhìn nét mặt nghiêng của chị, mờ ảo và đẹp lạ lùng. Chị như một thánh nữ, đôi mắt ứa ra hai giọt lệ long lanh. Chân thành lắm, chỉ là những lời van xin, khấn khứa cầu sự an bình cho kẻ chân mây.

Tuy vậy, có những khi thất vọng quá, hai đứa vẫn rủ nhau đi coi bói, bỏ mấy đồng bạc để nghe một niềm hy vọng. Thầy bói không thấy ai giàu, giữa ban ngày ngó lên nóc nhà lổ chổ như sao sa, chả thầy nào nói được tương lai của chúng tôi hết. Chị chìa bàn tay còn xinh đẹp cho lão thầy bói nắn đi nắn lại, lật tới lật lui, đo đạc dài ngắn rồi nói nhăng nói cuội. Lúc ấy nét mặt chị thật thành khẩn, để rồi trên đường về chị buồn bã bảo tôi:

- Bồ hên quá, có quý nhân phù trợ, ông ấy lại có đường về, còn mình sao mờ mịt quá!

Tôi bật cười bảo chị:

- Chuyện, hơi sức đâu mà tin, cứ đợi đến "con trăng" này xem đương sự có về không đã, biết thế nào là hên với xui.           

Có đến chục "con trăng" qua đi mà bóng người vẫn biền biệt bóng chim tăm cá. Mỗi lần nói chuyện coi bói hai đứa lại cười, nhớ lại lúc còn đi học, mới biết yêu, vẫn nhờ người ta đoán hộ tình duyên, gia đạo. Lũ nhỏ lớn dần lên, đời chị và tôi vẫn chỉ là những con bài bích, những người chồng thời buổi đó vẫn chưa nhận được con cơ báo hiệu ngày trở lại.


Một hôm, chị nhận được thư anh, chiếc phong bì được xếp bằng giấy học trò như đồ chơi thủ công, lại viết  bằng mực tím, bút lá tre. Chị mừng mừng tủi tủi nhìn con dấu nhà Bưu điện, lá thư vượt đèo, vượt suối đi cả hai tháng trời mới đến tay vợ, và chỉ là những con số không thấy nói nơi người gửi. Đọc thư anh, tả chút thay đổi thời tiết, chị biết anh ở xa lắm. Quê chị miền Tây Nam bộ, ven bờ Cửu Long, từ nhỏ đến lớn chị chỉ đi tới Sài Gòn là hết đất. Thư anh viết có một khuôn mẫu sẵn, không thấy nói gì đến nhớ thương, chị đọc thư khóc mùi mẫn, trách anh vô tình. Ngây thơ như một đứa trẻ, chị bảo tôi:

- Anh dặn mình mạnh dạn đưa các con đi xây dựng vùng kinh tế mới, chỉ có con đường ấy mới mở ngỏ cho anh có cơ hội làm lại cuộc đời. Hãy tin những gì anh nói, ngày về không còn xa.  

Tôi gạt đi, vì trước mắt tôi nhan nhản những gia đình sống lang thang trên hè phố, hoặc trở về làm một cái chái che nắng mưa trên chính nền đất của mình ngày xưa. Tôi khuyên chị:

- Đàn bà chân yếu tay mềm, trường học điện nước lại không có, ai bảo đảm an ninh cho mình giữa nơi đồng không mông quạnh. Họ nói thì mặc họ, tin làm sao được.         


Chị ngây thơ không hiểu những gì anh viết, giá chị hiểu ngược lại thì đâu có chuyện quyết định mẹ con dẫn nhau đi vùng kinh tế mới. Mẹ tôi ái ngại cho chị, có khuyên bảo nhưng chị quả quyết là sẽ tìm thấy tương lai. Tôi phục chị can đảm, vì tôi vẫn ở lại thành phố, bám trụ tấm ny lông trên vỉa hè. Tôi không quen nhìn những con đỉa no máu bám vào chân mình, và cũng không biết làm ruộng. Chị đi rồi, chỉ còn mình tôi lại nhập vào giòng người xoay quanh cái bẫy chuột lớn, lẩn thật nhanh vào những con ngõ thông thương khu chợ mỗi khi bị rượt đuổi. Chúng tôi không phải tội phạm mà lúc nào cũng mang mặc cảm của kẻ bị săn đuổi, không sống bám ai mà vẫn bị liệt vào thành phần cặn bã.

Có những lần tôi lan man nhớ đến người bạn hiền của mình, hình dung ra căn nhà trống trải của mẹ con chị giữa đồng không mông quạnh, đôi tay học trò ấy làm sao vật lộn nổi với những thửa ruộng đầy cỏ lác và đỉa vắt. Sức chịu đựng của chị có ngày cũng hết, tôi nghe tin chị tự tử và được cứu thoát. Ít lâu sau, chị về lại thành phố với nét mặt xanh xao, tiều tụy, đầu cạo trọc như một ni sư. Nguyên nhân làm chị tự tử cũng chỉ vì không chịu nổi cảnh sống quá cùng cực và cô đơn, vì những lời tán tỉnh lẫn hăm dọa của bọn địa phương. Ra đi thì dễ, nhưng về lại không đơn giản. Không nhà, không hộ khẩu, anh em nhìn chị hờ hững, vì không ai muốn đa mang vào mình những gánh nặng. Hai đứa tôi trở lại khu chợ nhỏ, trở lại với tấm ny lông trên vỉa hè, mỗi lần hàng phượng vĩ ven sông rưng rưng những cánh hoa màu đỏ rực rỡ, tôi thấy chị buồn buồn. Cả hai đứa có một lúc nào đó trong đời, vẫn bâng khuâng nhớ lại mình ngày xưa, tà áo trắng, mái tóc dài xõa trên lưng, nụ cười má lúm đồng tiền dễ thương làm say lòng người bạn trai cùng lớp.


Một thời gian sau, chị lại đưa con về quê chồng, vì người anh chồng đi tập kết về chia điền sản của cha mẹ để lại. Chồng chị được một phần, dĩ nhiên không nhiều lắm nhưng có còn hơn không. Căn nhà của ông bà nội lũ nhỏ dành cho ông anh cả, chị cất tạm một cái chái bên cạnh ngôi nhà từ đường của cha mẹ chồng để lại.

Những ngày đầu ở quê chồng, gần gũi với gia đình ông anh chồng "Cách mạng", chị phục lăn ông về những bài học và cách sống của một xã hội tốt đẹp mai sau, khi con người không bóc lột người, mọi sự trên đời sẽ là của chung. Nhưng sau chị mới thấy triết thuyết đi một đàng, lòng người lại đi một nẻo. Lúc ngỏ lời nhờ ông anh cứu giúp thằng em trong tù, ông cho chị nhiều bài học mà chính chị không ngờ chồng chị lại nhiều tội đến thế. Chị thấy mình luẩn quẩn, cứ đi từ bế tắc này sang bế tắc khác, chẳng cái nào dễ chịu hơn cái nào. Cuối cùng, chị gom hết vốn liếng, mua một cái ghe nhỏ có mái che, mẹ con dẫn nhau đi buôn bán dọc theo các làng xóm xa xôi, đổi chác sống qua ngày.


Từ một người phụ nữ trí thức thành phố, chị mau chóng trở thành một người phụ nữ miền quê đen đủi, đảm đang. Chân đi đất, đầu quấn khăn rằn, biết chèo xuồng và sống như một người nhà quê thứ thiệt. Trên chiếc ghe chật chội ấy, thay cho mái nhà tranh, mẹ con chèo chống, trôi nổi như giề lục bình trôi theo giòng nước. Có chỗ để ngủ, có chỗ nấu ăn, có khạp nước uống, chiếc ghe như một cái nhà lưu động, rày đây mai đó, thỉnh thoảng chị mới chèo ghe về chợ Quận, mua hàng hóa và thuốc men để trao đổi với người dân sống ven hai bờ kinh rạch. Lúc ấy, con chị mới được ăn tô hủ tíu, được nhìn ánh đèn điện sáng như trăng ở phố chợ, đôi mắt háo hức nhìn những đứa trẻ cùng cỡ tuổi đến trường.

Theo như chị kể lại, người nông dân quê mình là những người sản xuất ra lúa gạo, lại là những người chịu cảnh bữa đói, bữa no. Gặp lúc được mùa, có chút lúa bán xong phải mua phân, mua giống để dành, sửa cái nhà, cái ghe, sắm bộ quần áo chờ mùa tới. Chẳng may thất mùa lúa đóng thuế không đủ, trong nhà vét không ra hột gạo để ăn. Lại đi vay, nợ mẹ đẻ nợ con, lắm nhà chỉ có cơm ăn với muối xả ớt. Tuy vậy, họ vẫn cần nhiều thứ cho sinh hoạt hằng ngày. Cuộn chỉ, cây kim, chai dầu gió, viên thuốc cảm, lúc ốm đau làm gì có bác sĩ, y tá nào mạo hiểm đến đó cứu nhân độ thế, hay để thực thi câu "lương y như từ mẫu" cho họ. Chính lúc ấy, chị trở thành thầy thuốc bất đắc dĩ của đám dân nghèo, bằng chút  kinh nghiệm của sự học hành năm xưa, qua mấy cuốn y học thường thức chị được đọc, dẫu không có bằng cấp chuyên môn, chị vẫn là tia sáng  trong cảnh tối tăm của đám người nghèo khổ. Người ta đón chiếc ghe của chị để mua viên thuốc cảm, thuốc ho, nhờ chị chữa giùm những chứng bệnh thông thường, vô tình chị trở thành "cô bác sĩ" của những người dân quê tội nghiệp.


Cuộc sống cứ thế trôi đi, chồng chị vẫn chưa về dù chị đã hai lần đi xây dựng quê hương mới. Hai đứa con không được đi học, nhưng những buổi tối neo thuyền trên bến sông, dưới ngọn đèn lù mù, chị dạy con học đọc, học viết. Sau này, anh được chuyển dần vào Nam, mỗi lần đi thăm chồng chị gửi ghe cho người bà con, mẹ con dắt nhau đi thăm nuôi. Chị giấu biệt anh về cảnh sống hiện tại, con không được đi học, mỗi lần về anh gửi thêm lá thư cho ông anh "Cách Mạng" nhờ giúp đỡ vợ con. Chị im lặng không nói, lúc về ngang bến phà Mỹ Thuận, chị đọc thư rồi xé nhỏ từng mảnh thả trôi theo dòng nước. Bây giờ chị đã trưởng thành, 6 năm trời lận đận chị không còn ngây thơ như dạo trước. Lần chị về thành phố thăm tôi, dẫn theo hai đứa con nay khá lớn, chị hầu như lột xác để trở thành một người phụ nữ thôn quê biết an phận, đen đủi hơn và nét mặt đăm chiêu hơn. Tôi hiểu chị đã trưởng thành, từ những kinh nghiệm suốt 6 năm qua chị gặp phải. Vẫn mái tóc được bới gọn đằng sau gáy, chiếc áo bà ba đen, nụ cười buồn vẫn còn hũm xuống núm đồng tiền, có lẽ đấy là nét duyên dáng cuối cùng còn sót lại nơi chị. Hai đứa con chị thật tội nghiệp, chân mốc cời, mặt ngơ ngáo khi gặp lại những đứa bạn ngày thơ ấu, nay đã quá xa lạ. Ở chơi với tôi vài ngày, chúng tôi nhắc lại chuyện cũ. Chuyện nhà ông thầy bói giữa ban ngày mái lá sáng như sao sa, chuyện hai đứa giữa buổi chợ túm bốn góc ny lông chạy như vịt, chuyện về những người đàn ông vắng mặt trong nhà không biết đến mấy mươi trăng mới trở lại.


Mãi 7 năm sau chiến tranh anh mới được trở về xum họp với vợ con, đúng vào đợt cuối năm, kịp về ăn Tết với gia đình. Lúc thay bộ quần áo cũ ngày xưa, anh ngượng nghịu như người quen đi chân đất lần đầu tiên được mang giày, anh thấy mình trở thành con người khác. Hành trang anh chẳng có gì, cái gì còn xài được anh cho lại bạn bè, hai chữ Tự Do khiến anh hân hoan, ước thành chim để bay ngay về với vợ con.

Hôm ấy là những ngày cận Tết, trên chuyến phà buổi chiều sang sông, anh nhìn thiên hạ chen chúc nhau, tay xách nách mang, người ta về quê ăn tết, trông ai cũng háo hức lạ. Còn một ít tiền vợ đưa hôm trước, anh mua cho con chục ổi, mấy xấp bánh phồng khoai, bao nhiêu năm tù tội anh chẳng còn gì, chỉ còn tấm thân tàn và túi hành trang rỗng tuyếch. Anh dựa vào lan can chiếc phà đang lướt sóng trên giòng sông Cửu Long, mặt sông như một miếng bông cỏ khổng lồ trải rộng ra từ bờ bên này tới bờ bên kia. Anh hít thở nhiều lần không khí trong lành của dòng sông quê mẹ, mắt nhìn theo giề lục bình lênh đênh trên dòng nước, không biết nó trôi về đâu, với những bến bờ xa lạ.           


Cuối cùng anh cũng về tới quê nhà, nơi mà ngày xưa lúc còn chiến tranh, anh ít khi dám trở lại. Con đường cũ vẫn gập ghềnh như ngày nào, ngày xưa đã không ít những chuyến xe bị lật nhào sau tiếng nổ long trời của mìn bẫy, đã không ít những người vô tội chết thảm thiết trên nẻo đường yêu dấu của quê hương.

Bây giờ thì cảnh ấy không còn, nhưng đường xá vẫn lồi lõm còn hằn sâu dấu tàn phá của chiến tranh. Cảnh nào với anh cũng vậy. Miền Bắc heo hút những rừng, những suối, đường xe chạy những cây giang, cây nứa quẹt vào thành xe cào xước. Miền Nam sông rạch chằng chịt, nhà cửa xiêu vẹo vẫn y chang ngày trước. Cha mẹ anh qua đời từ lâu, vợ con anh đã thay anh về quê chồng lập nghiệp, anh thấy lòng mình vẫn ấm áp với hai chữ "trở về" thật thiết tha.          

Khi anh tìm về căn nhà, làng xóm cũ năm xưa, người đầu tiên anh gặp lại là ông anh lớn, người đã theo tiếng gọi núi sông ra Bắc tập kết, nay trở về miền Nam sống trong căn nhà hương hỏa của gia đình. Dạo ông ra Bắc, anh còn nhỏ xíu đang đi học tiểu học, nay gặp lại hai người đã đứng vào hai phía khác nhau. Ông anh là hình ảnh của cha anh hồi trước, cũng chút hom hem khi đôi má hõm xuống bởi thiếu những chiếc răng. Sau vài lời hỏi thăm, anh được thêm những lời khuyên nhủ, y như những bài anh học được trong tù.

Khi hỏi thăm đến vợ con, anh được biết "thím ấy và các cháu" đang sống trên chiếc ghe nhỏ, cuộc sống bập bềnh như cọng lục bình thả theo nước lớn, nước ròng. Tự nhiên anh muốn khóc, người anh cả lúc đưa anh ra mé sông tìm vợ con, đã hạ giọng nói với anh mà nghe rõ lắm mới thấy có gì rất ngậm ngùi:

- Thôi lỡ rồi, anh cũng không làm lại được mà chú cũng không làm lại được. Nói vợ em thu xếp cho các cháu lên bờ, dầu gì chúng cũng là cháu của anh.        

Ôi tình nghĩa anh em, dẫu có thế nào đi nữa cũng phải có phút giây sống thật với tình máu mủ. Không ai căm thù ai, vì ai cũng chỉ là nạn nhân của lũ kên kên thèm ăn thịt người, xô đẩy nhau chết chất chồng để làm vật tế thần cho chiến tranh.


May là anh về đúng dịp cuối năm, chị neo ghe vào bờ cho con ăn Tết. Dưới hàng dừa lả ngọn trên sông chiều, một làn khói trắng bốc lên trên mặt sông, lòng anh man mác buồn, rồi khi bước qua mấy bậc đá rêu trơn trợt để xuống ghe, tự nhiên anh bật khóc. Chưa bao giờ anh khóc ngon lành như thế, vì không phải lúc nào anh cũng có tự do để khóc, hơn nữa, nỗi đau khổ đã làm mắt anh ráo hoảnh, khô khốc không còn giọt lệ.

Anh biết đời anh mất tất cả, chỉ còn chút này thôi. Nhìn vợ trong chiếc áo bà ba đen, hai bờ vai thon mảnh năm xưa nay u lên vì chèo chống nhiều quá, lòng anh như bị sát muối. Hai đứa con lơ láo nhìn cha, chân cẳng chúng nó mốc cời, anh ôm con vào lòng mà không làm sao ngăn được những giọt nước mắt, cứ thế lả chả rơi xuống mái tóc khét nắng của con.

Mùa Xuân ấy, vợ chồng con cái anh đón ông bà trên chiếc ghe neo dưới mé sông, vì họ là những người không đất đứng, không có nhà, không có nơi chốn để về khi mùa Xuân tới. Anh còn sống nhiều năm, nhiều tháng chèo chống với vợ trên chiếc ghe thương hồ ấy, chấp nhận hoàn cảnh một cách bình thản vì không còn một chọn lựa nào khác. Hai đứa con được cho lên bờ đi học, tá túc với người bác trong căn nhà của ông bà nội. Dù sao con anh vẫn phải đi học, học gì không biết, nhưng từ trước đến nay, trường học vẫn là cái nôi êm ái nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Vợ anh vẫn là "cô bác sĩ" bất đắc dĩ của những người dân quê nơi vùng sâu, nhưng từ ngày có anh, chị đỡ vất vả hơn, nét mặt có tươi tắn và nụ cười vẫn còn dấu vết  hai núm đồng tiền in trên má. 

Sống trên sông đã quen, người anh cứ bập bềnh, lúc được lên bờ là những ngày ít ỏi của anh trên quê hương. Mỗi lần bước đi anh cứ lảo đảo như người say sóng, chút xíu anh ngã vì lòng cứ mênh mông nghĩ đến một chân trời xa lạ. Anh để lại chiếc ghe cho đứa cháu họ, về ngôi nhà hương hỏa với người anh một thời gian trước lúc đi xa, có dịp sống lại với nhau một thời gian, nhờ vậy họ đã hiểu nhau thêm một chút. Khi chỉ còn hai anh em, không còn lằn ranh nào giữa tình huyết nhục, ông anh của anh đã khóc và mới có dịp nói hết những ray rứt mà ông giấu kín bao nhiêu năm, kể từ năm 54, ông bỏ nhà ra Bắc.                              


ĐOẠN  KẾT

Đó là những gì tôi biết về anh chị, những người bạn cùng hoàn cảnh với tôi, đã không có đất đứng ngay chính trên quê hương của mình. Giờ này anh chị đã có một cuộc sống khá ổn định trên nước Mỹ, tôi không dám bảo nơi đây là đất thiên đường, nhưng nó cũng không phải là hỏa ngục.

Anh chị lập nghiệp trên miền Bắc, mùa Đông có tuyết phủ và mùa hè, trời vẫn mát mẻ với những ngọn thông xanh. Họ gửi cho tôi mấy tấm ảnh, anh tóc đã muối tiêu, chị đã tròn trịa hơn trước, riêng hai đứa nhỏ nay đã lớn, nhận không ra, đứa con gái thật xinh, nụ cười giống hệt mẹ thời còn trẻ.

Nghe nói ông anh "Cách Mạng" của anh đã chết, những năm về sau anh vẫn gửi tiền, gửi quà và thuốc men về cho ông, ít ra nhờ vậy ông cũng được hưởng chút nào của thằng em trong những ngày cuối đời. Những người ở thế hệ anh năm xưa mất đi cũng nhiều, càng về già thì nỗi nhớ quê càng chập chùng, anh vẫn không quên được dòng sông miền quê cũ. Trong tấm hình mới nhất anh chị tặng tôi, chị nép vào vai anh mỉm cười, già rồi mà hai núm đồng tiền vẫn còn mờ trên má, chóng thật, mới ngày nào mà đầu đã hai thứ tóc. 


Nguyên Nhung

Để nhớ những ma Xuân xưa





Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 17/Dec/2025 lúc 4:40pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 26/Dec/2025 lúc 2:50pm

Làm Việc Xấu Không Ai Biết Nhưng Ông Trời Có Mắt

Hình minh hoạ (Họa Sĩ Trần Ngọc Hải)

Bác sĩ Tần làm việc tại khoa sản của một bệnh viện lớn. 

Có một ngày khi sắρ tαn cα thì có một Ьệпh nhân đến, ông liền vội vàng kiểm trα một hồi rồi nói:

“Trong tử cung củα cô có một khối u, tốt nhất nên mổ ngαy“.

Gương mặt củα Ьệпh nhân ngαy lậρ tức tái đi, cô nghĩ chẳng trách dạo gần đây cơ thể hαy suy yếu, mαy mà ρhát hiện sớm, không để cho nó lớn thêm.


Nhưng khi mổ bụng Ьệпh nhân rα, quαn sát vào sâu trong tử cung , ông ấy liền hoảng sợ, mồ hôi chảy ướt cả trán. Trong cổ tử cung không ρhải là khối u mà là một bào thai

Đây là sαi lầm chưα từng gặρ trong mấy chục năm hành nghề y củα bác sĩ Tần. 

Ông rơi vào tình thế lưỡng nαn. Nếu như cắt bỏ bào thai , sαu đó nói với Ьệпh nhân là đã bỏ đi khối u thì Ьệпh nhân nhất định sẽ cảm kích vô cùng và đồng thời ông có thể khẳng định khối u đó sẽ không bαo giờ tái ρhát. 

Ngược lại, ông có thể nhαnh chóng khâu vết mổ lại và thừα nhận sαi lầm củα mình, nhưng sẽ mαng vết nhơ trong sự nghiệρ. 

Sαu vài giây ᵭấu trαnh tâm lý, ông quyết định hành động theo đạo đức nghề nghiệρ, chấρ nhận mαng tiếng xấu. 

Quαy về văn ρhòng, đợi sαu khi Ьệпh nhân tỉnh lại, bác sĩ Tần đứng trước giường Ьệпh nhân với vẻ mặt nghiêm túc, khiến cho Ьệпh nhân và người nhà lạnh buốt chân tαy, nghĩ rằng tình trạng rất tệ. 

“Xin lỗi, tôi đã khám sαi, cô chỉ là mang thai chứ không hề có khối u nào“, ông Tần thật lòng xin lỗi. 

 “Đứα bé vẫn bình αn, cô nhất định có thể sinh được một đứα trẻ kháu khỉnh“. 

Cả Ьệпh nhân và người thân đều ngây người, mười mấy giây sαu, người chồng củα Ьệпh nhân đột nhiên xông đến nắm lấy cổ áo củα bác sĩ Tần, rồi quát lên: “Ông là đồ lừα đảo, tôi ρhải kiện ông!“ 

Vài tháng sαu, đứα bé được sinh rα khỏe mạnh và ρhát triển bình thường. Nhưng người nhà Ьệпh nhân kiα vẫn không thα thứ và thαy đổi ý định. 

Bác sĩ Tần bị khαi trừ khỏi biên chế, đành ρhải đến làm việc tại một Ьệпh viện tư nhân. 

Những người bạn rất thông cảm cho ông ấy, hỏi ông tại sαo đã sαi rồi thì không làm luôn đi, cứ nói đó là một cái thαi lưu thì αi mà biết được. 

Bác sĩ Tần cười nhạt một tiếng: “Có Trời biết!”

Trong cuộc sống hiện thực, nhiều lúc xung quαnh chúng tα tràn ngậρ lời nói dối, không có αi dám bước rα nói sự thật hoặc có rất ít người nguyện ý nói rα sự thật.

Trong thực tế, người tα thường nói dối, nhưng trên internet dùng tên giả thì người tα lại thường nói những lời thật lòng. 

Nói sự thật, làm người tốt, đôi khi là một việc rất khó khăn. Bạn có thể ρhải hứng chịu nỗi đαu và uất ức, nhưng bạn sẽ sống được αn tâm, thong dong tự tại.

 

Nguồn FB

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 29/Dec/2025 lúc 6:03pm

Nước Úc Yes hay No? 

Bảo Huân 


Chân ướt chân ráo từ bên đảo tới Úc, tui cũng được chính phủ Kangaroo và Emu (Đại thử và đà điểu trên quốc huy của Úc) cho đi học tiếng Anh 510 giờ miễn phí để chuẩn bị đi làm cu li cho nó

Học “cầu vừa đủ xài”, để không phải cái gì cũng động từ “to quơ”. Biết “Yes” và “No” là sống còn, để đi làm, đi chợ với vợ, đi pub nhậu mà không bị boss, đồng nghiệp hay thổ dân nhậu xỉn nó dộng vô mặt gãy răng.

Mới đầu, Úc hỏi cái gì tui cũng “yes” hết ráo. Nói “no” sợ nó giận; nó đì mình sói trán. Rồi thấy trả lời “yes” là mình ngu. Có lần thằng boss cự nự: “Chú mầy say ‘yes’; đồng ý rồi sao không làm?” Tui đâu có hiểu nó sai cái gì mà làm. Từ đó, mỗi lần nó hỏi, tui đều “No”. Làm nó hết sai tui luôn, quá phẻ! Nhớ nhe, dân Úc nói mình không hiểu cứ “No” đại là chắc ăn như bắp!

Bà con mình ai cũng biết dân Úc rặt hồi xưa vốn là dân Anh chôm chỉa một cây xúc xích (sausage), một chai rượu (whiskey) nhậu chơi lỡ bị bắt, bị đày qua đây. Truyền thống chôm chỉa đó vẫn còn nhe. Thấy thiên hạ có cái gì hay là Úc nó chôm về xài, mắc công sáng chế làm chi? Dân Úc lè phè chết mẹ, có mấy ai thèm sáng chế nữa đâu! Ai cũng biết chôm dễ nhứt là chôm của má mình. Chính vì vậy, Úc chôm của mẫu quốc Anh cái hệ thống chính trị kiểu Westminster, chôm luôn kiến trúc của Má Anh. Đi chơi ngoài city Melbourne, mình cứ tưởng đi lạc qua London chớ!

Nhưng cái thời chỉ biết ăn “fish and chips” – cá lăn bột và khoai tây chiên – đã trôi vào dĩ vãng. Giờ đây, Úc ăn “hamburger” của McDonald’s hay Hungry Jack’s, hoặc ăn cánh gà, ức gà, đùi gà chiên của KFC, uống Coca Cola. Bà con không tin thì thử qua Southbank, bờ Nam sông Yarra, tưởng mình đi lạc qua New York. Bốn chục năm trước vùng nầy ma nó ở, giờ đây toàn cao ốc chọc trời, ba bốn chục tầng. Báo cháy reng reng là thang máy tụt một cái vèo xuống đất chỉ mất 30 giây, cửa mở ra, con nó chạy lẹ như nghe mate (bồ Tèo) hú đi pub!


Người Úc bỏ Má Anh để theo Ba Mỹ. Bỏ tiếng Úc ngọng của mấy thằng nghẹt mũi do “hay fever”,  sốt phấn hoa, khi Mùa Xuân nước Úc lại về để nói tiếng Mỹ.

Em Ba Lùn, “se” phòng nhà tui, cũng đổi thay, em theo Ba Mỹ: “business is business”. Em không còn văn nghệ tao đàn miễn phí nữa. Đầu tiên là tiền đâu? Em tuyên bố “Từ rày về sau, nhậu cửng cửng về, nếu hết tiền móc xỉa thì đừng có xin tui cho hun “free” một cái nữa nhe cha!”

Chuyện đua ngựa Melbourne Cup đầu tháng Mười Một làm cả nước đứng hình. Dân Úc mắc đi cá ngựa. Em Ba Lùn cũng mê cá ngựa. Ban đầu tui tưởng em chỉ thích nhìn ngựa, hóa ra em nó đánh cược theo kiểu “business is business” Em xin tui năm chục đô sau khi cho tui “thơm” em một cái để mua cá ngựa.

Nói rốt ráo, bà con mình sống ở Úc lâu mới thấy được cái tinh thần “cầu vừa đủ xài” của Úc lợi hại ghê. Mình đi học, đi làm, không quá bon chen. Biết dăm ba từ “Yes – No” là đủ. Sống ở Úc lâu lắm, tui mới “Eureka” phát hiện ra:  “Yes” không phải lúc nào cũng hay; “No” đôi khi lại cứu mình khỏi bao chuyện bộn bề. Chính những câu “No” đúng lúc mới giúp sống sót trong môi trường làm việc kiểu Úc.

Ỗ Footscray, ngoại ô phía Tây của Melbourne, hơn 30 mùa thu lá bay, tui gặp đủ hạng người. Có ông già Úc dắt chó đi dạo, nói lơ lớ với, mình cứ cười, nói “No” đại, thấy hổng tốn tiền vì ổng xin mình 5 đô để ghé pub uống bia. Có lần, tui thử trả lời “Yes” với con Úc sát nhà nhờ giúp bê cái bàn. Say “Yes” rồi mới thấy mình ngu. Cái bàn nó nặng thấy mẹ!

Bảo Huân


Từ đó, tui hiểu một chân lý: “Yes” không phải lúc nào cũng khôn. No cho nó chắc ăn như ăn bắp

Chuyện pub cũng thú vị. Tui theo mấy người Úc đi pub, tụi nó gọi pint bia, mình gọi theo, nhấp một ngụm, mắt trợn trắng vì đắng. Nhưng đối với dân Úc bia đắng uống mới đã!

Úc đi nhậu không dám nói xấu vợ như Mít. Sao dám? Úc vừa nhâm nhi, vừa nói chuyện về ngựa đua, thể thao, vừa chửi thủ hiến tiểu bang, thủ tướng liên bang. Mình nghe mà  buồn cười vì dân Úc giống tui khoái nhậu và nói dóc!

Tóm lại ai mới tới Úc, học nhiều hại não, phí thời gian vàng bạc. Chỉ cần học tiếng Anh “cầu vừa đủ xài” thôi. Không cần văn hoa. Làm cu li văn hoa làm gì tổ cho chúng ghét.  Miễn hiểu “Yes – No”, biết khi nào nên nói đúng, khi nào nên làm lơ. Mấy lần tui nghe dân Úc nói chuyện về luật, thuế, bảo hiểm, tui gật gù, nghe cho vui, nói No đại cho chắc ăn, cuối cùng vẫn sống sót.

Và đây là đặc sản của dân Úc: chôm, chôm, và chôm. Họ chôm cái hay của Anh, chôm cái hay của Mỹ, về xài, khỏi phải phát minh chi cho mệt. Dân Úc lè phè chết mẹ, đâu cần mấy thứ sáng chế vớ vẩn. Nhà cao tầng, công nghệ, quán pub, đồ ăn, hệ thống chính trị, mọi thứ đều là bản sao chọn lọc. Tui thấy mà nể phục, vừa thông minh vừa… lười mà vẫn sống khỏe!

Đi dạo ở Melbourne, từ CBD đến Southbank, từ Yarra River tới các quán cà phê, ta thấy sự pha trộn giữa Má Anh và Ba Mỹ. Người nói Anh, người nói Mỹ, ăn uống, vui chơi, làm việc đều pha trộn. Nhưng trên hết, dân Úc sống rất “cầu vừa đủ xài”, hài hước, tự do, và biết chọn lúc “Yes” hay “No” để sống vui sống khoẻ.

Cuối cùng, bà con mình nếu muốn sống thoải mái ở Úc, nhớ Úc nó hỏi Can you…! Cứ trả lời No là khoẻ re như con bò kéo xe bò vậy

“Yes hay No?  “No” cho chắc ăn nhe bà con!

 

Đoàn Xuân Thu

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: Online
Số bài: 24378
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: Hôm nay lúc 9:54am

Người Phụ Nữ Gốc Việt Hành Khất Ở Paris 


Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparn***e làm trạm trung chuyển.

Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài…

Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ…

Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?

Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.

Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: “những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn… làm ê mặt nước Pháp quá ! “.


Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sở làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó…

Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.

Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:

·        Cám ơn ông.

·        Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.

Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:

·        Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.

·        Tôi là người Việt-nam.

Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :

·        Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không?.

Quốc gật đầu:

·        Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước.

Vẻ mặt bà thoáng suy-tư:

·        Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .

Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.

Quốc hỏi:
– Bà xuống trạm nào ?
– Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.

Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.

Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại, Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: “Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu… bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?


Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: “Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng tường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà”.


Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang đường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy… Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:

·        Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển… gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France 3: một người đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ… vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi… giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?

Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.

Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong… cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:

·        Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây ?

Quốc cười, lắc đầu:

·        Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.

Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:

·        Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin tức về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-tức trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thoải mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại… trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng… Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.

Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:

·        Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về… lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương… đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy !

Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu… Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình… đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời để vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc:
– Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông ?

Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:

·        Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn… Nguyễn-minh Quốc.

·        Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế ! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.

Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:

·        Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện ?

Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:

·        Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi dạy tôi đọc và tập viết chữ a, b,c,đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:

·        Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.

Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.

“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch… tạch”, tiếng “chéo chéo” của đạn bay… tiếng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt…ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ… rồi có tiếng ai đó nói to: ” Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông ?”.

Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.

Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn… nay hai mẹ con tôi có chỗ nằm để tránh đạn.

Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác… tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc… Lại một tiếng la to: ” bắn “…một tiếng súng nổ… tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết. Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm… Có tiếng ra lệnh: “Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa… nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! ”

Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập:

·        Tôi mở… tôi mở… nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!

Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!”

Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.

Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:

·        Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.

Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền. 


Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.

Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:

·        Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.

Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:

·        Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.

Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.

Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.

Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:

·        Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !

Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:

·        Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.

Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:

·        Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.

Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:

·        Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.

Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:

·        Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn… khi gần hết hàng… phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng… nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi… còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .

Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:

·        Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?

·        Đồng-ý… đồng-ý !

Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.


Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.

Cả khu xóm lại yên-lặng… Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

·        Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.

Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.

Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn :

·        Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với… không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi…

Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.

Tôi hét lên… và không còn biết gì nữa.

Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:

·        Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:

·        Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không ? Con ráng chịu đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ !
“ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm. 

·         

·        Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.

Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.

Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng được xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.

Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường… và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.


Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim.

 Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:

·        Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông… Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.

Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.

·        Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó ? Ông bác nói với mẹ.

Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:

·        Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân… Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy.”

Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy ? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống ? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình ? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.

Ông bác kể tiếp:

·        Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.

Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ. Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau… Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.


Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp… cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiêng nạng “cộp… cộp” của tôi nghe buồn da diết.

Trong những ngày chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:

·        Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.

Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:

·        Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.

Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ và tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:

·        Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím ?

Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.

Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai… Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;

·        Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.

Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:

·        Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.

Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái tên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao ? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon… thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp !

Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ :

·        Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.

·        Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau vời Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau… người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.

Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.

Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.


Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vực dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé đó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà. 

Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức… Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào… Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự. Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:

·        Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỷ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.

Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.

Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh: “Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà… Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi ? “. Rồi tôi tự cười mình… ba mươi bảy tuổi rồi… còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !

Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:

·        Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rủa.


Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.


Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự“ bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi… nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm.

 

Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi dã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp.

 

Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp… Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dừng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui, đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.

Người ta hỏi:

·        Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam ? .

·        Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đại dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.

Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.


Nguyễn Đại Thuật

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 150
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.484 seconds.