![]() |
Bài mới Thành viên Lịch Tìm kiếm |
| |
| Chuyện Linh Tinh | |
|
| |
|
| << phần trước Trang of 115 |
| Người gởi | Nội dung |
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 09/Dec/2025 lúc 4:57pm |
Chuyện Tình Buồn Thời Chinh Chiến: Mưa Ướt Mặt Người tt.Người lính trẻ cảm thấy mình bị chấn động dữ dội khi vòng tay quấn quít tình người của Ngọc Anh vòng quanh cổ mình và ghì mạnh để mặt kề mặt, môi chạm môi rồi đam mê cháy bùng lên thiêu đốt và hủy hoại. Nhan sắc bị bóc trần từng mảnh để thành hình tượng có khổ đau và hạnh phúc, tiếng cười và nước mắt chảy ra trong quên lãng.... Ngọc Anh thức giấc giữa đêm khuya yên lặng. Nàng không hiểu vì sao mình lại thức giấc sau cơn thiếp mê bằn bặt của ái ân. Có lẽ vì ánh trăng vàng màu ủ dột xuyên qua khung cửa sổ độc nhất của căn hầm trú ẩn dọi vào mặt mình. Hơi nghiêng đầu nàng thấy gã nằm ngủ. Dáng gã hiền như con nít làm cho nàng chạnh lòng. Không cần phải có những gì xảy ra hôm nay, nàng cũng đã biết rõ một điều nàng yêu Quá Mộng, gã con trai kỳ quặc nhỏ hơn nàng chút tuổi. Dù có nhiều điều rất khác nhau song nàng tìm thấy ở Quá Mộng đôi điều không có ở người khác. Quá sống thực với bản ngã của mình. Quá bất chấp sự dị biệt, bất đồng đẳng và bất bình đẳng. Quá Mộng, như đứa trẻ trong thơ của Phùng Quán “Phải làm một người chân thật... Mẹ ơi, chân thật là gì? Mẹ tôi hôn lên đôi mắt... Con ơi một người chân thật... Thấy vui muốn cười cứ cười... Thấy buồn muốn khóc là khóc... Yêu ai cứ bảo là yêu... Ghét ai cứ bảo là ghét... Dù ai ngon ngọt nuông chiều.. Cũng không nói yêu thành ghét... Dù ai cầm dao dọa giết... Cũng không nói ghét thành yêu...” Quá Mộng của nàng như thế đó. Anh yêu nàng dù biết nàng là góa phụ hai con, lớn hơn anh chút tuổi. Ở trong mắt nhìn của Quá Mộng, tình yêu như những câu thơ mà anh đã đọc cho nàng nghe để bây giờ nàng vẫn còn nhớ. “Trời đã sinh ra em Ðể mà xinh mà đẹp Trời đã sinh ra anh Ðể yêu em tha thiết Khi người ta yêu nhau Hôn nhau trong say đắm Còn anh, anh yêu em Anh phải ra mặt trận Yêu nhau ai không muốn Gần nhau và hôn nhau Nhưng anh, anh không muốn Hôn em trong tủi sầu Em ơi rất có thể Anh chết giữa chiến trường Ðôi môi tươi đạn xé Chưa bao giờ được hôn Nhưng dù chết em ơi Yêu em anh không thể Hôn em bằng đôi môi Của một người nô lệ… Lẩm bẩm trong trí bài thơ của Phùng Quán tới câu: “Em ơi rất có thể.. Anh chết giữa chiến trường.. Đôi môi tươi đạn xé.. Chưa bao giờ được hôn..” Ngọc Anh ứa nước mắt. Bằng trái tim của một người đàn bà biết thương yêu, nàng tội nghiệp cho Quá Mộng và ngay phút này, nằm trên chiếc giường cây mà khi hai người động đậy thì nó kêu thành điệu nhạc tình yêu bất diệt, nàng thương gã vô cùng. Trong bóng tối mờ mờ nàng đưa tay sờ soạng lên làn da mặt có chút lông măng và những sợi râu lâu chưa cạo. – Chị thức rồi à? Ngọc Anh mỉm cười trong bóng tối khi nghe Quá Mộng gọi mình bằng chị. “Sao kỳ vậy ông lính? Quần người ta muốn nín thở mà cứ gọi bằng chị...” Nghĩ tới điều đó nàng cảm thấy mặt nóng bừng cảm giác xôn xao và vỡ vụn thân thể bởi cử chỉ ái ân cuồng nhiệt của gã. Xoay người nằm nghiêng, nàng thì thầm vào tai: – Em yêu anh... Gã bật cười với giọng còn hơi ngái ngủ: – Sao tự động xuống chức vậy? Ngọc Anh cười thành tiếng. – Tại yêu... Yêu Quá Mộng quá. Gã cười lặng lẽ trong bóng tối mờ mờ. Ngày xưa, lúc mới tới quán, Ngọc Anh là người đàn bà đặc biệt ở chỗ có nhan sắc, thứ nhan sắc hình thành từ thân xác và tâm hồn. Cái đẹp thân xác của nàng thì ai cũng nhận ra; nhưng cái đẹp của tâm hồn thì có lẽ ít người thấu triệt, bởi vì nàng là người kín đáo, trầm mặc, luôn luôn khép kín tâm hồn của mình. Riêng gã con trai nhiều mơ mộng và lãng mạn đã mơ hồ cảm nhận ra cái đẹp tâm hồn của nàng. Phải nói gã mê cái nhan sắc trầm ẩn của nàng. Đó là kho tàng gã bấy lâu nay tìm kiếm. – Quá nghĩ gì dzậy? Xoay người nằm nghiêng, co chân gác lên người, tay đặt lên ngực, Ngọc Anh hỏi. Gã cười nhỏ: – Nhớ lại ngày xưa lúc mới thấy Ngọc Anh lần đầu tiên. Ngọc Anh cười thánh thót. Đưa bàn tay lên mân mê khuôn mặt của người tình, nàng phà hơi thở của mình trong tiếng thì thầm: – Quá Mộng đọc thơ đi Quá Mộng. Khi vắng Quá Mộng tôi nhớ cái giọng đọc nghe“mệt mà mết”của Quá Mộng. Thấy gã im lìm nàng cất giọng vòi vĩnh: – Đọc đi Quá Mộng của em, rồi em sẽ đền cưng... Gã bật cười lên tiếng ngắn rồi giọng đọc thơ vang mỏi mệt, lạc loài và đặc sền sệt trong căn hầm núp lạnh mùi ẩm mục phảng phất chút hơi người. – Hư ảo nào như hư ảo trăng Em đàn cung nguyệt hát cung văn Ta về đúng lúc đêm đang tới Tìm thấy trong thơ chiếc nguyệt cầm Hư ảo nào như hư ảo mây Em cười trong nắng, áo trong tay Thơ trong tà áo, em trong gió Ta nhớ mơ hồ mây trắng bay… Hư ảo nào như hư ảo em Tiếng cười khua động những thân quen Đời xưa ta nhớ mây tiền kiếp Còn lúc bây giờ ta nhớ em… Đọc tới đó gã ngưng lại. Xoay người nằm nghiêng, tay ôm lấy bờ vai mềm mại và vuốt nhè nhẹ, gã cười trong bóng tối. Giọng của gã nghe nằng nặng, nghèn nghẹn: – Hư ảo nào như hư ảo ta Xòe tay năm ngón động âm ba Nhìn quanh bất trắc cao thành núi Đứng tựa vai làm tri kỷ xưa Hư ảo nào như hư ảo trăng Trời đưa ta tới chỗ em nằm Em như huyền hoặc, đời như mộng Ta ngả lưng làm một giấc trăng… Ngọc Anh thầm thở dài. Câu “Em như huyền hoặc, đời như mộng” làm cho nàng buồn. Có phải những gì thực cũng sẽ thành hư ảo, như Quá Mộng của nàng, luôn cả tình yêu vốn mỏng manh và yếu ớt.Nếu Quá Mộng chết đi thì nàng sẽ làm gì, yêu ai. Không, còn ai đâu nữa mà yêu. Còn tình đâu nữa mà yêu. Chút tình bọt bèo nàng đã đem bỏ vào cà phê cho Quá Mộng uống để gã ghiền giờ đây nàng mới được diễm phúc nằm trong căn hầm núp bên cạnh gã con trai mơ mộng và lãng mạn, dù đối diện với cái chết vẫn không bỏ cái cố tật của mình. – Thơ Nguyên Sa hay Quá Mộng? Ngọc Anh thì thầm. Gã cười trong bóng tối. Tiếng cóc nhái, ểnh ương vọng vào nghe lạc nhịp buồn. Gã biết người tình yêu thơ, thuộc gần hết những bài thơ của các thi sĩ. Tập thơ nào mới hay cũ nàng đều có, nâng niu và gìn giữ cẩn thận. Một lần, có lẽ hứng, Ngọc Anh mời gã lên lầu để khoe “thư viện” của mình. Gã đã kinh ngạc và kính phục về chất văn nghệ của Ngọc Anh. Sau khi quan sát thư viện riêng, gã cười hỏi: – Có ai đã được phúc hạnh ngồi đây đọc sách chưa? Hiểu câu hỏi, Ngọc Anh cười chúm chiếm: – Quá Mộng là người đầu tiên. Cầm quyển Vẫn Còn Thương của Hoàng Ngọc Liên lên ngắm nghía trang bìa, gã con trai cười: – Có người đầu tiên là sẽ có người cuối cùng. Ngọc Anh gật đầu. – Ai? Nhìn ngay vào mặt gã con trai đang cầm quyển thơ, Ngọc Anh chắc giọng nói của mình: – Ai là người đầu tiên thì người đó sẽ là người cuối cùng. Đó là một khẳng định. Trả quyển thơ về lại chỗ cũ, gã cười lên tiếng nói một câu mà sau này được Ngọc Anh nhắc hoài. – Tôi quí Ngọc Anh như dáng hiện thành văn tự... có đó rồi mất đó. Rút sát vào người tình như tìm hơi ấm hay cử chỉ tỏ tình âu yếm, Ngọc Anh thì thầm: – Bộ mưa hả Quá? Tôi nghe hình như... Quá nhẹ gật đầu. – Mưa tự nãy giờ. Mưa nhỏ thôi. – Vậy là không có mưa bay ngút ngàn phương trời hả Quá? – Hy vọng ngày mai không có. Mốt thì chưa biết... – Vậy thì tôi còn ở đây... – Chắc vậy... Chưa mưa thì Ngọc Anh còn ở đây chờ mưa, mà mưa bay ngút ngàn phương trời thì Ngọc Anh cũng ở lại đây. – Tại sao? – Vì mưa xóa mất lối về. – Sướng... Tôi được ở bên Quá hoài. Xoay người nằm đè lên người của gã, Ngọc Anh thì thào như muốn nói trọn nghĩa. Giọng của nàng khi được khi mất trong tiếng sấm gầm và tiếng mưa rơi lắc rắc trên mái hầm núp: – Quá dễ thương quá! Tôi tiếc không gặp Quá sớm hơn. – Bây giờ cũng chưa muộn. Mưa như lớn hơn vì sấm nổ ì ầm và chớp lóe sáng căn hầm. Kéo chiếc mền nhà binh lên tận cổ, Ngọc Anh rút sát vào người tình như tìm hơi ấm: – Mình có nhạc hông Quá? – Có. Hơi nhỏm người dậy, gã bật đèn pin. Âm thanh cất lên lạc loài và lẻ loi trong tiếng mưa rơi. “Nếu có điều gì vĩnh cửu được Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta Bờ môi ngoan, hương tóc rũ vai mềm Từng ngày dài hồn anh mãi tương tư Gọi tên em lòng náo nức đêm mơ Anh mơ sẽ bên em cho đến tận cuộc đời Nếu có điều gì vĩnh cửu được Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta Rồi mai đây anh sẽ đón em về Mở cửa hồn em vào đó rong chơi Em có thấy tình anh ngát hương hoa Ngây ngất mãi một đời vì em thôi Đôi khi có những mùa giông bão qua đây Em thấy đời là những hư hao Này em, đừng giấu muộn phiền trong mắt sâu Đừng giấu bàn tay trong tóc mây Hãy tựa đầu lên vai anh Em sẽ thấy mùa xuân về rất nhẹ Từ trái tim anh nồng nàn yêu em Nếu có điều gì vĩnh cửu được Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta Bờ vai ngoan, hương tóc xõa buông mềm Tình rạt rào như dòng suối vây quanh Dù mai đây hương mùa cũ phôi pha Anh vẫn sẽ yêu em như ngày trẻ dại Nếu có điều gì vĩnh cửu được Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta Dù mai đây trăng có úa bên thềm Và ngày buồn thu tàn kéo qua đây Rồi mùa đông vội vã đến bên ta Anh giữ mãi lời nguyền cùng bên em…” Đợi cho tiếng nhạc mất hẵn Ngọc Anh mới lên tiếng. – Nhạc Từ Công Phụng, em thích bản này nhất, như câu “Nếu có điều gì vĩnh cửu được... Thì anh ơi đó là tình yêu chúng ta...” Tiếng “em” của nàng thật dịu dàng và âu yếm tới độ gã phải quay nhìn. Trong bóng đêm mờ mờ gã thấy nụ cười và ánh mắt nhớ suốt đời. – Tình yêu có vĩnh cữu không Quá? – Không biết... nhưng tôi tin nó hiện hữu. Sau câu nói Quá bóp nhè nhẹ bàn tay của người tình. Nhạc lại nổi lên cùng với tiếng hát của người ca sĩ trong đêm mưa nghe buồn lê thê. “Tim tôi như trái mìn đợi nổ Khi gã tới gần em gần em rồi gần em Trong ánh mắt ngầm trao lời tình lửa Tôi đọc thấy long lanh giòng suối hẹn như lòng em rực rỡ hoa tươi khi em rộng lượng mỉm môi cười Ly rượu sóng trên môi cuống phổi tôi teo tóp nghẹn Tôi biết là đã mất em là đã mất em trong đời nụ cười em mang theo gió bão trùng khơi Tôi biết là đã mất em Em đã biến khỏi tình tôi sông lạch Nụ cười em cơn bão rớt hồn tôi Gã ngồi xuống bên em trái đất nghiêng vài độ Tôi như không còn có đó như vật thừa em đã bỏ quên như chiếc lược gẫy tương tư sông dài tóc mướt như đôi giầy cũ nằm rên rỉ nhớ chân mềm Tôi muốn bỏ đi mà núi chắn sau lưng, biển ngăn phía trước núi cũng là em mà biển cũng là em Từ lỡ trao thương những sợi tóc cỏ huyền Đã quấn chặt hồn si chín kiếp Tôi hóa thạch mà em đâu có biết em ơi!” Đưa tay lên xem đồng hồ, thấy chỉ gần 6 giờ sáng, gã chỏi tay ngồi dậy đốt đèn. Quấn chiếc mền nhà binh, Ngọc Anh xoay người nhìn người tình đang đốt lò dầu nấu nước sôi pha cà phê. Dường như có tiếng lính ơi ới nhau xen tiếng trẻ con khóc cùng đàn bà nói chuyện lao xao. – Hôm nay mình làm gì hả Quá? – Hy vọng mưa lớn để... Ngập ngừng giây lát gã mới nói tiếp: – Để Ngọc Anh ngắm mưa bay ngút ngàn phương trời.. – Quá không muốn tôi ở lại đây hả Quá? Giọng Ngọc Anh nghèn nghẹn. Đang chế nước sôi vào cái phin cà phê, nghe Ngọc Anh hỏi câu đó, gã vội ngưng tay bước tới giường nàng đang nằm: – Không phải vậy đâu. Không có nỗi sung sướng nào hơn nếu tôi được Ngọc Anh ở bên cạnh. Nhưng tôi sợ Ngọc Anh chết. Ở đây nguy hiểm lắm... bị pháo kích thường xuyên. – Thì tôi ở cạnh Quá mà. Gã thở dài lắc đầu: – Cho dù Ngọc Anh ở cạnh nhưng tôi cũng không che chở được cho Ngọc Anh. Súng đạn vô tình và tàn nhẫn lắm. Gã nói với giọng mà khi nghe Ngọc Anh ứa nước mắt sụt sùi: – Tôi yêu Quá. Tôi chấp nhận hết những gì xảy ra... – Tôi yêu Ngọc Anh. Tôi không muốn Ngọc Anh chết. Tôi bất lực...tôi không thể che chở được cho Ngọc Anh. Gã ôm người mình thương yêu vào lòng. Ngọc Anh ngửi được mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, mùi thuốc súng hòa quyện với mùi ẩm mục của đất và mùi hương trên thân thể mình tạo thành mùi hương không có ở bất cứ nơi nào. – Quá ơi! Tôi yêu Quá. Vòng tay của nàng ghì chặt lấy thân thể người tình mà nàng biết sẽ không còn thuộc về nàng trong những ngày sắp tới. Rồi đây Quá Mộng không còn là của nàng nữa. Chiến tranh đã lấy đi gã con trai nhiều đam mê và lãng mạn. – Trời sáng rồi. Ngọc Anh dậy mặc quần áo đi. Gã van nài khi thấy người tình cứ quấn lấy cái mền nhà binh mà không chịu ngồi dậy mặc quần áo. – Hông... mệt quá... tại Quá đó. Cười gượng vì cái giọng nhỏng nhẽo của người tình, gã càng thêm bối rối khi nghe tiếng bước chân rồi giọng của Tình vang vang ngoài cửa hầm: – Thiếu úy... Thiếu úy ơi! – Gì đó Tình? Tôi đang uống cà phê. – Dạ. Vợ tôi nấu xong rồi. Mời thiếu úy và cô Anh tới nhà ăn sáng. Liếc nhanh Ngọc Anh đang cười tình với mình, gã nhìn ra cửa hầm rồi nói lớn: – Chừng nào bớt mưa tụi này sẽ tới. – Dạ tui chờ thiếu úy. Đợi cho Tình đi rồi, gã mới bước tới bên giường: – Ngọc Anh ngồi dậy uống cà phê. Tôi đã bỏ hết tình của tôi bảo đảm cà phê ngon hết sẩy... Có lẽ vui vì câu nói, Ngoc Anh nhanh nhẹn ngồi dậy. Tay quấn mền, tay nhặt lấy cái túi vải nàng đi về góc tối sửa soạn trong lúc gã lui cui chế nước sôi vào cái phin. Nghe tiếng tằng hắng, gã ngước lên nhìn sững sờ vì ngạc nhiên. Người đàn bà sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn có đời sống nhung lụa đã không còn nữa. Bộ bà ba đen bằng lụa, mái tóc dài được cột bằng chiếc khăn mù xoa, không son phấn, không nước hoa; Ngọc Anh đẹp thanh khiết và thuần hậu. – Quá thích không? Gã cười gật đầu. Đặt ly cà phê nóng trước mặt người tình, gã vui vẻ thốt: – Ngọc Anh đem theo mấy bộ quần áo? – Chi dzậy? Có 3 thôi. – Bởi vì Ngọc Anh sẽ chụp ếch nhiều lần lắm. Quần áo sẽ bị dính bùn đất và ướt nhẹp nên phải thay hoài. – Chụp ếch là làm sao? Gã bật lên cười hắc hắc khi nghe nàng hỏi: – Chút nữa đi ra ngoài Ngọc Anh sẽ biết liền. Mình uống cà phê xong tới nhà Tình ăn sáng. – Còn mưa mà... – Mặc áo mưa đi.Mùa này mà đợi mưa tạnh thì lâu lắm. – Ăn xong rồi mình làm gì? – Mình đi xem mưa bay ngút ngàn phương trời... Hôm nay anh bảo đảm em sẽ thấy mưa bay ngút ngàn phương trời, mưa ướt mặt người và mưa ướt nụ cười luôn... Mắt của Ngọc Anh long lanh nỗi vui mừng khi nghe gã gọi mình bằng em và xưng anh. Cuối cùng gã cũng hết ngại ngần: – Em cám ơn anh. Gã cười cười uống cạn ly cà phê của mình đoạn đứng dậy đi vào góc nhà. Lát sau gã trở lại bàn với đôi bốt đờ sô. – Anh mang giày cho em. Em mang giày lính đi chắc ít bị chụp ếch hơn. – Em mang giày lính rồi em có thành lính của anh hông? Ngọc Anh hỏi. – Em không thành lính mà em là người tình của lính. – Cái đó em thích nhất. Gã im lặng mang giày cho Ngọc Anh trong lúc nàng uống cà phê. – Xong rồi. Em đi thử xem có đau chân không? Đứng dậy, đi vài bước, quay trở lại đứng trước mặt gã, nàng cười thay cho lời cám ơn về sự săn sóc nhưng lại buông một câu: – Khi nào đau chân anh cõng em nghen. – Không đợi đau chân, nếu em muốn anh sẽ cõng em suốt đời. Cười thánh thót, Ngọc Anh để cho người tình trùm poncho lên đầu che kín người rồi bước ra ngoài trời đang mưa. Đứng nhìn theo, gã lẩm bẩm: – Lạy trời xin đừng có pháo kích… ***** Chiều chủ nhật buồn.. Nằm trong căn gác đìu hiu... Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều... Trời mưa, trời mưa không dứt... Ô hay mình vẫn cô liêu... Chiều chủ nhật buồn... Nằm trong căn gác đìu hiu.. Nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều... Người tình rời xa chăn chiếu... Bơ vơ còn đến bao giờ... Lời hát trong ca khúc Lời buồn Thánh vang lên trong buổi chiều chủ nhật làm cho Ngọc Anh cảm thấy buồn rũ người. Nàng uể oải trở mình nằm ngửa mặt nhìn lên nóc mùng trắng. Lật bật mà nàng với Quá xa nhau hơn 2 tháng rồi. Sau chuyến đi Thủ Thừa thăm Quá trở về hơn tháng nàng biết mình có thai. Đó là điều mà nàng mong ước khi ân ái với Quá, bởi vậy khi biết mình có thai nàng vui nhiều hơn buồn. Dĩ nhiên nàng cũng biết sự dị nghị của thiên hạ nhưng nàng bất cần. Nàng đủ lớn, đủ mạnh mẽ để khắc phục những phiền hà vây quanh. Như thế mới có thể sống thực với mình và cho mình. Điều duy nhất mà nàng quan tâm chính là Quá. Nàng biết gã là lính ở xa, đã nghèo thêm khổ do đó nàng không cần và không muốn gã phải cưu mang và cấp dưỡng cho nàng với con. Nàng chỉ cần tình thương của Quá dành cho nàng và đứa bé sắp chào đời. Thế thôi. Ít tham lam thì đỡ khổ hơn. – Mẹ... Mẹ ơi... Mẹ có thư của chú Quá nè mẹ. Ngọc Anh ngồi bật dậy khi nghe con gái út gọi. Đón lấy lá thư nàng nhỏ nhẹ lên tiếng: – Cám ơn con. Con bảo chị Đẹp làm cho mẹ ly chanh muối nghen. – Dạ. Mẹ đói không? mình có cháo lòng ngon lắm mẹ. – Ừ. Chút nữa mẹ xuống. Đợi cho con gái ra khỏi phòng, Ngọc Anh xé thư và im lặng đọc thư của người tình. “Em thương yêu. Ngọc Anh cười như Quá Mộng đang đứng trước mặt mình. 3 ngày ở cạnh người tình trong căn hầm núp nhỏ là 3 ngày hạnh phúc nhất. Tuy thời gian ngắn ngủi nhưng nàng mãn nguyện. Quá đã nói hạnh phúc nào cũng ngắn ngủi, đến rồi đi trong khoảnh khoắc mà thôi. Ở cạnh Quá, nàng biết tình yêu có thực. Ở cạnh Quá, nàng biết giá trị của nụ cười và tiếng khóc. 3 ngày trong ngôi đồn nhỏ, chung đụng với những người lính, nghe kể chuyện nàng đã được chứng kiến sự sống và sự chết, sự tàn nhẫn của chiến tranh và mới biết còn thở được quí giá ra sao. “Trước nhất, anh xin cám ơn em đã yêu anh. Tình yêu tuyệt vời của em cho anh chút hy vọng dù mỏng manh, chút niềm tin dù yếu đuối, để có thể sống sót trong cuộc chiến càng ngày càng nặng độ mà trở về với em, nhìn em, nghe em nói cười và ôm em trong vòng tay khát khao hạnh phúc. Dù biết ý nghĩ của mình rất ngông cuồng song anh phải nói ra. Tháng 9 anh sẽ được đi phép 1 tuần lễ. Về Sài Gòn, anh sẽ tới gặp em, năn nỉ em cho phép anh cưới em. Nếu em không bằng lòng thì anh sẽ bắt cóc em đi theo anh xuống Thủ Thừa làm vợ lính... Ngọc Anh biết nước mắt ứa ra trên mặt mình. Nàng khóc vì vui sướng và cảm động trước những lời của Quá viết trong thư. Gã không chê nàng lớn tuổi, không coi nàng là gái già có con, không màng tới lời đàm tiếu, có thể của bè bạn hay người quen biết vì gá nghĩa với một người đàn bà con đàn con đúm. “Ngọc Anh ơi! Tôi gọi tên “chị” hoài hủy. Nhớ môi hôn dùi dập. Nhớ bàn tay ân cần. Nhớ ánh mắt nhìn lã lơi trong đêm. Nhớ thân hình ấm mềm... nhớ thật nhiều... quá nhớ anh nhiều quá anh ơi...” Không nhịn được Ngọc Anh ré lên cười hắc hắc khi đọc tới câu cuối cùng. Trong óc nàng cũng hiện lên câu nói “anh cũng nhớ quá nhiều quá quá ơi...” 3 ngày ở bên Quá thật đáng nhớ. Không quen mang giày trận của lính, lại đi trên đường đất lầy lội và trơn trợt nên nàng chụp ếch đủ kiểu, té đủ kiểu; té ngồi bệt xuống đất, té chổng mông, té xấp, té ngửa, té nghiêng. Điều khiến cho nàng mắc cỡ và sùng nhất là Quá lại không chịu nâng, đỡ, dìu dắt mà còn cười châm chọc: “Ngọc Anh đẹp mà té còn đẹp hơn, tình hơn... Tôi mê các kiểu té của Ngọc Anh...” Nàng nhớ lại phút giây, mặc poncho, ngồi cạnh Quá trên nóc hầm núp, im lặng thưởng thức cảnh “mưa bay ngút ngàn phương trời”. Gió từ vùng đồng không mông quạnh xa tít mù xa mà Quá nói là Đồng Tháp Mười, cuộn về những giọt nước mưa lạnh quất mạnh làm ran ran da mặt. Mưa rủ gió, gió kéo lê lết mưa lã lướt ngọn cỏ xanh um. Mưa mù trời. Mưa trắng ngàn khơi gió lộng. Đợi cho người tình ngắm cảnh mưa rơi thật lâu, Quá mới nhẹ nhàng lên tiếng: – Có những ngày mưa như thế này Quá mới cảm nhận ra những ngày ở Sài Gòn trò chuyện với Ngọc Anh thật thú vị. Ngọc Anh quay sang nhìn người tình rồi nghiêng người hôn lên môi. Nụ hôn đầy nước mưa trong đó như có vị mằn mặn của nước mắt ứa ra hòa trộn vào nước mưa. Gã cười tung chiếc poncho lên trùm kín lấy mình và Ngọc Anh. Trong bóng tối, trong âm thanh lốp bốp của tiếng mưa rơi, gã hôn ngấu nghiến lên làn da mặt đẫm nước mưa lành lạnh. Ngã người ra nằm trên nền đất lạnh, Ngọc Anh vòng hai cánh tay ôm lấy cổ và kéo lại thật gần. Bên ngoài vẫn mưa, mưa mù trời... Tháng 11. Ngọc Anh ngồi im nhìn ra đường. Đã bao nhiêu lần, không biết bao nhiêu lần rồi nàng ngồi nơi chiếc bàn dành riêng cho Quá Mộng, ngồi trên chiếc ghế quen thuộc mà Quá Mộng của nàng ngồi mỗi khi tới đây để chờ, để đợi bóng dáng của gã con trai có dáng đi lừng khừng, giọng nói nhát gừng và nụ cười khinh bạc. Nàng cúi nhìn cái bụng hơi u cao của mình. Bây giờ ai cũng biết nàng đang mang thai. Điều đó khiến cho những người “khách trồng cây si” vỡ mộng và ít lui tới hơn. Nàng biết song làm lơ. Nàng bất cần. Trăm người bán vạn người mua mà. Năm bảy người si mê nàng không tới uống cà phê cũng không làm cho nàng nghèo hơn. Nàng còn cám ơn họ nữa vì đỡ bị phiền hà hoặc cảm thấy nhột nhạt vì cái nhìn soi mói. “Tôi có thai với ai kệ tôi mắc mớ gì tới các anh... Tôi có bồ với ai, có yêu ai đó là chuyện của tôi. Không lẽ một người đàn bà chết chồng như tôi không được quyền yêu ai sao...” Ngọc Anh thở dài đưa tay xoa bụng mình. Tác giả của cái bào thai, người làm cho nàng có cái bụng bầu, đã hẹn với nàng tháng 9 sẽ trở về mà bây giờ tháng 11, bóng dáng của gã vẫn mịt mùng âm hao, biệt vô âm tín. Gã đã thất hứa. Gã đã lỡ hẹn rồi. Quá Mộng đã quên lời hứa với nàng rồi. Hay là gã sợ bổn phận làm chồng, làm cha nên trốn biệt luôn. Thực ra thì gã viết thư hứa hẹn, chứ nàng đâu có bắt gã phải làm đâu. Nhớ Quá quá Quá ơi! Ngọc Anh lẩm bẩm như nàng đã nói như vậy thầm lặng trong trí não của mình lúc ngồi nơi chiếc bàn quen thuộc đợi người đi xa chưa về, đợi hoài chờ mãi tới lúc hóa thạch. Nhạc cất lên bằng âm thanh dịu dàng và tiếng hát vời vợi trên cao. Mưa không rơi ngoài trời kia mà mưa rơi trong lòng người. “Lối rêu xưa sẽ mờ dấu chân người người buồn cho mai sau, cuộc tình ta tan mau Thoáng như chiếc là vàng bay mùa thu qua, mùa thu qua hững hờ Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau Mưa trên nụ cười mưa trên tình người lệ nào em sẽ khóc ngàn sau Với đôi tay theo thời gian tôi còn một trời mây lang thang, một mình tôi lang thang Lá vẫn rơi bên thềm vắng từng thu qua, từng thu qua võ vàng Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau Mưa trên cuộc đời mưa như nghẹn lời lệ này em sẽ khóc ngàn sau...” Ngọc Anh nhìn ra cửa khi thấy bóng người bước vào. Nàng nhận ra Kha, bạn thân của Quá đang học năm cuối cùng của Trường cao đẳng mỹ thuật Gia Định. Kha thường tới đây khi Quá còn ở Sài Gòn. Lâu nay không tới vì chắc không có tiền. Yêu Quá, mến luôn bạn của gã, nàng bảo Kha và mấy người bạn cứ tự nhiên tới uống cà phê, có tiền thì trả mà không có tiền cũng chẳng sao, song Kha ngại nên lâu lâu mới tới. – Kha mạnh không? Ngọc Anh cười hỏi. Ngồi xuống ghế đối diện với nàng, Kha vui vẻ trả lời: – Dạ mạnh. Chị vẫn bình thường? Hỏi xong thấy cái bụng bầu của nàng, anh nhìn chăm chú giây lát rồi im lặng. Ngọc Anh cười nhẹ: – Chị hơi mệt chút chút. Cái thai nó hành... Kha uống cà phê nghen. Kha gật đầu. Đang ngồi nơi quầy tính tiền, Ánh bỏ vào trong làm cà phê cho Kha. – Em có gặp Quá không Kha? Kha có vẻ ngập ngừng giây lát khi nghe Ngọc Anh hỏi về Quá: – Dạ không. Từ hồi nó đổi đi Thủ Thừa, em chưa gặp nó lần nào. Nó có tới đây không chị? Ngọc Anh gật đầu nhìn ra cửa. Ánh mắt nàng thật xa vắng: – Quá có tới đây. Lần cuối cùng Quá nói tháng 9 sẽ trở lại mà bây giờ tháng 11 rồi... Kha cảm nhận ra trong giọng nói của Ngọc Anh như có nước mắt dù nàng cố giữ cho thật bình thường. Cà phê đặt trên bàn. Hai người cùng im lặng. Ngọc Anh nhìn ra cửa. Kha nhìn những giọt cà phê nhễu xuống ly. Quán vắng tanh và im lặng ngoại trừ tiếng nhạc nhỏ và êm. “Một mai khi xa nhau người cho tôi tạ lỗi dù kiếp sống đã rêu phong rồi Giọt nước mắt xót xa nhỏ xuống trái tim khô một đời tôi tê tái Lắng nghe muôn cung sầu hắt xuống đời Một trời tôi thương đau, một trời em mưa mau Sống buông xuôi theo ngày tháng từng thu qua vời trông theo đã mờ Lệ rơi trên tim tôi, lệ rơi trên đôi môi Yêu nhau một thời, xa nhau một đời Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi Yêu nhau một thời, xa nhau một đời Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi...” Ngọc Anh cảm thấy mắt mình cay và cảnh vật ngoài đường như mờ đi. Kha uống cà phê đá thành ra tiếng muỗng khuấy đường đụng vào thành ly thành âm thanh lanh canh.Thoáng chốc anh uống đã gần cạn ly cà phê. Tuy ngạc nhiên song Ngọc Anh cười im lặng. Thấy Kha thò tay vào túi nàng đưa tay ngăn lại: – Chị đãi Kha đó. Khi nào thành họa sĩ vẽ cho chị bức tranh đẹp nghen. – Dạ. Em sẽ vẽ chân dung của chị. Kha cười đứng dậy đi ra cửa. Ngọc Anh nhìn theo. Nàng nhớ tới Quá. Ra tới đường đứng giây lát Kha lại quay trở vào. Tới đứng ngay bàn, nhìn Ngọc Anh, anh nói chậm và nhỏ: – Em nghĩ chị cần biết chuyện này... – Chuyện gì hả Kha? Hơi ngập ngừng rồi Kha mím môi: – Quá chết rồi chị... Không khí trong phòng như đông lại. Tiếng hát cất lên xa vời vợi: “Yêu nhau một thời xa nhau một đời... Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi...” Giọng của Kha nghe như được như mất: – Đồn của nó bị pháo kích. Đạn rơi đúng ngay hầm lúc nó ngủ. Ngọc Anh im lìm nhìn theo bóng Kha tất tả đi ra cửa. Nàng mơ hồ thấy Quá Mộng của mình mặc poncho ngồi trên nóc hầm núp ngóng mưa bay ngút ngàn phương trời. Mưa ướt chỗ gã ngồi. Mưa ướt mặt người... Giọng đọc thơ của Quá hòa quyện trong tiếng mưa rơi: ANH đi dáng hiện thành văn tự... Ánh mắt, môi cười, người... mê... ANH... Chu Sa Lan |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 10/Dec/2025 lúc 2:05pm |
5 Trường Hợp Mổ Người Lấy Đạn M79 Chưa Nổ Trong Chiến Tranh VNChiến tranh VN có 1 chuyện đặc biệt là những trường hợp mổ lấy đạn M79 chưa nổ, trong cơ thể bệnh nhân ra khỏi bệnh nhân: 1. do 1 bác sĩ Quân Y Hoa Kỳ Dr. Mayer Katz, mổ năm 1968, hình như về sau là Thiếu Tướng Quân Y, là người đầu tiên và thương binh được mổ là người Hoa Kỳ. Mayer Katz: Lewes surgeon checks in on Vietnam patients 2. do BSQY Lê Thành Ý, mổ năm 1971, hiện ở Canada, có trong Diễn Đàn QYNDS. Tôi đọc và nhớ mãi 1 điểm ở bài anh Ý viết đăng trên quyển QY QLVNCH 2000 của anh Trần Xuân Dũng (và xin chép lại ở dưới đây): trước khi mổ anh Ý "rít" 1 hơi thuốc lá Quân Tiếp Vụ và sau khi mổ xong, anh lại "rít" ngay 1 hơi thuốc Quân Tiếp Vụ. 3. do BSQY Phạm Ngọc Đức, mổ năm 1973, QYHD đã RIP và khi còn sống tỵ nạn ở Canada: Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y Hiện Dịch Tâm tình của BS Phạm Ngọc Đức và ca mổ trái đạn M79 chưa mổ 4. do BSQY Hoàng Như Tùng, RIP, hình như tại QYV Phan Thanh Giản mổ lấy quả đạn trong hốc mắt 1 thương binh: https://www.facebook.com/groups/theodaugiayso/permalink/1468382151054131/ 5. do BSQY Phạm Văn Lương, RIP, (tôi không chắc về chuyện này nhưng trong quá khứ có đọc 1 bài viết nhắc đến và nay không tìm thấy 1 bài này nữa) Anh Lương là người cầm lựu đạn ở quốc hội ngày xưa và sau tự tử trong trại Học Tập ***** 1- Y Sĩ Trung Úy Biệt Kích Dù Lê Thành Ý, 1971. Tí Ti yêu, Anh kể cho em một việc đã xẩy ra trong đơn vị hành quân vào tuần qua. Hôm ấy, Một buổi trưa bận rộn tại trại bệnh của Ðại đội thì có điện thoại khẩn từ Trung Tâm Hành Quân Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân nói rằng một thương binh bị lãnh vào chân một quả đạn M79 chưa nổ. Trực thăng không chịu tản thương vì sợ đạn nổ khi di chuyển. Hỏi phải làm sao? Anh suy nghĩ thật nhanh, nếu không tản thương được thì mình phải bay vào đó, tiền đồn Plei me chứ sao nữa. Phòng 3 Biệt Ðộng Quân liên lạc Phòng 3 Quân Ðoàn để xin khẩn cấp một trực thăng đưa anh vào Pleime. Anh liên lạc ngay với Quân Y Viện để xem ai có thể đi cùng anh vào Pleime, vì nếu đạn nổ khi đang giải phẫu, còn có người cấp cứu cho anh, nhưng ai cũng bị kẹt cả, người ở phòng mổ, người ở trại bệnh. Anh nhủ thầm có lẽ mình phải tự lo liệu lấy. May sao, bác sĩ Xuân “tóc đỏ” ở tiểu đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị ở đâu lò dò sang Quân Y Viện chơi, nghe thấy thế bằng lòng tháp tùng anh vào Pleime. Anh bảo y tá trưởng mang theo túi giải phẫu M5. Ở trại Pleime cũng có ban quân y và thuốc men, nước “biển” nhưng dụng cụ giải phẫu e không đầy đủ. Dặn dò đâu đó xong xuôi, anh cùng anh Xuân lái xe Jeep qua phi trường trực thăng của Quân Ðoàn. Trong lúc chờ phi cơ lấy nhiên liệu và cũng chờ đội tháo gỡ đạn dược đi cùng, anh thơ thẩn trong sân bay, gặp Trung tá Minh, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 47 cũng đang chờ trực thăng trở về đơn vị. Ông ngạc nhiên hỏi anh đi đâu? Chuyện trò một hồi, biết rõ sự việc, ông chúc anh may mắn. Phải rồi, anh cần thêm may mắn nữa, Tí Ti ạ. Có phải em định hỏi anh quả đạn M79 như thế nào, vì em có bao giờ trông thấy súng đạn… Tuy phải trực diện với thần chết mỗi ngày, nhưng hôm nay anh mới thật sự có cảm giác đang đùa giỡn với nó. Quả đạn M79 này to khoảng nắm tay trẻ con, nó sẽ phát nổ nếu đã xoay đủ vòng trước khi chạm mục tiêu, nhưng sức nổ thì mạnh đáng sợ. Nếu anh thiếu may mắn thì bức tường cát anh đang vẽ trong đầu để giải phẫu thương binh kia vẫn không đủ bảo vệ được hai cánh tay và cả gương mặt người y sĩ giải phẫu, còn nói gì đến người thương binh. Trực thăng cất cánh, trực chỉ trại biên phòng Pleime… Khi còn sinh viên y khoa, anh cũng từng theo dõi trên truyền hình, tướng Humphreys giải phẫu lấy quả M79 ở Chợ Rẫy, qua bức tường bao cát, với dụng cụ biến chế, vị y sĩ giải phẫu này đã cứu thoát thương nhân. Thật là dũng cảm. Và giờ đây, anh đang ở trước một tình trạng tương tự. Anh không do dự, quyết định phải cố gắng thi hành nhiệm vụ của mình... Trong chốc lát, trại Pleime đã hiện ra qua khung cửa. Trực thăng đáp từ từ. Tiếng đạn pháo binh trong trại đang nã vào vùng hành quân làm điếc tai. Tụi anh nhẩy xuống chạy thật nhanh về phía cổng trại. Xe jeep đã chờ sẵn bên phi đạo. Ðại Úy Giác trưởng trại vẫy tay “Hello”. Anh phi công đưa ngón cái lên chào rồi chúc may mắn. Nụ cười tươi đầy khích lệ của chàng làm anh thấy ấm lòng. Anh ta ra hiệu trực thăng phải quay về Pleiku để thực hiện phi vụ khác. Anh vẫy tay chào cảm ơn, nhưng thực lòng muốn giữ trực thăng lại trại, phòng hờ bất trắc khi cần thiết, nhưng nhiệm vụ của họ chỉ có thế. Vừa lên xe, anh đã hỏi ngay tình trạng người thương binh đang mang quả đạn trong người. Ðó là một binh sĩ người Thượng, còn trẻ, bị lãnh nguyên một quả đạn nơi bắp chân trái, được võng về trại khoảng nửa giờ, đã xin tản thương bằng trực thăng về Quân Y Viện, nhưng bị từ chối vì ai cũng sợ đạn sẽ phát nổ trong lúc di chuyển. Ðại Úy Giác chở anh tới bệnh xá nơi thương binh nằm. Tội nghiệp anh thương binh mặt tái xanh có lẽ vì sợ hơn là vì đau. Vết thương chảy máu ít. Xem xét vết thương nhè nhẹ, rồi anh cho truyền nước biển trong khi chờ đợi. Rời bệnh nhân, anh đi quanh bệnh xá, nhìn qua vị trí. Bệnh xá là một cái nhà vòm bằng thiếc có lèn bao cát chung quanh. Bên trong nhà vòm, ngoài phòng khám bệnh và văn phòng, kho thuốc, còn có một khoảng trống khá rộng. Nhìn sơ vị trí. Anh nghĩ phải làm một bức tường bao cát có “khung cửa sổ”. Khung cửa sổ vừa tầm tay để anh có thể cầm dao mổ và đặt một cái bàn để thương binh nằm cạnh khung cửa sổ này phía bên kia bức tường. Bàn bạc với Ðại Úy Giác mọi việc xong. Ông ra lệnh binh sĩ phải sửa soạn ngay lập tức. Tất cả mọi người đều hăng hái nhận việc. Nhiều thùng gỗ pháo binh và bao cát được thay nhau mang đến, lính Biệt Kích làm thật nhanh chỉ thoáng chốc là đã xong cái khung. Trong lúc chờ cái phòng mổ dã chiến của mình hoàn tất, anh đi bách bộ trong sân trại nghĩ cách đặt người thương binh nằm thế nào, gây tê làm sao? Anh hút hết điếu thuốc này rồi châm điếu thuốc khác, chờ cho cái “tường cát” kia hoàn tất. Anh lại rảo bộ cho tĩnh tâm. Ði bên phía văn phòng chỉ huy trại, tình cờ gặp Cha Tuyên Úy của toán cố vấn Mỹ đang đi tới. Tay bắt, miệng cười, Cha siết chặt tay anh và chúc may mắn. Anh cám ơn và xin Cha “pray for me”. Thọc tay vào túi kiếm bao thuốc lá, chỉ còn bao không. Anh Giác thẩy cho bao Quân Tiếp Vụ. Ðốt một điếu thuốc. “Rít” một hơi. Viên sĩ quan trợ y chạy đến báo đã làm xong mọi việc, kể cả cái cán dao mổ mà anh vẽ kiểu. Ðó là cán dao bằng gỗ hình chữ L mà dao mổ sẽ được cột chặt vào nơi cạnh nhỏ. Vào đến phòng mổ dã chiến hoàn tất. Bức tường bao cát màu xanh đậm càng làm tăng không khí lạnh lùng, qua khung cửa sổ ánh sáng đèn mổ chói chang. Anh đến bên khung cửa sổ thử đi thử lại với con dao mổ cho nhuần nhuyễn. Người thương binh được khiêng lên bàn mổ từ từ. Ðôi mắt mở lên nhìn anh, muôn ngàn lời nói. Anh mỉm cười và vỗ vai để anh ta yên lòng. Hai chân được cột chặt vào chân bàn, tất cả thân người đã được phủ áo giáp trừ nơi chân bị thương. Thật cũng buồn cười, thay vì phải mặc “blouse” khử trùng, mang (găng) gants khử trùng, anh phải khoác một áo giáp, cổ áo giáp vén cao để bảo vệ cái cổ của mình. Anh lại thử cán dao qua khung cửa để thuần tay. Chân bị thương được khử trùng... Gây tê bắt đầu... một garrot được cột phía trên vết thương... Mọi việc tiến triển tốt đẹp... Anh xin mọi người rời khỏi phòng, trừ bác sĩ Xuân và y tá trưởng. Chung quanh yên lặng theo dõi anh. Khi biết thuốc gây mê đã thấm. Anh gật đầu ra hiệu, Ðại Úy Giác ra lệnh các khẩu pháo ngừng bắn. Không gian đột nhiên im như tờ. Anh nghe tim đập mạnh và nhanh. Hít thật sâu và tập trung tư tưởng... nhìn cái chân phồng lên qua khung cửa nhỏ. Không nhìn thấy mặt mình lúc này, nhưng anh nghĩ chắc tái xanh. Mồ hôi rịn khắp người lạnh toát, nhưng anh quyết định thực hành ngay. Lấy hơi và nín thở. Dao mổ đi một đường nhẹ, một tiếng “cách” nhỏ khi lưỡi dao đụng vào đầu đạn làm anh toát mồ hôi. Ngưng lại một giây chờ đợi, không có gì xẩy ra, làm mình thêm vững chí. Tiếp tục nhấn mạnh lưỡi “scalpel” và rạch vết mổ cho rộng thêm. Quả đạn M79 nằm tròn đây rồi - đầy đe dọa - được từ từ gắp ra với cái kẹp nước đá. Anh thở phào trong tiếng reo mừng của toàn thể anh em có mặt. Quả tạc đạn được đặt ngay trong thùng đạn đại liên đã lèn đầy bông băng, trao cho chuyên viên tháo gỡ đạn dược mang ra sân sau trại cho nổ. Mọi người đến bên anh bắt tay chúc mừng. Anh Giác trao cho anh một điếu Quân Tiếp Vụ. Anh “rít” một hơi, sao mà nó ngon quá! Anh thương binh nhìn anh cười thật tươi như cảm ơn. Vết thương được cầm máu, rửa sạch và băng lại. Mọi người cười nói ồn ào, vui vẻ khác hẳn mấy tiếng đồng hồ trước đó. Anh liên lạc về Pleiku báo cáo với Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng kết quả giải phẫu và ngày mai sẽ trở về với thương binh. (Trích Pleime,hè 71, Lê Thành Ý - Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 2000)
Phạm Anh Dũng |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 15/Dec/2025 lúc 2:10pm |
Bông Hồng Kính Dâng Các Chị..."Vợ Lính"Tên cai tù trại Vĩnh Quang lật qua lật lại, xoay ngược xoay xuôi tờ đơn xin thăm nuôi chồng của chị K.A, mặc dầu tờ đơn này đã nhầu nát gần như tả tơi bởi qua tay các cơ quan ở địa phương để được đóng 3 con dấu từ khóm, phường tới quận, hồi lâu hắn vất trả lại, giọng nghiêm chỉnh đúng tiêu chuẩn XHCN: – Chồng chị vi phạm lội qui, cải thiện ninh tinh, nười nao động lên bị trại cắt thăm luôi, chị phải ráo rục chồng chị sớm rác ngộ để nần sau sẽ được cứu xét. Nghe như sét đánh mang tai, bình thường thì chị cầm tờ giấy quay lui, không nên phí phạm một chút nước miếng, nhưng nay vì thương chồng, vượt 3 ngày đường chỉ để… nhìn anh mà không được! Cố gắng nuốt cục đờm đang chặn ngang cổ họng để khỏi phải lợm giọng phun ra, chị chưa biết tính sao, có nên xuống nước năn nỉ tên này hay không? Có nên tránh trâu để khỏi bị trâu đánh với hy vọng được trông thấy chồng? Bất chợt chị nhìn cái đồng hồ vỏ Seiko ruột nội hóa mà chị đeo nơi cổ tay và chị có dư thông minh biết phải làm gì. Cuối cùng cai tù cầm cái vỏ Seiko cho nhanh vào túi áo rồi gật gù cái đầu nhưng cũng giả bộ xẳng giọng: – Vì chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà lước ta, lay thay mặt trại, chúng tôi chiếu cố cho chị gặp chồng ba mươi phút, nhưng phải chấp hành đúng lội quy và vận động chồng chị học tập tốt, nao động tốt… Tai chị ù đi, chẳng cần nghe hắn nói tiếp những gì, cho tới khi nhìn thấy anh, được gặp anh là hạnh phúc lắm rồi, dù cho còn có chướng ngại vật là cái bàn như con sông quái ác ngăn đôi vợ chồng, kèm theo tên cán bộ như thần chết dòm chừng! Cái bàn như con sông chia đôi hai bờ Nam Bắc, tay cùng vươn tới nhưng không được cầm tay để truyền hơi ấm, chỉ có mắt trao đổi tình yêu thương, ngàn lời nói cũng không đủ, nhưng vừa mới nhìn nhau chưa kịp chớp mắt thì “thần chết” đã vung lưỡi hái lên cố tình để lộ cái “đổng” không người lái rồi tuyên bố hết giờ! Văn minh thật! Chị nghĩ thầm và cũng thầm khen bọn Cộng Sản tiến bộ rất nhanh, từ lúc hắn mang bộ mặt đồ đá, quá độ sang đồ sạo, cầm xong cái “đổng” là hắn mau chóng tiến tới thời kỳ đồ đểu chỉ trong vòng mười lăm phút, sao mà chúng có thể trở mặt nhanh đến thế! Thời gian cũng chạy nhanh theo thói xảo trá của chúng đến thế sao! Chị liếc nhìn xuống cái chỗ của mình ngồi rồi nhìn lên mấy ngôi sao đỏ trên cổ áo tên cai tù mà giận cành hông, rủa thầm: “mặt chúng mày toàn là một lũ đồ…đỏ” Chị biết chúng nó đã ăn gian, chúng muốn kiếm chuyện hết giờ để lột thêm cả những thứ ở … phía dưới! Chị nhìn xuống chỉ còn đôi dép Nhật mòn gót dưới chân! Nhưng thôi, chả cần thiết phải phí phạm thêm vài giọt nước bọt, nhìn thấy anh chưa bị vùi thân dưới chân đồi, bên nương sắn như một số đồng tù bất hạnh khác là được rồi, nếu ngồi thêm dăm ba phút nữa thì chị là người sẽ vi phạm nội quy vì ôm chồng chứ không phải vì anh nắm tay vợ. Vừa bước ra khỏi cửa nhà “thăm nuôi”, anh quay vào nhà tù nhỏ, chị trở về nhà tù lớn, hai vợ chồng đã bị khuất mắt bởi những đồi sắn, núi khoai mì trùng trùng điệp điệp, cả hai chinh phu và chinh phụ thời hậu 1975 cùng vừa ngoái đầu quay lại, vừa đi lui, đi giật lùi mà ruột gan như sát muối: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy. Thấy xanh xanh những núi rừng khoai …………………………………………………… Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” Chuyện đi thăm chồng của người vợ lính ở các trại tẩy não đều cùng hoàn cảnh tương tự như thế cả, sau vài ngày đường xa vất vả, bám theo tầu hỏa nóng như lửa, tới miền Bắc, cái nôi của XHCN thì bám theo xe trâu, cúi đầu đi theo lũ “bò vàng”, tay dắt con nhỏ, chân lội bộ cả ngày đường, vén quần vượt suối, ôm bụng lội bến phà Trang, vượt trăm gian ngàn khổ, đứng ngoài vòng rào ngóng cổ trông chồng, người thì thấy, kẻ thì không, không biết các anh còn hay đã lên đồi, nỗi thống khổ này dễ mấy ai biết! Sách các anh viết về đời sống thú… ơi là thú trong các trại tù thì bày bán tràn ngập phố phường, nhưng những bước đường các em đi đến trại giam người yêu, vợ lần mò khắp rừng sâu núi thẳm để thăm chồng thì vẫn không thấy câu thơ bài văn nào nói đến cả! Các anh ngày xưa có ngòi bút tài hoa lả lướt biến đâu rồi? Dẫu cho nay mực của các anh còn hay đã cạn thì cũng mạnh dạn vươn vai đứng lên cố nguệch-ngoạc viết cho chúng em đôi điều gọi là còn một chút gì để nhớ để thương chứ các anh cứ tả cảnh tả tình bọn gian manh hành hạ các anh mà không viết vài lời gọi là cám ơn vợ đi nuôi chồng khiến chúng em vẫn ngóng cổ cò, như con cò lặn lội bờ sông gánh gạo nuôi chồng thì chờ đến bao giờ mới được đọc hồi ký các anh viết về chuyện vợ đi nuôi tù? Sau những ngày tháng bòn mót sửa soạn rồi lặn lội từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng lên đồi cao rừng sâu núi thẳm để thăm nuôi chồng, 3 ngày đường đổi lấy 30 phút, mắt nhìn mắt mà tay chẳng được cầm tay, rồi chàng trở về trong song sắt, nàng lững thững ngoài chân mây! Nếu như chúng ta đã có những bài thơ hay, bài nhạc hùng ca tụng người lính thì lại thiếu nhiều lời nói về người những người mẹ, người vợ, người đẻ ra lính, nuôi lính, những người đứng sau lưng làm chỗ dựa vững chắc cho lính tiến về phía trước, bước ra sa trường. Những người mà các chàng Không Quân hào hoa như Văn Ức, Nguyễn Duy Diệm, Võ Ý gọi là người lái “phi công”, ông Bộ Binh tôn vinh là hoàng hậu chiến trường, Nhẩy Dù Đích Thân “Anh 23, Em 19, Út 22 v.v.” nâng nàng lên hàng nội tướng, BĐQ, TQLC, Pháo Binh, Thiết Giáp âu yếm phong làm tổng chỉ huy hậu phương, nội tướng, dễ thương hơn thì gọi là “nàng dâu” Võ Bị, Thủ Đức, Đồng Đế v.v.. Là gì đi nữa thì chính “bà” mới là người góp công lao đem đến chiến thắng của các anh nhưng họ lại âm thầm hứng chịu quá nhiều cay đắng, vẫn vắng lời thì thầm bên tai: “Cám Ơn Em.” Từ khi biết “anh thích mầu trời thì em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh”, nhưng rồi anh KQ bay bổng trời cao. Anh Mũ Xanh hành quân bốn vùng chiến thuật, sống hùng sống mạnh nhưng không sống lâu! Anh HQ lắc lư con tầu đi, anh Cọp Rằn hô “Biệt Động Sát”, anh ôm Dù mải mê hô “cố gắng”, nên chúng em chẳng thấy bóng các anh đâu! Dẫu cho có về hậu cứ nghỉ ngơi một vài ngày để tái trang bị thì vẫn ứng chiến, vẫn cấm trại! Có đúng thế không hay anh lại phịa ra chuyện đi hành quân.. vùng hậu tuyến khu trên, xóm dưới? Biết anh nói đối nhưng chúng em vẫn bồi hồi cố tin lời anh nói: “Một trăm em ơi! Chiều nay (cấm trại) một trăm phần trăm.” Người chinh phụ tân thời đưa vai gánh vác giang sơn nhà chồng, hiếu với cha yếu mẹ già, nuôi đàn con dại để chinh phu rong ruổi từ Bến Hải tới Cà Mâu, đêm đêm nghe tiếng súng đại bác từ xa vọng về, ôm con nguyện cầu ông bà tổ tiên Chúa Phật cho chinh nhân bình an trở về “Chinh nhân ơi, xin anh trở về.” Anh về rồi anh lại đi ngay, có khi đi mãi không bao giờ trở lại! Đất nước tôi chiến tranh bao trùm nhiều thế hệ, giặc Tầu, giặc Tây, giặc Cộng, nhiều tuổi trẻ đã thay nhau ra chiến trường, có anh trở về thì đã hòm gỗ cài hoa em thành quả phụ! May mắn hơn thì anh trên chiếc băng-ca, anh đu mình trên đôi nạng gỗ, dù có như thế nào đi nữa, dẫu có để lại một phần thân thể nơi chiến trường thì ngày anh trở về các em vẫn hạnh phúc, không bao giờ “làm dang dở đời em”. Ai đã từng là thân nhân của lính, mẹ lính, vợ lính đều có những giây phút căng thẳng lo sợ đến tột cùng khi đứng lặng nhìn những xe cứu thương hối hả lao về phía bệnh viện, những xe GMC chở quan tài phủ cờ lặng lẽ đi trên đường phố, những xe jeep đầy vết thương từ mặt trận trở về tìm đến xóm nhà mình ở. Thấy xe jeep đậu xịch trước cửa, em vội vàng lấy tay đè lên ngực như muốn ngộp thở, anh về phép với mẹ con em hay nhân viên hậu cứ đi tìm nhà báo tin anh đã hy sinh vì Tổ quốc? Đời vợ lính mãi mãi sống trong hồi hộp lo âu như thế! Kinh Thánh nói: “Con người ta sống không chỉ bằng cơm áo mà còn phải sống bằng tình thương”, ai có sống trong hoàn cảnh trông chờ người thân yêu mới thấy thương người vợ lính, lúc nào đầu cũng đau như búa bổ khi nhớ đến “nửa mình” còn mải mê với súng đạn. Người lính quanh năm suốt tháng miệt mài xông pha nơi chiến trường, mấy ai có dư thì giờ nghĩ đến hậu phương mà buồn mà lo! Lo là lo cho tròn nhiệm vụ, anh Bộ Binh lo tiến chiếm mục tiêu bằng mọi giá, cái giá anh phải trả là chính thân xác các anh. Anh Không Quân lo sao thả vài trái 500 pounds cho trúng đầu người “anh em” dưới đất mà quên đi những viên đạn 12 ly 7 từ dưới đất bay lên. Nó “hit & run” khiến anh nằm xuống nhẹ nhàng thanh thản, không còn đớn đau sầu oán. Một hỏa tiễn SA7 bay lên làm nổ tung chim sắt, cả chim sắt lẫn chim người cùng trở về với đất, anh không đau mà cũng chả buồn, người buồn là chúng em, những người lái “phi công”. Chim ăn biển Bắc người tìm biển Đông cũng còn có ngày gặp, nhưng anh rơi với chim sắt thì không bao giờ em còn thấy! Đêm đêm em về tìm anh trên vách, chỉ bóng mình bảo cho con là bố đó, bố con là KQ, BB, ND, TG, TQLC, những người sống hùng, sống mạnh nhưng không sống lâu, bố con là người hùng! Khi bị “gẫy súng” nghỉ cuộc chơi, người Không Quân gãy cánh, bỏ bầu trời xanh, anh Hải Quân không còn được yêu đời biển cả mà lắc lư con tầu đi trên đất lạ, chàng Kỵ Binh xếp áo giáp loang vết máu gục đầu trên pháo tháp! Sao anh không về đây gục đầu trên vai em? Pháo Binh súng to và dài thì xếp càng, bỏ lựu đạn lân tinh vào… lòng để mặc cho địch tự do ngày đêm pháo kích rung rinh tan nát đời vợ lính! Cuộc chiến tàn nhưng không thanh bình, ngày trở về, anh không về chống nạng cày bừa bên người yêu sẵn lòng giúp đỡ mà lại chống gậy vào tù khiến người vợ lính lại hóa kiếp thành người vợ tù nhưng vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Bao đau thương cực khổ suốt đời của người vợ lính nay cô đọng thành chén thuốc đắng, thuốc đắng không giã tật mà làm người vợ lính thành tàn tật cả thể xác lẫn tâm hồn. Con cò lặn lội bờ sông, đầu đường xó chợ, dãi nắng dầm mưa, kiếm gạo nuôi con nuôi chồng, còn nước mắt đâu để mà khóc nỉ với non!. Dù quan hay lính thì ngày xa xưa còn có dịp lên xe (jeep) xuống ngựa (sắt), cuối tháng bắt tí tiền còm đưa hiền thê tiền lính tính liền, nay không còn cách tính nào hơn là chôm đồ nhà đem đi bán. Nếu như trước đây hào hoa nhất lính KQ, có mỗi cái quần anh cũng bán đi, sáng mai anh mặc bằng gì? Anh mặc cái áo anh đi lòm khòm chỉ vì cái tật “cú lũ tàng tàng” thì nay nàng “lái phi công” không còn xu nào để chi mà chỉ…. hoa cả mắt vì vật lộn mưu sinh nên bắt buộc còn cái quần lót cũng phải bán đi để tiếp tế cho chồng trong tù được thêm hũ mắm ruốc, nắm thuốc rê, v.v. Chuyện tưởng như đùa mà có thật, chuyện kể rằng chị XYZ, người “lái phi công” nhận được thư chồng xin tiếp tế, nhìn quanh nhà chẳng còn gì để bòn để mót, chỉ còn một xếp quần lót 7 mầu (Monday to Sunday) mà ngày đầu tiên khi đi du học từ Mỹ Quốc trở về anh đem đến tặng em để làm kỷ niệm, em vẫn giữ kỹ để dành hơi mong tặng lại anh khi về phép. Nay thì thôi đành biến những kỷ niệm ấy thành hũ mắm ruốc, bánh thuốc lào. Trong tù, ăn mắm ruốc anh sẽ nhớ đến em, hút thuốc lào anh thấy hình ảnh em qua làn khói. Bên cạnh những khó khăn vật chất, người vợ tù còn phải thắt dây lưng, buộc bụng cho thật chắc để chiến đấu chống chính sách khoan hồng (vô) nhân đạo của cái đảng tà ma là …nhà ngụy ta ở, con ngụy làm đầy tớ, vợ ngụy ta cướp! Đây mới chính là mặt trận gay cấn và nguy hiểm mà người vợ lính phải đối phó, nó mờ-mờ ảo-ảo khôn lường, chiến trường khốc liệt như vậy mà tuyệt đại đa số các chị em đã chiến thắng, vẫn chờ tới ngày các anh về. Nếu như ngày xưa ngoài chiến trường, đối đầu với kẻ thù, các anh đã chiến thắng bằng súng đạn rồi thăng cấp, rồi huy chương cuống, huy chương thòng mang lủng là lủng lẳng trên ngực, nay các chị chiến thắng ở mặt trận “tình trường” là chỉ cốt bảo toàn “lãnh thổ” để chờ đợi anh về mà thôi, không cần huy chương, không lo sợ bị thăng cấp làm “vợ cả”. Giả thử, giả thử thôi, sau 30 tháng 4, 1975 chị em vợ lính vào tù, còn các anh ở lại săn sóc con dại, phụng dưỡng cha mẹ già thì các anh đi thăm nuôi vợ được mấy lần? Nếu phải chiến đấu chống lại chính sách của địch là “nhà ngụy ta ở, chồng ngụy ta lấy” thì các anh có chống chọi nổi với những nữ VC không, dẫu cho họ không hương không sắc, là những phụ nữ XHCN “trước sau như một*” (vu khống), thì có bao nhiêu anh sẽ bị gục ngã trên “tình trường” này? Nói thực tâm đi. Chịu thua hả? Vậy thì đã có anh chồng nào nói lời cám ơn vợ thay cho tấm huy chương về sự chiến thắng của các chị chưa? Chưa hả? Thế thì nói đi là vừa, muộn còn hơn không, một bông hồng trao tận tay trong ngày đại hội, ngày họp khóa, ngày sinh nhật, ngày “va-lăn-thai”, ngày lễ Tạ Ơn, ngày “hấp hôn” lần thứ 40, 50… Đoạn trường, đoạn trường lại đoạn trường, chúng ta còn sống sót sau cuộc chiến và còn có dịp may mắn gặp lại nhau trên đất khách lưu vong, ai có niềm tin thì cho đó là một đặc ân của Thượng Đế, ai còn máu mê cờ bạc đỏ đen thì cho đó, gọi đó là bon-nớt v.v.. thì tất cả chúng ta cũng nên công bằng một tí. Khi vợ gọi thì “có anh đây” và thêm một chút, chút thời gian để nghĩ đến đồng đội còn ở lại, họ đã trả nợ Tổ Quốc xong cả vốn lẫn lời thì chúng ta chớ vội vác cờ đi đón gió, hãy dành cho các bạn ấy một chỗ nho nhỏ trong trái tim ta, cụ thể là nghĩ đến những anh em thương (phế) binh VNCH trước khi mở bàn tay vì bác ái đối với người dân… XHCN. (!) Còn người bạn đời của anh em chúng ta, nay đã trở thành các “bà”, tuy được an hưởng hạnh phúc lúc tuổi “chưa” già bên sự thành công của con cháu nhưng vẫn không quên khổ đau quá khứ, và hiện tại, trong người lại thêm nhiều chất “cao” khó trị! Các anh đâu? Hay mau mau dìu các chị đi trị, nói lại cho rõ là đi điều trị bệnh cao mỡ, cao máu, tiểu đường, sạn thận v.v.. Những dịp họp đại hội, họp khóa của các anh thuộc mọi quân binh chủng và quân trường, các anh đã, đang và sẽ nâng niu bông hồng để tặng người yêu cho đôi má thêm hồng, nụ cười thêm duyên, sức có hạn, không cần nhiều, nụ hôn trên má đủ chiều lòng nhau. Nhân dịp lễ Tạ Ơn, lễ Giáng Sinh và năm mới, người viết xin tạ ơn quý chị vợ lính đã chờ đợi lính đi hành quân, nuôi lính trong tù. Xin chân thành cầu chúc tất cả các chị vợ lính thuộc mọi quân binh chủng, những người điều khiển hạm trưởng, những vị lái phi công và cả nhà tôi nữa mãi mãi thật vui tươi và khỏe mạnh để cùng các anh tu bổ và bảo trì cái hạnh phúc đang ở trong tầm tay, đó là những hạnh phúc có thật. Chúng ta, “vỏ khoai hay vỏ bí”, Võ Bị hay Thủ Đức, Mũ Nâu, Mũ Đỏ, Mũ Xanh, Mũ Đen v.v.. nay không còn ở cái tuổi xung phong ào ào vào mục tiêu nữa mà đang “từng bước, từng bước thầm” tiến lên đồi cao! Chúc các anh cái gì cũng mới, trừ tình yêu, đừng có tình yêu mới. Chớ vì vốn sẵn mang trong máu cái tính hào hoa mà phải lặn lội về phương Đông xa xôi, trâu già ham gặm cỏ non để tìm, để chọn cái gọi là hạnh phúc, cái hạnh phúc ấy hao-hào (tốn tiền) mà lại nhiều hoa (liễu) sẽ mang họa vào thân vì những quỷ thần mang tên “ếch”, dính vào HIV thì thiệt thân. Thân không bại thì chân… cũng liệt! Captovan – K19 |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 26/Dec/2025 lúc 2:54pm |
Cánh Chim Cuối TrờiĐức chúc mũi phi cơ nhắm mục tiêu, bấm nút thả trái bom cuối cùng. Ánh lửa loé sáng và đất cát cày lên bụi mù. Nhẹ nhàng nhấc bổng thân tàu, Đức quay mũi chiếc chiến đấu cơ ra biển, bỏ lại đàng sau đất nước Iraq đang mịt mù khói lửa. Trời trong và xanh, chiếc hàng không mẫu hạm bên dưới nhỏ như chiếc lá im lìm trên mặt nước. Đức hạ dần cao độ, đổi hướng bay ngược với chiều gió, nhắm sàn tàu lao xuống. Khi chiếc hook sau lái phi cơ móc được sợi dây cable giăng ngang trên sàn tàu, và phi cơ rùng mình ngừng hẳn lại, Đức mới thở ra một hơi thật dài: – Mission accomplished! Không biết đây là lần thứ bao nhiêu rồi. Ra khỏi phòng hành quân sau khi tường trình về phi vụ của mình, Đức húyt sáo nho nhỏ, lách mình qua những hành lang chật hẹp trở về phòng ngủ dành cho mình và một người bạn đồng ngũ. Henry vẫn còn đang nằm trên giường đọc sách, chắc là chờ tới phiên bay đêm. Đức mặc nguyên áo bay, ném mình xuống giường: – Hi Henry. Mày khoẻ chứ? Henry ngồi thẳng dậy: – Hi Doug. Tao bình thường. Còn mày, mệt hả? – Ừ. Bây giờ tao cần ngủ nguyên một ngày! Henry nhoẻn miệng cười: – OK. À, có một lá thư cho mày để trên bàn viết đó. – Thư cho tao? Tao đâu có… – Thực ra thì tên phát thư đưa cho tao lá thư của học trò một trường trung học viết gửi lính tráng đang ở ngoài mặt trận nhân dịp cuối năm. Tao thấy tên người gửi hình như là người Việt nên tao dành cho mày. – Thế à? Thôi, cứ để đấy. Bây giờ tao ngủ đây. Đức nhắm mắt, giấc ngủ tới dần, người Đức lâng lâng như đang cùng phi cơ bay bổng trên trời, nhưng bỗng dưng Đức giật mình ngồi bật dậy vì trong giấc mơ Đức thấy phi cơ do mình lái lao vào một đám cháy, và nổ tung. Đức ôm ngực hồi hộp. Chỉ là một giấc mơ thế nhưng trái tim vẫn còn như đập liên hồi. Đức đứng dậy thay quần áo, bước vào phòng tắm, bỏ hẳn ý định ngủ thêm một giấc miệt mài. Nước lạnh làm Đức tỉnh táo hẳn. Ngồi xuống bàn viết, Đức với tay cầm lấy lá thư, nhủ thầm: Người gửi là Loan Nguyễn! Chắc chắn là Việt Nam rồi. Đức mỉm cười, xé cạnh phong bì, lôi tờ giấy hình như từ một tập note book, đưa mắt đọc thoáng qua. Cũng không có gì đặc biệt, chỉ là những lời thăm hỏi bình thường của một học sinh năm cuối của một trường trung học tham dự phong trào viết ra tiền tuyến để cám ơn những người đang bảo vệ tự do cho đất nước, nhưng cuối thư cô gái ghi lại địa chỉ của mình, và một dòng tái bút: “Cha tôi một thời cũng từng là quân nhân của Việt Nam Cộng Hoà. Sau cuộc chiến, chúng tôi được đất nước này đón nhận, và cho chúng tôi đã có một đời sống yên lành. Chúng tôi biết ơn Hoa Kỳ, và xin cám ơn những người lính như anh”. Những dòng chữ hình như viết với chân tình chứ không phải là khách sáo khiến Đức nghĩ ngợi vẩn vơ. Cha Đức cũng là cựu quân nhân của VNCH, năm 1975 theo đoàn người di tản qua đất này, nhưng lúc nào cũng mong một ngày về vinh quang, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Đức lớn lên tại nơi này, và ngày tốt nghiệp trung học, được nhận vào University Of California at San Diego và Naval Academy tại Annapolis, Đức đã băn khoăn không biết là nên theo học USD để được ở gần nhà hay chọn binh nghiệp theo bước chân của cha ngày xưa. Ông Nhân, cha Đức, không ép uổng con trở thành bác sĩ, nha sĩ hay luật sư như đa số các gia đình VN, nên để mặc cho con lựa chọn, tuy nhiên ông khuyên Đức là lúc nào cũng nên nhớ ơn đất nước đã cưu mang gia đình mình trong cơn hoạn nạn, và nếu phải hy sinh cho quốc gia này thì cũng nên. Đức chọn binh nghiệp vì những lời tâm tình của cha, và cũng vì muốn bay bổng ở những chân trời xa lạ, quyến rũ những người trẻ tuổi vừa mới bước chân vào đời. Thư của Loan làm Đức nhớ tới cha và tâm huyết của một người suốt đời chỉ biết hy sinh. Đức cầm thư Loan đọc lại thêm một lần, thẫn thờ cầm bút viết thư trả lời để cám ơn một người lạ đã nghĩ tới những người lính xa nhà vào dịp cuối năm. oOo Bà Tâm thấy Loan dạo này hình như rất lạ. Con bé vui ra mặt, nhiều lúc liú lo như chim, nhưng cũng có những lúc thẫn thờ, đưa mắt nhìn ra ngoài khung cửa như thể là đang nhớ tới một người. Nhiều đứa con trai, mà Loan nói là bạn, thường ghé qua nhà thăm hỏi nhưng bà Tâm thấy hình như Loan chẳng chú ý tới ai. Bà cũng không mong gì hơn, chỉ muốn Loan chú tâm vào học hành vì ngày thi tốt nghiệp cũng gần kề. Con gái 18 tuổi, không còn bé bỏng nhưng bà vẫn chưa hết lo âu. Đêm hôm nhiều lúc bà tỉ tê với chồng, băn khoăn cho tương lai con cái nhưng ông Tâm hình như không mấy quan tâm: – Chúng nó lớn cả rồi, mai mốt vào đại học xa nhà, tốt nghiệp, lấy chồng hoặc đi làm xa, tự chúng sẽ biết lo thân. Chúng nó khôn ngoan và giỏi giang hơn chúng mình nhiều, bà đừng lo. Vẫn biết thế nhưng bà vẫn không yên tâm. Hôm nay thấy Loan nhận một lá thư, vui mừng ôm vào ngực chạy tuốt vào phòng, bà muốn chạy theo hỏi xem là thư của ai nhưng dằn lòng đợi cho tới lúc cả nhà quây quần trong bữa cơm tối bà mới làm như vô tình hỏi Loan: – Chiều nay con nhận thư gì mà vui vậy? Được nhận vào đại học nào hả con? Loan lắc đầu, nhoẻn miệng cười: – Thư của bạn con. – Bạn hả? Đứa nào vậy? – Ở xa. Mẹ không biết đâu. – Ờ, thì mẹ hỏi vậy cho biết mà. Loan tần ngần nhìn ông Tâm: – Bố! Ngày xưa lúc còn ở quân đội, bố có nhận được thư của người lạ bao giờ không? Ông Tâm ngơ ngác, nghĩ ngợi rồi chợt hỏi: – Con muốn nói là những lá thư thăm hỏi chiến sĩ vào những dịp đặc biệt như Tết? – Dạ. Ông Tâm mỉm cuời: – Có một lần. – Rồi sao bố? – Sao là sao? – Bố có trả lời, có liên lạc với người gửi thư sau đó không? Ông Tâm buông đũa cười lớn: – Không. Cô nữ sinh đó không để lại địa chỉ, chỉ ghi tên trường. Khi bố đóng ở Đông Hà có một phái đoàn nữ sinh ra thăm tiền đồn, ủy lạo chiến sĩ, nhưng chỉ thăm rồi thôi. Đâu có cô nào muốn kết thân với lính, nhất là lính mang cấp bậc Chuẩn Úy như bố thì đâu có ai thèm. Loan lắc đầu, mỉm cười chỉ bà Tâm: – Ớ ờ! Thế ai đây Bố? Ông Tâm cười hì hì: – Cái này là duyên số. Bố và mẹ là con nhà hàng xóm. Mà sao hôm nay con lại hỏi bố chuyện này? Loan có vẻ ngập ngừng, cúi đầu ấp úng: – Con quen một người trong trường hợp tương tự. Bà Tâm hỏi dồn: – Sao? Quen bao giờ? Có thân không? – Cũng đến gần một năm rồi rồi mẹ… Bạn thôi, nhưng con quí anh ấy lắm. – Anh ấy là ai? – Người Mỹ gốc Việt mẹ à, lớn lên ở bên này cũng như con, qua đây mới vào trung học. – Thế hả? Anh ta đóng ở đâu, và con đã gặp mặt bao giờ chưa? Châu, em gái của Loan, chen vào câu chuyện: – Trời ơi, mẹ tra vấn kỹ thế, cứ từ để chị con kể cho nghe đi mẹ. Bà Tâm lườm con: – Học không lo học. Quen biết vớ vẩn làm gì cho mất thì giờ. Ông Tâm cười an ủi vợ con: – Bà cứ lo xa. Các con đều ngoan và học giỏi cả. Bố nghĩ là các con đều biết suy nghĩ chín chắn. Thế anh gì đó bây giờ đóng ở đâu hả Loan? Loan nhìn bố biết ơn: – Dạ, anh ấy tên là Đức, cấp bậc đại úy, hiện phục vụ trên một hàng không mẫu hạm đang tham chiến tại vùng biển Iraq. Con chưa gặp mặt bao giờ, chỉ thư từ trao đổi, và nói chuyện qua điện thoại vài ba lần. – Thế ra là Hải Quân. – Dạ, anh Đức bay phi cơ chiến đấu đó bố. Châu kêu lên: – Ah! Pilot. Loan cười lắc đầu: – No. Aviator! – Là sao? Loan nhớ lại một lần nghe Đức hãnh diện giải thích sự khác biệt giữa hai danh từ này nên cười với Châu: – Pilot lái máy bay đáp xuống phi trường, nhưng aviator, và chỉ có aviator, mới cất cánh và đáp xuống hàng không mẫu hạm. Khó hơn đáp xuống phi trường trên đất liền nhiều! Châu gật đầu, vịn vai chị hỏi nhỏ: – Đẹp trai không? Có hình đem cho cả nhà xem đi. Loan chỉ cười, không trả lời. Bà Tâm nhè nhẹ thở dài, nghĩ thầm. Biết ngay mà. Vui buồn thất thường thế này thì “yêu” rồi chứ không chỉ “quí” thôi đâu! Bà nghĩ tới những ngày tháng cũ ở quê nhà, mỗi lần ông Tâm đi hành quân, bà ngồi đứng không yên, lo sợ là niềm bất hạnh có thể ập đến bất cứ lúc nào. Bà không muốn các con bà phải rơi vào hoàn cảnh như bà năm xưa. Trời ơi, thiếu gì kỹ sư, bác sĩ ở cái xứ yên bình này. Yêu ai không yêu lại đi yêu người lính ngoài chiến trường! Tội nghiệp, con bé còn ngây thơ quá. Bà đưa mắt nhìn con, nhưng thấy nét mặt như đang reo vui của Loan, bà chỉ biết kín đáo giấu nỗi buồn. oOo Loan mở email, chăm chú đọc lại lá thư cuối cùng của Đức thêm một lần. “Em yêu, Từ ngày quen em tiếng Việt của anh tiến bộ nhiều lắm rồi đó, em thấy không? Và bây giờ em là “Em yêu” chứ không phải là “Honey” nữa, em bằng lòng chưa? Anh sẽ về gặp em, sẽ đưa em đi dự senior prom như em muốn, và không chỉ như thế đâu, anh sẽ còn tới thăm em hàng ngày, để rồi khi phải trở về đơn vị anh sẽ không bao giờ quên những giây phút bên em. Em, anh có những ước mơ đội đá vá trời, muốn bay bổng lên trời xanh và hoà mình vào vũ trụ, nhưng anh cũng có những ước vọng rất tầm thường như được vuốt mái tóc người con gái mình yêu thương. Anh đợi ngày về phép để được dắt tay em đi trên con đường ven biển, được ôm em trong vòng tay, đứng trên bờ đá nhìn sao đêm lấp lánh trên trời, và thủ thỉ với nhau về chuyện chúng mình. Ừ, chúng mình còn trẻ như em nói. Em còn những tháng năm đại học, và anh cũng còn những tháng ngày lênh đênh nên lúc này chưa thể có nhau trong vòng tay, thế nhưng không ai cấm chúng mình ước mơ, vẽ cho nhau một trời hạnh phúc vì sẽ được sống với nhau đời đời. Mỗi lần mở cell phone là anh nhìn thấy hình em, cô con gái VN tóc dài e ấp mỉm cười. Anh mang phone trong túi áo gần trái tim, kể cả khi phải mặc đồ bay, để luôn luôn cảm thấy có em bên mình, và anh đang đếm từng ngày, đợi đến mùa hè rực rỡ để gặp em. Yêu và thương nhớ em. Anh Đức.” Tình yêu đến quá mau làm Loan nhiều lúc thấy ngỡ ngàng. Ban đầu thì chỉ là những lá thư/email thăm hỏi, và rồi từ thăm hỏi qua tâm tình. Niềm cô đơn của của những tháng ngày dài trên biển của người con trai phương xa đã làm Loan xúc động, và không chỉ có thế, Loan cũng như những người con gái mới lớn của thành phố nhỏ, không thể nào không mơ mộng về những bến bờ chưa một lần đặt chân. Đức cũng gửi về những tấm hình của những nơi Đức đã đi qua, và cả những tấm hình Đức mặc áo bay bên chiếc phi cơ trước giờ cất cánh, trông oai phong và lãng mạn làm rung động lòng người. Lâu lâu Đức được phép gọi điện thoại từ biển khơi về cho Loan. Những lời ngập ngừng từ lúc ban đầu dần dần trở thành thiết tha, nhớ nhung, và cuối cùng là hẹn hò thương yêu, nhất là sau khi Đức nhận được những tấm hình của Loan. Tình yêu đến thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật thiết tha của những tâm hồn Việt Nam trên xứ lạ. Loan vui, và ngày nào Loan cũng đợi chờ. Thế nhưng đã hơn một tháng nay không thấy Đức gọi điện thoại hay gửi email. Loan biết là có những lúc vì lý do an ninh mọi người phải im lặng tuyệt đối, nên dù Loan có gửi hàng chục cái emails cũng không có hồi âm, tuy thế chưa bao giờ Loan phải chờ đợi lâu như lúc này. Lá thư cuối cùng làm Loan náo nức bao nhiêu thì sự đợi chờ mong tin làm Loan bồn chồn bấy nhiêu, nhất là Loan không thể gọi điện thoại tới một con tàu lênh đênh ngoài khơi, chỉ có Đức mới có thể gọi về qua một hệ thống viễn liên đặc biệt mà thôi. Tắt máy laptop, bỏ vào backpack, Loan thẫn thờ dời thư viện nhà trường. Loan muốn về nhà ngay xem có thư từ gửi qua bưu điện hay không, nhưng lại ngại ngùng sợ thất vọng và buồn thêm. Hay là anh ấy đã gặp một người con gái khác, và không còn yêu mình nữa? Loan lắc đầu không tin cái ý nghĩ vừa thoáng qua đầu. Anh ở đâu, anh có biết là Loan đang nhớ anh lắm không! oOo Đêm đã khuya lắm, cả nhà hình như đã ngủ yên, chỉ còn mình Loan ngồi thẫn thờ. Trang sách mở rộng nhưng Loan chẳng đọc thêm được chữ nào. Bỗng dưng màn hình PC chớp sáng và hàng chữ “You got mail” nhấp nháy báo tin. Loan mừng rỡ mở hộp thư, thế nhưng rồi thất vọng tràn trề. Không phải là thư của Đức mà của một người nào đó có cái tên “tonyl”! Loan đã định nhấn nút “delete” xoá bỏ vì nghĩ chắc lại là một lá thư rác rưởi như hàng chục emails Loan vẫn nhận hàng ngày, thế nhưng hàng chữ tiêu đề ghi rất rõ là “Gửi chị Kim-Loan” nên Loan tò mò mở ra xem. “Thưa chị, Tên tôi là Tony Lê, một trong số ít người Mỹ gốc Việt phục vụ trên chiếc hàng không mẫu hạm với hàng ngàn nhân viên này. Tôi không phải là bạn của anh Đức, thế nhưng đã gặp nhau một vài lần trên boong tàu, nên có thể nói là quen biết nhau. Tôi làm việc trong ngành I.T., đặc trách hệ thống email của chiến hạm, và là người “clean up” những hộp thư mỗi khi có người thuyên chuyển hay không còn ở với chúng tôi. Anh Đức không còn ở với chúng tôi, và đêm nay tôi đã ngập ngừng trước khi xóa bỏ account của anh. Tôi thấy trong hộp thư hơn 10 lá thư của chị, và tất cả đều được flagged là thư mới, chưa đọc lần nào. Thưa chị, tôn trọng sự riêng tư nên dù có khả năng, tôi không bao giờ đọc thư người không gửi cho mình. Tuy nhiên hơn mười lá thư gửi cho người không còn trên chiến hạm nên tôi nghĩ là chị chưa được tin tức gì, và nghĩ tình người Việt với nhau, nên tôi xin được gửi tới chị thư này. Anh Đức đã ra đi rồi chị! Anh không trở về trong chuyến bay cuối cùng. Phi cơ anh trúng hoả tiễn phòng không, nổ tung trên vòm trời Iraq, và dù đã cố gắng hết sức, toán cấp cứu cũng không tìm được một dấu vết gì trong sa mạc hoang vu. Anh ra đi là một sự mất mát lớn lao cho đơn vị, và bạn bè đồng ngũ trên chiến hạm này đều rất xót thương. Gia đình anh đã được thông báo, nhưng tôi nghĩ có lẽ chị là một người thân bị sót tên nên tôi …” Loan oà lên khóc, và không thể nào đọc hết lá thư. Nước mắt nhạt nhòa lăn trên má, Loan ôm mặt nức nở, mặc cho niềm đau vỡ oà. Mẹ ơi, ngày xưa mẹ lo lắng mỗi lần bố đi hành quân. Bố trở về an toàn, mẹ khóc vì mừng vui trong lúc bạn của mẹ có chồng tử trận ôm quan tài khóc như đứt từng khúc ruột. Mẹ không muốn con chịu niềm đau chia lìa, có ngờ đâu… oOo Cơn bão trái mùa đã đi qua thành phố nhưng trời vẫn còn u ám. Bãi biển hẻo lánh chỉ lác đác vài bóng người. Trên cầu tàu người con gái mặc áo đen cầm bông hồng đứng cúi đầu trầm lặng. Gió lạnh thổi mái tóc tung bay, và thân hình người con gái rung lên từng cơn. Cô ta ném bông hoa xuống nước, đứng nhìn thật lâu cho đến khi đoá hồng nhung theo nước thủy triều trôi xa bờ. Người đàn bà đứng tuổi tới gần, ôm vai cô gái dỗ dành. Cô gái gục trên vai người đàn bà, chắc là mẹ, khóc nức nở. Người đàn bà thở dài, đưa mắt nhìn ra khơi. Bà mẹ thì thầm với con, và dìu nhau về hướng thành phố. Trên không mây đen vẫn trôi lững lờ, và một cánh chim hải âu lẻ loi bay về hướng cuối trời. Trần Quang Thiệu |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 10/Jan/2026 lúc 4:42pm |
Tết Trong Trại Tù Cùng Bạn BèTổng cộng đã có hơn 80 mùa xuân đi qua trong cuộc đời tôi. Nhưng 12 mùa xuân trong những cái được gọi là "trại cải tạo" là những mùa xuân đáng nhớ nhất. Từ Nam chí Bắc, từ Sơn La, Vĩnh Phú đến Hàm Tân, mùa xuân nào đến cũng mang đầy dấu tích buồn như những vết sẹo trong tận cùng tâm khảm, đến nỗi đến bây giờ có đêm còn nằm mơ thấy mình đang bị đày đọa trong lao tù khiếp đảm ấy. Giật mình tỉnh dậy mừng như khi vừa được thả từ trại tù ra. Tuy nhiên con người ta thật lạ, sống lâu trong tù rồi cũng... quen. Đó là bản năng sinh tồn hay con người phải thích ứng với từng hoàn cảnh để sống, dù để sống cho qua ngày chờ đợi một cái gì sẽ đến. Nhưng cái gì sẽ đến ở trong một thứ tù đày không có án, không có thời hạn là điều đáng sợ hơn nữa. Tù cải tạo làm gì có thời hạn. Thích bắt thì bắt, thích thả thì thả, người ra trước, kẻ ra sau, chẳng bao giờ biết lý do, tất cả chỉ là suy đoán. Tôi đã sống như thế suốt 12 năm. Khoảng 8-9 năm, khi đã là "tù cũ", có lẽ tụi cai ngục cũng "xuê xoa" cho một đôi phần, không còn siết chặt cùm kẹp như mấy năm đầu nữa. Tôi bị đưa từ trại tù miền Bắc vào miền Nam, bởi hồi đó miến bắc dân đói quá thiếu mọi thứ thực phẩm kể cả ngô khoai sắn, không thể nuôi thêm tù. Chúng tôi bị cùm hai tay suốt ba ngày hai đêm trên xe. Cho đến khi vào đến trại Hàm Tân mới được tháo cùm. Tôi nhớ hôm đó là ngày 19 tháng 5 năm 1978 và biết đó là ngày Sinh nhật "Bác" vì xe chạy qua mấy con đường có dựng mấy cái khẩu hiệu đỏ chót "Nhiệt liệt chào mừng sinh nhật Bác". Một sự trùng hợp khá thú vị. Được trở lại miền Nam cũng như sống lại vậy, không nhớ sao được. Nơi chúng tôi được chuyển tới là trại tù Hàm Tân, mang ký danh Z30. Thật ra chế độ tù cải tạo từ Bắc chí Nam chẳng có gì khác nhau, cũng đi lao động mệt phờ phạc và tối tối lại ngồi kiểm điểm -chúng tôi gọi là "ngồi đồng"- cho đến khi mệt rũ, chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc lăn ra ngủ. Có lẽ đây cũng là một "đòn" kìm hãm mọi suy tư của bọn tù được gọi là trí thức. Dù sao, chế độ ăn trong Nam khá hơn ở ngoài Bắc. Nếu ở Sơn La - Vĩnh Phú, trước khi đi làm buổi sáng chỉ có một củ khoai nhỏ như ba ngón tay thì ở miền Nam được ăn một bát nhỏ bắp nấu hoặc bát bo bo. Nhà văn Đặng Trần Huân thường có cái muỗng nhỏ xíu bằng nhựa, thứ đồ chơi của trẻ con, ông ấy cứ nhấm nháp từ từ cho đến hết buổi sáng. Ông truyền "bí kíp" rằng ăn như thế có cảm tưởng như lúc nào cũng được ăn, quên cái cảm giác đói đi. Tôi không biết có bao nhiêu "tín đồ" tin theo bí kíp này, riêng tôi theo không nổi vì đói quá, không nhịn được, ăn luôn một lèo, chỉ ba phút là hết nhẵn nên anh em có câu nói cửa miệng là "ăn rồi cư tưởng là mình chưa ăn". Tôi ở trại này chẳng nhớ bao lâu thì bỗng một ngày năm 1985, thấy mấy anh cai tù đưa một đoàn tù từ nơi khác đến. Đám tù này con rách rưới, gầy còm xanh xao hơn chúng tôi nhiều. Tôi là tù cũ nên tiến lại gần khi tù mới vừa được ngồi xuống bên hàng rào. Lúc đó tôi mới biết đó là những người bạn tù ở các trại tận Pleiku, Kontum và ở những trại nổi tiếng là "ác ôn" nhất như Gia Trung, Bù Gia Mập... Tôi nhận ra trong đó có nhiều ông bạn văn nghệ sĩ đã từng là bạn thân khi chúng tôi còn viết báo và làm trong các đài Phát Thanh ở Sài Gòn. Người đầu tiên tôi gặp là ông Thái Thủy với cặp kính cận mất gọng, chỉ có hai sợi dây vải buộc vào mắt kính. Câu đầu tiên tôi hỏi là "đói không?" Thái Thủy chỉ gật. Thế là tôi tức tốc chạy về phòng lấy một ít mì sợi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để chung trong một cái thùng sắt mang chia cho Thái Thủy. Hồi đó chúng tôi ở trại này gần Sài gòn, đã được "thăm nuôi" vài tháng một lần nên cuộc sống cũng tạm dễ chịu. Sau đó tôi mới được gặp lại một loạt các ông Nguyễn Viết Khánh, Trần Dạ Từ, Mặc Thu, Nguyễn Sỹ Tế, Thảo Trường. Ông nào cũng đói trơ xương. Mấy hôm sau, trại bán thịt heo, tôi chỉ còn đủ tiền mua đúng một kí lô thịt heo mang cho Trần Dạ Từ, nhưng ông này lại bảo "tớ còn chịu đựng được, ông đưa cho ông Nguyễn Sỹ Tế đi". Thế là tôi lại phải tìm cách gặp ông Nguyễn Sỹ tế. Đám tù mới chuyển trại tới được "biên chế" vào nhiều đội khác nhau. Tôi nhớ hồi đó, trong đám bạn văn, ông Nguyễn Viết Khánh có tuổi nên được giao cho chức "trực buồng", không phải xếp hàng đi lao động, chỉ ở buồng dọn dẹp vệ sinh cho đội. Những người khác phải đi làm công việc khổ sai như tất cả mọi người khác. Anh em gặp nhau mỗi buổi sáng thường chỉ còn biết nhìn nhau. Ít lâu sau, vì là tù cũ, tôi được giao phụ trách coi tủ sách -gọi là thư viện- của trại, tôi ở trong một căn nhà tranh nhỏ nằm ngay lối cổng trại ra vào. Nhờ vậy, có nhiều dịp thăm gặp các bạn hơn. Nhớ có lần con ông Mặc Thu lên thăm, mang theo thức ăn và cả đồ nhắm cùng rượu ngon cho bố. Ông Mặc Thu cao hứng đánh chén tì tì. Đến khi vào trại, đi siêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, mồm sặc mùi rượu. Lúc đó anh trưởng trại, ở ngay phòng trực trước cổng trại. Gọi ông Mặc Thu vào, còn sặc mùi rượu, nói năng lè nhè lung tung nên buổi chiều bị nhốt ngay vào nhà lao, cùm hai chân. Cái nhà lao bằng tranh nhỏ xíu nằm gần phía sau trại chỉ có một lối nhỏ dẫn vào. Hàng ngày mấy tay gọi là "thi đua" trong trại phải mang cơm đưa vào cái cửa ô cửa nhỏ, đồng thời lấy cái bô vệ sinh của tù ra ngoài mang đi đổ. Tôi phải nói năng mãi với tay thi đua để mang thêm cho ông ấy ít cơm và thức ăn. Vài ngày sau ông Mặc Thu được thả, bởi thật sự nếu để ông ấy nằm trong nhà lao cái kiểu ấy, có thể chết bất cứ lúc nào. Tết năm đó, tôi để dành phần quà thăm nuôi của tôi và anh Nguyễn Gia Quyết để làm bữa cơm "thịnh soạn" mời tất cả mấy anh em bạn văn trong tù lên ăn trưa. Buổi họp mặt đông đủ chẳng thiếu ông nào. Địa điểm tôi nhớ chỗ bên bệnh xá vắng người. Bàn tiệc là chiếc chiếu rách trải trên chiếc giường tre, nhưng có cả một chai rượu trắng. Vậy mà chén chú chén anh, đấu hót xôm trò. Còn nhớ Thảo Trường luôn miệng tấm tắc khen "Sang trọng! Sang trọng!". Khi tàn tiệc, ông Mặc Thu lại lảo đảo đi ngật ngưỡng giữa trưa nắng trong sân trại. Cũng may tên lính gác trại tù nhìn thấy nên ngày Tết nó tha, không nói gì. Hôm sau nó vào gặp tôi kể công về cái sự "nhân từ" đó, tôi đành phải đi xin một con gà cho nó mới yên. Vào thời kỳ đó ông nào cũng trên 10 năm tù cả rồi nên không khí bớt ngột ngạt hơn. Cho đến tháng 9 năm 1987 chúng tôi mới được tha về, nhưng Thảo Trường còn phải nằm lại trong tù thêm mấy năm nữa cho đủ 17 năm. Như tôi đã viết trong một bút ký, khi ra tù, chúng tôi được chở trên xe từ trại tù Hàm Tân về hội trường trại giam Chí Hòa. Trong một bút ký về Sài Gòn, tôi có kể chuyện này. Đây là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ. Xin mạn phép trích lại: "Vào buổi chiều tháng 9 năm 1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh "vui mừng đoàn tụ" của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự "khoan hồng bác ái" của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù. Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhìn "cảnh lạ". Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Ra đến đường Lê văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương. Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này" ***** Vậy mà rồi ngày tháng cũng qua. Tôi vẫn phải sống như thế cho đến hôm nay. Các bạn tôi đều đã ra đi hết, người còn kẻ mất, đôi khi chẳng biết tin tức gì về nhau. Trong những anh em bạn tù cũ, khi đã ra tù, tôi thường đến thăm ông Mặc Thu. Những năm sau này, ông bà Mặc Thu đã được con gái lớn bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Nhưng ông bà đông con, một số con cháu không thể cùng đi. Vậy là cả ông lẫn bà đã trở lại Sài gòn trong những ngày cuối đời. Khi ông sắp mất, ông nhất định bắt con trai gọi tôi đến. Khi ngồi bên giường bệnh, ông nắm tay tôi, lúc đó có lẽ ông biết chắc sắp ra đi nên bùi ngùi nói lời từ biệt: "Không thể quên cậu và anh em trong tù được". Đêm hôm đó ông ra đi mãi mãi. Ông Mặc Thu có chùm râu tơ, trong tù cũng như sau này, ông luôn thích vuốt râu khi "đối ẩm" với trà và rượu, thường nhắc tên từng người bạn trong tù. Ngay lúc sắp lâm chung, vẫn không thể quên. Nhớ lời cuối ông nói, đêm cuối năm Ất Mùi này, chỉ cần chớp mắt là tôi lại thấy hình ảnh từng người một xuất hiện. Thảo Trường luôn tưng tửng, ngang ngang, cứ như bất cần đời; Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lúc nào cũng thanh thản chẳng thèm nghĩ gì dấn cái thân phận tù đầy. Ông Nguyễn Sỹ Tế rất kiệm lời và vẫn nét mặt trang nghiêm của những "thầy đồ". Trong trại tù, có lúc ông Tế nằm cạnh Trần Dạ Từ. Có lần tôi đến thăm, ông Tế mang cây đàn violon do bạn tù tự chế ra biểu diễn nhạc cổ điển tây phương. Sau màn nghiêm chỉnh thưởng thức, chúng tôi cùng cười vui khi nghe Từ nói nhờ chiều nào anh cũng được ông Tế cho nghe Schubert bằng cái đàn lạc giọng này mà thừa sức lao động. Trong số các bà thăm nuôi ngày đó, Nhã Ca là dân cùng nghề văn, cũng đã từng đi tù rồi nuôi tù nên quen biết mọi người. Tôi nhớ chuyện kiếp trước, một sáng mùa xuân nào đó thời đầu 1960', khi có dịp ra Huế, tôi đã cùng Thanh Nam lái xe đến gặp Nhã Ca và Từ ở ngôi nhà khu Bến Ngự. Cũng chỉ mới đó thôi, khi Trần Dạ Từ - Nhã Ca ghé thăm từ biệt tôi để ra đi, nay đã là hơn một góc thế kỷ. Sau Mặc Thu, các ông Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Thủy, Thảo Trường cũng đều đã ra đi. Tết này, dù không thắp hương cho bạn, nhưng tự trong đáy lòng tôi có hương khói tưởng nhớ đến những người bạn trong tù. Đúng như thơ Tản Đà: Thời gian ngựa chạy... Bạn bè đi hết từ lâu. Cũng đã từ rất lâu chỉ còn mình tôi quanh quẩn ở Sài Gòn. Mới đây, nhận lời Trần Dạ Từ hỏi thăm, kèm câu chúc "Thượng Thọ Bát Tuần" tôi chợt thấy ra là trong đám bạn văn cùng ăn tết nhà tù năm xưa, nay chỉ còn hai tên. Mà còn sống thì dù ở bất cứ đâu, cũng không thể nào quên. Vì vậy tôi viết bài này để cùng bạn tưởng nhớ. Ước gì lại có một cái Tết được hội ngộ cùng các bạn tôi. Ước gì lại có thể cùng ngồi bên nhau trên một manh chiếu rách như tết năm nào, nhưng không phải trong trại tù mà là ở một khung trời tự do đầy nắng vàng. Chúng ta đâu cần gì hơn thế.
Sài Gòn một đêm cuối năm Văn Quang |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: 16/Jan/2026 lúc 10:31am |
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
|
Lan Huynh
Senior Member
Tham gia ngày: 05/Aug/2009 Đến từ: United States Thành viên: OffLine Số bài: 24422 |
![]() Gởi ngày: Hôm nay lúc 12:53pm |
Duyên PhậnTôi sanh năm 1929 tại huyện Bãi Xàu, tỉnh Sóc Trăng, Miền Nam Việt Nam. Ba tôi làm công chức tại Ty Bưu Điện của huyện lỵ Bãi Xàu. Thuở đó, dân ta quen gọi chức vụ của ba tôi là “thầy thông Nhà dây thép”. Ba má tôi sanh được sáu đứa con. Tôi là gái thứ hai, nhưng dân Miền nam quen gọi là “thứ ba”. Tôi theo học Trường Sơ học Bãi Xàu. Thời kì đó, nước Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp và hầu hết các môn học đều giảng dạy bằng tiếng Pháp. Năm 1941, sau khi đậu bằng Sơ học (Certificat d’études primaires), tôi đi Sài Gòn dự thi vào “Collège des jeunes filles indigènes”. Về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Gia Long. Thời may, tôi thi đậu. Thêm một điều may nữa là sau đó ba tôi được điều động lên làm việc tại Sở Bưu điện Sài Gòn. Thế là, cả gia đình chúng tôi dọn lên cư trú tại thành phố Sài Gòn. Lúc tôi 16 tuổi, một bước ngoặt đau buồn ập đến cuộc đời của tôi. Ba tôi qua đời vì bịnh lao phổi. Trước khi nhắm mắt, ba tôi xin người chị ruột của ba tôi, mà tôi gọi là cô Sáu, đem tôi về nuôi, để có thể tiếp tục việc học hành, lý do là gia đình chúng tôi rất nghèo. Số là, cô tôi có một người con trai duy nhứt, lúc đó là chủ một hãng kem đánh răng lớn ở Sài Gòn. Đó là Hãng kem Perlon, đối diện chợ An Đông, đường An Dương Vương, quận 5, Sài Gòn. Ông Huỳnh Văn Xin, Tổng Giám đốc hãng, chính là anh họ của tôi. Người Miền Nam gọi là “anh cô cậu”, tức là tôi gọi má của anh Xin là “cô”, và anh Xin gọi ba tôi là “cậu”. Tôi xin nghỉ học và vô làm việc trong văn phòng hãng Perlon. Tôi vừa là nhân viên của hãng, vừa là thân quyến của chủ hãng, cho nên được mọi công nhân trong hãng nể vì. Tôi phụ trách giữ sổ sách xuất nhập kho nguyên liệu và sản phẩm hoàn thành. Một thời gian sau, hãng tuyển một nhân viên mới với nhiệm vụ là kế toán trưởng (chef comptable). Anh nầy tên là Thạch, 21 tuổi, lớn hơn tôi 5 tuổi, có dáng dấp như một thư sinh, tánh tình hiền lành, khép kín. Chúng tôi làm chung gần ba năm. Sau đó, chúng tôi đã kết hôn, với sự đồng ý của hai bên gia đình đàng trai và đàng gái. Theo quan niệm duy tâm, qua câu nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, có phải chăng, anh Thạch và tôi đã có duyên nợ từ kiếp trước? Tôi chỉ biết là, trước kia tôi vốn là một cô gái đồng quê, ở một tỉnh lẻ hẻo lánh, khỉ ho cò gáy. Nếu tôi không có “số” di cư lên Sài Gòn hoa lệ, thì làm sao mà tôi gặp được anh Thạch, một cư dân của Sài Gòn, chưa hề bước chân đến tỉnh lẻ, quê hương của tôi? Sau ngày kết hôn, tôi về làm dâu nhà anh Thạch, ở Tân Định, quận 1, Sài Gòn. Một thời gian sau, chúng tôi ra riêng, thuê lại một tiệm tạp hóa có hiệu là “Vũ Lai”, đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) đối diện chợ Tân Định, thành phố Sài Gòn. Nhờ thuận vợ thuận chồng và chí thú làm ăn, đầu năm 1952, chúng tôi tậu được một căn phố tại đường Lê Quang Định, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Nhờ có điều kiện thuận lợi, tôi đem hai đứa em của tôi, một gái và một trai, về ở chung, nuôi chúng nó ăn học. Lúc đó, ba chị em chúng tôi đều mồ côi, cả cha lẫn mẹ. Lúc đầu chúng tôi buôn bán nhỏ, chỉ mong kiếm sống, độ nhựt qua ngày. Về sau nhờ tích lũy vốn liếng và phát triển cơ sở, chúng tôi nhập cảng dây đàn Argentine từ nước Pháp, phân phối độc quyền trên lãnh thổ Đông Pháp (Indochine Francaise), gồm cả ba nước Việt Nam, Cao Miên và Lào. Đang làm ăn trôi chảy, tháng 12 năm 1952, chồng tôi được lịnh động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa 2. Chúng tôi đành phải chấm dứt việc kinh doanh, đóng cửa tiệm tạp hóa và ngưng nhập cảng dây đàn. Sau 22 năm phục vụ trong quân đội, năm 1974 đến tuổi hưu, chồng tôi được giải ngũ, với cấp bực “Trung Tá Trừ Bị”. Theo qui chế của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó, nếu là trung tá, tuổi trên 49, mà chưa thăng cấp đại tá, đương nhiên phải giải ngũ. Tiện dịp, hãng kem Perlon của anh tôi đang cần nhân viên, chồng tôi trở lại làm việc tại hãng này. Làm được khoảng một năm thì xảy ra biến cố 30-4-1975. 2. LÀM ĐƠN XIN ở TÙ: Lúc ấy, tuy chồng tôi là thường dân 100%, nhưng gốc là nhà binh chánh hiệu. Cho nên chồng tôi rất lo âu. Cuối tháng 5 năm 1975, Việt Cộng ra thông cáo kêu gọi “sĩ quan ngụy” phải đi “trình diện đăng ký”. Ngày 11-6-1975, báo “Sài Gòn Giải Phóng” số 31 đăng thông cáo, qui định tất cả “sĩ quan ngụy” phải trình diện đi “học tập cải tạo”. Bảng “Hướng dẫn cho sĩ quan đi học tập trung” đăng trên báo, nguyên văn như sau: “Mỗi người đến địa điểm học tập cải tạo phải mang theo: - 1 tháng ăn bằng tiền, mỗi ngày: 300đ x 30ngày = 9.000 đồng. - 1 ngày 0,7kg gạo, mỗi kí lô bằng: 220đ x 21 kí = 4.600 đồng. Tổng cộng bằng = 13,610 đồng. - Ngày tập trung đầu tiên, từng người phải mang theo thực phẩm khô để ăn ngày hôm đó, ngày thứ hai nhà thầu phục vụ cơm nước.” Hầu hết mọi người đều tin là chỉ phải đi “học” 30 ngày mà thôi và đinh ninh, khi “mãn khóa” sẽ được trở về làm ăn với tư cách là một “công dân chân chính”, theo lời hứa của tập đoàn Việt Cộng gian xảo và tráo trở. Chồng tôi đưa đơn lên Ban giám đốc Hãng kem Perlon, xin tạm nghỉ việc một tháng, để đi “học tập cải tạo” theo lịnh của Cộng Sản Việt Nam. Kết quả thảm thương là phần đông sĩ quan quân đội Miền Nam đều bị sập vào cái bẩy do bọn mafia Việt Cộng đã dụng ý ngụy trang với lời lẽ đường mật, gọi là “chính sách khoan hồng”, để tóm gọn những người mà trong thâm tâm họ xem như là kẻ thù không đội trời chung của chúng. 3. GIảI NGŨ RỒI VẪN BỊ ĐI TÙ Sau ngày chồng tôi đi trình diện “đi học” tại trường Trung Học Don Bosco, quận Gò Vấp, Gia Định được khoảng hai tuần thì nhựt báo “Sài Gòn Giải Phóng” đăng thông cáo bổ túc, cho biết những sĩ quan chế độ cũ, nếu đã giải ngũ trước ngày 30-4-1975 thì được miễn trình diện đi “học tập cải tạo” mà chỉ đi “học tập tại chỗ” trong vòng một tuần (?) mà thôi. Tôi mừng quá, đến trường Don Bosco, Gò Vấp, xin gặp chồng tôi, nói anh ấy cầm tờ báo, đến văn phòng thủ trưởng, xin được trở về nhà, để theo khóa học tại địa phương. Tôi có đem theo tờ “chứng chỉ giải ngũ” của chồng tôi để làm bằng chứng là chồng tôi đã giải ngũ ngày 31-3-1974, tức là trước ngày 30-4-1975 trên 1 năm. Tên cán bộ cầm tờ báo vào trình thủ trưởng của y. Một chập sau, anh ta trở ra, phán một câu “xanh dờn”: “Lãnh đạo nói, trình diện học tập là tốt, lỡ đi rồi thì nên đi luôn, cho thông suốt chính sách nhà nước. Trước sau gì cũng sẽ được ra trại mà.” Tôi nghe nói, bủn rủn tay chân. Hy vọng chồng được tha cho về nhà bổng chốc tan tành như mây khói”. 4. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ TẤM LÒNG NHÂN ÁI Trong thời gian chồng tôi ở tù, ở nhà hai mẹ con tôi sống thui thủi. Con của chúng tôi lúc đó được 11 tuổi. Nhà ba từng lầu, rộng thênh thang khiến tôi cảm thấy cô đơn và lo sợ đủ chuyện. Đứa em trai kế của tôi, tên Huỳnh Tương Đương, đại úy binh chủng Thiết Giáp cũng đã đi tù “cải tạo” như chồng tôi. Gia đình cậu em nầy gồm hai vợ chồng và tám đứa con, trong suốt thời gian tại ngũ, vì chưa có tiền tậu nhà riêng, nên phải cư trú tại các trại gia binh. Sau ngày 30-4-1975, họa vô đơn chí, vợ của Đương bị bạo bịnh và qua đời. Vì không có nhà cửa cố định, nên tám đứa con sống lây lất tại một gian nhà cất dựng tạm bợ trên lề đường tại Đồng Ông cộ, quận Bình Thạnh, Gia Định. Nghĩ tình ruột thịt, tôi đem tám đứa cháu, gọi tôi bằng cô, mồ côi mẹ trong lúc cha thì đi tù, về cho tá túc tại nhà tôi. Tôi nào có biết trước được là, về sau tôi gặp một điều may hiếm có trên đời. Điều may đó là: Trong chiến dịch Việt Cộng “cướp” nhà của những nhà tư sản Miền Nam, tôi đã thoát nạn trong đường tơ kẻ tóc. Bọn cán bộ địa phương đến đo diện tích tất cả nhà tư nhân “ngụy” trong phường khóm. Luật lệ của chúng là: Nếu diện tích lớn hơn tiêu chuẩn ấn định so với số người trong “hộ khẩu” (tờ khai gia đình) thì Việt Cộng sẽ áp dụng hai biện pháp như sau: Một là Việt Cộng sẽ ghép cho cán bộ Cộng Sản vào ở chung nhà với mình. Hai là, chúng sẽ tịch thu nhà của mình và cấp cho một căn nhà khác nhỏ hơn. Hú hồn! Nhờ số người trong nhà tôi tăng từ hai lên mười người, cho nên nhà tôi không bị Việt Cộng tịch thu. 5. KHÔNG MẤT NHÀ NHỜ KHÔNG PHảI LÀ TƯ SảN Nhà tôi ở mặt tiền đường Lê Quang Định, Gia Định. Vào thời điểm 30-4-1975, chúng tôi đang khai thác một tiệm tạp hóa ngay tại nhà. Sau ngày Miền Nam lọt vào tay Cộng Sản, thị trường thương mãi tại Sài Gòn bị tê liệt. Sài Gòn có một bộ mặt tiêu điều, quang cảnh gây cảm giác hoang tàn, trông giống như một thành phố “chết”. Các cơ sở thương mãi của tư doanh (nhà xuất nhập cảng, ngân hàng, nhà hàng, khách sạn, rạp hát, tiệm buôn...) đóng cửa im lìm. Vì ảnh hưởng dây chuyền, các tiểu thương như chúng tôi cũng bị vạ lây. Hàng mua vô không có, lấy gì để bán? Mỗi ngày mở cửa hàng suốt ngày ngồi “ngáp ruồi” sao? Tôi đến phường xin trả môn bài, để đóng cửa tiệm một cách chánh thức, hợp lệ và hợp pháp. Phường không chấp thuận nhưng không nêu lý do và bảo phải tiếp tục mở cửa tiệm buôn bán bình thường. Sao kỳ vậy? Quyết định vô lý nầy khiến tôi thắc mắc, không hiểu nổi thâm ý của Cộng Sản. Tôi nghĩ, thông thường, việc xin môn bài buôn bán là chuyện khó, vì phải có một số điều kiện. Trái lại, việc nghỉ bán, đóng cửa tiệm là quyền của thương gia. Tuy cán bộ phường không chấp nhận trả môn bài, tôi nhứt quyết dẹp tiệm. Qua ngày hôm sau, tôi đóng cửa tiệm. Về hàng hóa còn tồn động, tôi dự trử để xài lần hồi. Cả tủ kệ dùng để chưng hàng hóa, một phần đem cho bà con lối xóm, một phần đem vô nhà kho cho khuất mắt bọn cán bộ phường. Phía trước thì trang trí lại, có xa lông tiếp khách, có bàn ăn. Độ một tháng sau, Cộng sản phát động chiến dịch “đánh tư sản”. Các tiệm buôn lớn nhỏ đều bị liệt kê vào danh sách “tư sản mại bản”. Chủ nhân và cả gia đình được lịnh phải ra đi và nạp nhà lại cho phường “quản lý”. Ai không chấp hành lịnh sẽ bị bắt giam như kẻ tù tội. Trong lúc đó, nhà của chúng tôi được xem như nhà ở, không thuộc diện tự sản, nên không hề hấn gì. Cũng cần nói thêm, dưới chế độ cộng sản, tất cả các hình thức hoạt động kinh tế và thương mãi đều do Nhà nước điều khiển và quản trị. Đó là chánh sách “kinh tế chỉ huy” của cộng sản. Nói cách khác, các nhà tư sản hoạt động trong nền “kinh tế thị trường” (tức là thị trường tự do của các nước tư bản) là kẻ thù mà cộng sản phải tiêu diệt. Tại khu phố chúng tôi gần chợ Bà Chiểu, vài đại thương gia có tiếng tăm là nạn nhân của chiến dịch “đánh tư sản”. Toàn bộ gia đình của những nhà tư sản đều bị trục xuất ra khỏi nhà: 1/ Ông Tám Yến, chủ nhân một tiệm cầm đồ (vàng, nữ trang). 2/ Ông Lê Văn năm, chủ tiệm Mỹ Hương, bán loại thực phẩm cao cấp. 3/ Ông bà chủ tiệm MIMI, hành nghề uốn tóc. Tại thành phố Sài Gòn, hầu hết các nhà tỉ phú đều bị “cướp” tài sản và họ phải bỏ chạy ra hải ngoại. Xin kể vài vị tiểu biểu: 1/ Ông Huỳnh Văn Xin, giám đốc hãng kem Perlon. 2/ Ông Nguyễn Tấn Đời, giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng. 3/ Ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách và nhà xuất bản Khai Trí. Lúc đó, tôi mới vỡ lẽ, hiểu rõ lý do mà trước kia đơn xin trả môn bài của tôi không được cộng sản chấp thuận. 6. BÁN ĐỒ GIA DỤNG ĐỂ SANH TỒN Lúc còn trẻ, tôi thường nghe ông bà khuyên bảo: “ở không hoài, ăn mãi thì núi cũng lỡ”. Từ ngày Việt Cộng cướp Miền Nam, tôi thấp thỏm lo âu. Chồng tôi đã đi tù còn tôi thì không có nghề ngỗng gì hết. Buôn bán thì bị cấm đoán, bây giờ phải làm gì để sống đây? Cũng như hầu hết bà con lối xóm, tôi đành bóp bụng, đem đồ đạc trong nhà, thứ gì bán được, lần hồi bán đi, để kiếm chén cơm. Chén bát, son chảo, lò ga, tủ lạnh, đồng hồ đeo tay, đồ nữ trang... từ từ đội nón ra đi. Vừa bán vừa cảm thấy xót xa, đau đớn, thương tiếc mấy thứ tư trang mà trước kia mình đã nưng niu, giữ gìn với một tình cảm yêu quí. 7. LUẬT RỪNG Năm 1955, lúc làm ăn buôn bán, chúng tôi có sắm một chiếc xe hơi cũ, kiểu du lịch (từ ngữ Miền Bắc gọi là xe con) hiệu volkswagen, để làm phương tiện đi chuyển và chở hàng hóa. Nhờ nhà rộng rãi, gồm ba căn phố, chúng tôi dành riêng phần diện tích phía trước của một căn, làm ga-ra, cất chiếc xe vào nhà. Thời kì đó, nước ta còn nghèo, rất ít người sắm xe hơi, cho nên những ông chủ địa ốc, xây cất nhà cho thuê, không hề dự trù diện tích riêng cho xe hơi (parking). Sau ngày 30-4-1975, công an khu vực của phường đi kiểm tra từng nhà để làm hộ khẩu (sổ gia đình), thấy vài ba người ở xóm tôi có để xe hơi trong nhà. Bọn chúng phán ngay một chỉ thị trong “bộ luật rừng” của chúng: “Nhân dân hiện nay, nhiều người không có nhà ở, thế mà “chị” lại để xe trong nhà. Tất cả xe ô-tô của tư nhân phải đem lên phường giao lại cho nhà nước quản lý. Kỳ hạn vài hôm, cá nhân nào không thi hành, phường sẽ cho người đến tịch thu”. Bà con lối xóm có xe hơi phản ứng mỗi người một cách để đối phó với “luật rừng” của cộng sản. Có hai vị chủ xe tình nguyện xin vào làm việc tại phường với nhiệm vụ là tài xế cho hợp tác xã và cho phường mượn luôn chiếc xe của mình. Phường thấy có lợi nên ưng thuận. Một vị khác đem xe gời thân quyến đã đi theo “cách mạng” (tức cộng sản) giữ giùm. Một vị có sáng kiến rất độc đáo. Ông ấy đội xe lên, tháo gỡ bốn bánh xe và luôn cả bình điện, đem đi gởi nhà bà con ở nơi khác. Cán Bộ đến khám nhà, thấy xe không sử dụng được, đành phải bỏ đi. Riêng tôi, phận đàn bà thua kém, không biết ứng phó cách nào cho thích đáng, đành phải nhờ người giới thiệu, đem bán rẻ cho một anh cán bộ. Thà không có xe đi mà có một ít tiền xài, chớ dại gì đem giao cho phường quản lý, kể như mất toi luôn. 8. ĐAN MÂY TRE TẠI NHÀ Trong chánh sách cai trị của Việt Cộng, họ luôn luôn chủ trương thể thức sản xuất tập thể. Tất cả người dân làm bất cứ ngành nghề lớn nhỏ gì cũng phải vào nghiệp đoàn. Mục tiêu của họ là kiểm soát lợi tức (từ cộng sản gọi là thu nhập) của từng người dân. ở nông thôn, làm vườn, làm ruộng phải vào tập thể. ở thành thị, làm nghề hớt tóc, chạy xe ôm cũng phải vào nghiệp đoàn. Cộng sản muốn nắm hầu bao của mọi người. Nói nôm na là, cộng sản không muốn cho người dân giàu lên để trở thành nhà tư bản. Đây là chánh sách bần cùng hóa nhân dân của cộng sản Việt Nam. Dân càng nghèo thì cộng sản càng dễ dàng xỏ mũi và sai khiến. Với chủ trương sản xuất tập thể nói trên, phường tại địa phương tôi thành lập một “tổ hợp sản xuất mây tre” và bắt buộc tất cả vợ của sĩ quan bị bắt đi tù phải gia nhập vào tổ hợp nầy. Trong xóm, tôi là người tương đối khá giả, có nhà rộng rãi mà ít người ở, cho nên phường cho cán bộ đến gặp tôi, nói là “tạm mượn mặt bằng” để cho chị em người dân thấp cổ bé miệng, khó mà từ chối. Với lại, mình giúp cho phường mượn địa điểm, biết đâu chừng sau nầy, mình có cần việc gì, họ có thể dễ dãi với mình chăng. Do đó, bất đắc dĩ, tôi phải ưng thuận. Sau đó, phường lo tất cả mọi việc, cho người đi mua mây tre tại các vùng quê như là Bà Điểm, Hóc Môn, đem về dự trử tại nhà tôi, cho cán bộ chuyên nghiệp đến huấn luyện chị em trong tổ hợp cách thức đan giỏ. Phường cũng tự lo đem đi bán hàng hóa sản xuất được. Cuối cùng, họ đem tiền phân phát trả công cho chị em, tùy theo số lượng sản xuất của từng người. Họ ban phát bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, chứ không ai dám hỏi tình hình chi thu ra sao. Tôi nghĩ, đây là một sự bốc lột sức lao động tinh vi của chế độ cộng sản. 9. ÁP LỰC ĐI VÙNG KINH TẾ MỚI Một thời gian sau, có lịnh bắt buộc “dân ngụy” đi các “vùng kinh tế mới”. Tức là đi khai phá các vùng đất hoang vu trở thành đất đai sử dụng được vào sản xuất để phát triển đất nước. Đây là một mánh khóe của Việt Cộng để diệt tư sản. Một mũi tên nhắm vào hai mục tiêu. Một là đuổi “ngụy” ra khỏi thành phố để tịch thu nhà cửa, hai là để đày đọa và bần cùng hóa dân Miền Nam, mà Việt Cộng cho là kẻ thù truyền kiếp của bọn chúng. Công an khu vực đến từng nhà khuyến dụ: “Vợ sĩ quan nào có chồng đã đi “cải tạo” nay nếu tự nguyện đi “kinh tế mới” thì “cách mạng” sẽ thả chồng về. Tôi liều mạng trả lời: “Thả chồng tôi về thì tôi sẽ đi liền. Tôi ốm yếu như vầy, đang ở với thằng con 11 tuổi, nay đi “kinh tế mới” làm được việc gì để sống đây?” Kết quả là số đông trong phường không hưởng ứng lời kêu gọi của cán bộ. Thấy sự việc rỉ tai khó thuyết phục, phường ra thông báo, bắt buộc tất cả vợ sĩ quan “ngụy” phải lên phường họp để “đăng ký” đi vùng kinh tế mới. Vợ sĩ quan, ai cũng ngán và sợ cộng sản, nên tất cả đều đi họp rồi tùy cơ ứng biến, chớ không ai dám ở nhà. Tại phòng họp, tên đại úy công an chủ tọa trình bài mục đích “tốt đẹp” của vùng kinh tế mới và yêu cầu, gần như bắt buộc, mọi người phải lên bàn chủ tọa, ký tên vào mẫu giấy để sẵn trên bàn là đồng ý đi “kinh tế mới” thì nhà nước sẽ cứu xét thả chồng về ngay. Tên công an nhấn mạnh thêm: “Nhà nước nói gì, nhân dân phải thi hành, không được trả giá”. Ý muốn nói là nhân dân không được đặt điều kiện. Một số vợ sĩ quan nghe nói ngọt, cả tin vào lời đường mật của Việt Cộng, lần lượt đi lên bàn của tên chủ tọa, ký tên đồng ý đi. Riêng tôi, không hiểu sao tôi dám liều lĩnh, rủ vài chị bạn cùng xóm, chẳng những không lên ký tên mà còn lặng lẽ bỏ ra về. Mấy tên công an, gác cửa phòng họp, chận lại và hỏi: “Mấy chị ký tên chưa mà ra về vậy? “ Tôi dứt khoát trả lời: “Thả chồng tôi về tới nhà thì tôi sẽ đi ngay”. Tôi vừa nói vừa kéo tay mấy chị bạn rảo bước đi nhanh. Bọn công an giữ trật tự nhìn chúng tôi, không phản ứng. Tôi nghĩ bụng, nếu mình cứng cỏi thì họ để yên, bằng không nếu mình yếu thế thì họ sẽ lấn tới. Kết cuộc, một số đông gia đình đi kinh tế mới, sống lầm than nhiều năm tháng mà người chồng gia trưởng vẫn biệt tăm biệt tích. Trong lúc đó, nhà của mình bị Việt Cộng tịch thu và cấp cho cán bộ đến cư trú. Đây là một cú lừa ngoạn mục mà Việt Cộng đã thành công “vượt chỉ tiêu”, sau khi đã tóm gọn hầu hết sĩ quan “ngụy” vào cái rọ cải tạo. 10. EM TÔI ở PHÁP Khi mới đi tù, chồng tôi bị giam tại trại Long Giao, tỉnh Long Khánh. Nửa năm sau, được chuyển về trại Tân Hiệp (cũng gọi là Suối Máu), tỉnh Biên Hòa. Sau đó, được chuyển ra Bắc Việt, lần lượt giam tại hai trại Hoàng Liên Sơn và Vĩnh Phú. Ngày vô tù thì có, trái lại ngày mãn tù thì mù tịt. Trong những tháng năm chồng tôi ở tù, tinh thần tôi suy sụp trầm trọng, ngày đêm chỉ biết vái van, cầu Trời, khẩn Phật cho chồng tôi sớm được ra tù. Trong lúc tinh thần sa sút, tôi được thơ của cậu em trai, Huỳnh Sĩ Nguyên, định cư tại Pháp từ năm 1976, đang giữ chức vụ Chánh văn phòng của Tổng trưởng Thông tin trong chánh phủ Pháp. Em tôi khuyên tôi nên gởi giấy tờ hộ tịch của tôi và đứa con, để làm thủ tục bảo lãnh qua Pháp. Cậu em lý luận: “Anh Ba (tức chồng tôi) ở tù cộng sản, mình đâu có biết ngày nào được thả, với lại chị làm sao sống nổi với tụi cộng sản được! Tụi nó toàn xài luật rừng” Tôi viết thơ hồi âm, từ chối ngay, không chút lưỡng lự. Tôi nghĩ, chồng mình đang bị hoạn nạn, mình nỡ lòng nào mưu tìm sự sung sướng cho riêng mình. 11. MỘT MỐI TÌNH ĐƠN PHƯƠNG Năm 1979, lúc chồng tôi ở tù được bốn năm, một hôm, anh Thành, một người bạn học ngày xưa cùng trường tiểu học ở Sóc Trăng, đến nhà tôi cho biết một tin, làm tôi hết sức sững sờ. Số là, hồi tôi còn ở tuổi học trò ở quê nhà, có anh bạn học cùng lớp, tên Nhẫn, đã thầm yêu tôi nhưng chỉ giữ kín trong lòng. Sau biến cố năm 1945, Nhẫn đi theo kháng chiến chống Pháp, nay mang quân hàm Thiếu tá Việt Cộng và đang phục vụ tại Sóc Trăng. Nay, sau trên 30 năm mất liên lạc, Nhẫn đã nhờ Thành, đang cư trú tại Sài Gòn, thăm dò xem tình trạng gia cảnh của tôi để thực hiện mối tình đơn phương năm xưa mà Nhẫn vẫn còn ôm ấp trong lòng. Hôm đó, sau khi nghe Thành trình bày mục đích của cuộc gặp gỡ, không chút lưỡng lự, tôi trả lời ngay: “Thành về nói lại với Nhẫn là anh ấy nên kiếm vợ, làm ăn với người ta. Còn tôi thì nay đã có chồng con. Chồng tôi đang ngồi tù tận ngoài Bắc và tôi đang chuẩn bị đi thăm nuôi đây. Tối với Nhẫn chẳng có duyên nợ gì hết, xin đừng trông mong hảo huyền nữa”. Trong thâm tâm, tôi đã có một ý nghĩ dứt khoát. Vợ chồng tôi đã ăn ở với nhau ba chục năm nay, tình nghĩa thắm thiết. Vừa rồi, em ruột tôi tự nguyện bảo lãnh tôi đi Pháp, tôi đã từ chối. Nay, làm sao tôi có thể chia tay với một người chồng đã từng sóng chung rất đầm ấm để đi lấy chồng khác. Theo truyền thống gia giáo từ ngàn xưa, con gái Việt phải chính chuyên, một lòng chung thủy, một chồng một vợ mà thôi. 12. SUÝT BỊ LƯỜNG GẠT Sau khi chồng tôi được chuyển ra các trại giam ở Bắc Việt khoảng bốn năm, một hôm có một phụ nữ Miền Bắc đến nhà tôi, tự giới thiệu y là một cán bộ đang phục vụ tại trại cải tạo Vĩnh Phú, nơi chồng tôi đang “học tập”. Y nói tiếp là, chồng tôi nhờ y thị, nếu có đi công tác vào thành phố Hồ Chí Minh thì giúp giùm đến nhà tôi, bảo tôi gởi ra anh ấy một cái đồng hồ đeo tay, một vài bộ quần áo ấm, và chút ít tiền, tùy theo khả năng. Y nói thêm, nếu có sẵn thì tốt, bằng không thì cho biết hôm nào có, cô ta sẽ trở lại nhận để đem ra Bắc giao lại cho chồng tôi. Tôi nghĩ, đúng cô ta là cán bộ phục vụ tại trại mà chồng tôi đang bị giam cho nên mới biết rõ tên họ và địa chỉ của chồng tôi ở Sài Gòn. Tuy nhiên, tôi vẫn bán tín bán nghi. Có thật chồng tôi có nhờ vả cô ta điều mà cô trình bày không? Điểm nầy đáng nghi ngờ. Rất may, tôi chợt nhớ lại, xưa kia, trong thời gian chồng tôi vào quân đội, phục vụ ở xa nhà, chồng tôi thường dặn dò: “Nếu anh có cần gì thì anh viết thơ đàng hoàng. Em phải cẩn thận, xem tuồng chữ và chữ ký. Để đề phòng những người lạm dụng lòng tin, làm những việc không tốt”. Nhờ vậy, tôi từ chối khéo: “Chồng tôi có viết cho tôi một lá thơ nào không?” Cô cán bộ sừng sộ, nói như gây gổ: “Chị không tin tôi là cán bộ tại trại mà anh ấy đang học tập sao?” Tôi điềm đạm đáp: “Tôi tin cô, nhưng tôi cần có vài giòng chữ của chồng tôi để làm bằng cớ”. Cô cán bộ phân bua om sòm, lối xóm ra xem rất đông. Tôi vẫn giữ lập trường, im lặng, không trả lời. Một chập sau, cô ta bẻn lẻn bỏ đi. Về sau, được biết lối xóm ở phường tôi, có vài người, có con đi “cải tạo” ở Bắc, đã bị cán bộ đến nhà lừa đảo, tương tợ như cô cán bộ đến gặp tôi. 13. ĐI THĂM NUÔI Cuối năm 1979, trong lúc chồng tôi đang bị giam tại trại Vĩnh Phú, Bắc Việt, tôi “được phép làm đơn” xin thăm nuôi. Làm đơn xin thăm nuôi, phải chờ có thông báo, không phải lúc nào muốn nộp đơn là được chấp nhận. Ngày nhận được giấy phép cho đi thăm nuôi, tôi quá đổi vui mừng. Nhưng vừa mừng lại vừa lo. Lúc đó, trong nhà đâu còn tiền. Mấy năm vừa qua, tôi đã bán sạch bách tất cả của nổi, tức là đồ đạc và tư trang trong nhà để sống tới nay. May quá, chúng tôi một ít của chìm. tức là chúng tôi đang là sở hữu chủ ba căn phố. Tôi đành bấm vụng, bán bớt một căn cho người hàng xóm, để có tiền đi thăm nuôi. Tôi đi với đứa con trai và rủ hai chị bạn lối xóm cùng đi. Hai chị nầy có chồng ở tù cùng một trại với chồng tôi. Đi xe lửa xuyên Việt từ Sài Gòn ra Hà Nội mất hết ba ngày hai đêm. Xe lửa chật như nêm, tôi phải ngủ ngồi trên chiếc băng gổ, còn thằng con thì trải bạ, nằm ngủ trên sàn xe. Con tôi, năm đó 15 tuổi, mua vé loại giảm giá cho trẻ em. Khi lên xe, tên công an giữ an ninh, thấy vóc dáng con tôi cao lớn, hỏi con tôi mấy tuổi. Tôi nói, nó 15 tuổi. Tên nầy nghĩ rằng, tôi khai gian tuổi để mua vé giá rẻ dành cho trẻ em. Anh ta sừng sộ, bảo trình “chứng minh nhân dân” để kiểm chứng. Đến Hà Nội lúc chiều tối, chúng tôi thuê phòng trọ, ngủ một đêm. Sáng hôm sau, tôi đi chợ mua bánh chưng và trái cây tươi, để phụ thêm thực phẩm đem từ Sài Gòn như sữa hộp, cá chà bông, mấm ruốc xào, muối đậu phộng... Lạ nước lạ cái, không biết chợ búa ở đâu, chúng tôi gọi xe xích lô chở đi. Chú xa phu chở tôi và đứa con, nói một hơi, làm cho tôi ngạc nhiên. Anh ấy nói: “Tôi thấy mấy bà, biết ngay là người Sài Gòn ra đây để thăm mấy ông đi “cải tạo”. ở trong đó, sao mấy ông dở quá? Tụi nầy ở Bắc trông mong mấy ông ấy ra giải phóng Bắc Việt. Thế mà nay có chuyện ngược đời. Thương hại cho mấy ông ấy!” Tôi làm thinh, không biết trả lời thế nào đây. Chồng tôi bị giam ở trại Vĩnh Phú/K5, ở mạn Bắc Hà Nội. Nghe nói, đi bộ từ Hà Nội đến trại phải mất một ngày trời. Năm đó, tôi 50 tuổi, già yếu nhưng luôn tâm niệm là phải cố gắng. Tôi thuê xe ba gác, chở cái rương sắt đựng thức ăn, quần áo, thuốc men. Anh phu xe đi trước, tôi và thằng con lẻo đẻo theo sau. Đến trại thì trời đã xế chiều. Chúng tôi được phép ngủ đêm lại tại một gian nhà tranh dành riêng cho khách thăm nuôi. Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi. Tôi trình giấy phép. Cán bộ cầm giấy tờ lên văn phòng. Một chập sau trở lại, cho biết là, chồng tôi đã chuyển đi K1 gần một tháng rồi. Lúc tôi làm đơn xin đi thăm thì chồng tôi còn ở K5. Tôi bàng hoàng, choáng váng, đứng không vững, như muốn té quÿ xuống đất. Cán bộ cho biết, trại K1, nơi chồng tôi đang bị giam, ở cách trại K5 khoảng 10 cây số. Tôi lại phải thuê xe ba gác, cùng với thàng con lội bộ thêm nửa ngày, đến xế chiều mới tới K1. Lại ngủ thêm một đêm thứ hai tại nhà khách lạnh lẽo. Sáng hôm sau, chúng tôi được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi. Tại đây đã có mặt vài anh cán bộ. Nhờ chiều hôm trước, khi vừa đến trại, tôi đã có trình giấy phép thăm nuôi, nên sáng hôm đó, chồng tôi được miễn xuất trại đi lao động và được hướng dẫn đến phòng thăm nuôi để gặp chúng tôi. Trong phòng, có một bàn gỗ dài cỡ ba thước và 2 cái băng dài. Anh cán bộ ra dấu, bảo tôi và đứa con ngồi một bên và chồng tôi ngồi đối diện. Có nghĩa là hai vợ chồng không được ngồi cạnh nhau. Còn anh cán bộ thì ngồi bên phía chồng tôi để theo dõi cuộc nói chuyện. Chúng tôi biết ý, chỉ hỏi thăm về sức khỏe, chỉ nói chuyện liên quan đến gia đình mà thôi. Đâu dám nói chuyện gì khác, rủi bị cán bộ đuổi về sớm thì mang họa. Tôi giao cho chồng tôi cái rương sắt nhỏ, đựng đủ thứ thức ăn và đồ dùng. Tôi dặn chồng tôi, có cần gì thì viết thơ cho biết. Sau gần năm năm đi tù, chồng tôi thay đổi quá nhiều. Thân hình ốm nhom, nước da đen đúa, mặt mày bơ thờ. Trông tội nghiệp quá. Tự nhiên nước mắt tôi trào ra, tôi vội lấy khăn lau. Tôi cố cắn răng, cầm cho khỏi hóc nấc lên. Trời ơi! Sao tôi bị đày đọa, bị bắt phải chịu cảnh sống khốn khổ quá vậy? Nói chuyện sơ sơ, khoảng nửa giờ thì tên cán bộ nói đã hết giờ qui định rồi. Tôi nói lới chia tay mà nước mắt ràn rụa. Tôi cảm thấy đau nhói trong tim, muốn la lên kêu Trời cho đỡ đau khổ. Trên đường về Hà Nội, chúng tôi sử dụng nhiều phương tiện di chuyển: đi bộ, đi thuyền và đi xe lửa. Đến Hà Nội, chúng tôi thuê phòng trọ ngủ đêm. Sáng hôm sau, đi xe lửa xuyên Việt về Sài Gòn. 14. SUÝT BỊ LƯỜNG GẠT LẦN THỨ HAI Thăm chồng về được vài tháng, một hôm có một thanh niên đến nhà tôi, cũng tự xưng là cán bộ tại trại Vĩnh Phú. Cũng giống như cô cán bộ đến nhà tôi lần trước, anh ta nói, chồng tôi nhờ anh ấy, trong dịp đi công tác vào Nam, đến nhắn bảo tôi tiếp tế thực phẩm, quần áo và tiền bạc. Tôi biết ngay là anh cán bộ này nói dối. Là vì, trong chuyến thăm chồng tôi vừa rồi, tôi đã tiếp tế đầy đủ những thứ mà anh ta vừa mới nói. Tuy nhiên, với bản chất ôn hòa, tôi không muốn tranh cãi với người dưng nước lã làm chi. Có thể, cả đời mình, chỉ gặp họ một lần mà thôi. Tôi từ chối khéo: “Cám ơn anh rất nhiều, đã chịu khó đến nhà tôi. Nhưng tôi sắp sửa đi thăm nuôi chồng tôi cho nên không dám làm phiền anh”. Thế là tôi đã thoát nạn lần thứ nhì. Nếu dễ tin thì đã bị lường gạt. 15. NGÀY TRở VỀ Buổi tối, ngày 30-4-1980, tôi và đứa con đang ngồi ăn cơm, thì chồng tôi bước vô nhà. Trông chồng tôi gầy ốm, đen đúa, quần áo lếch thếch, lưng đeo ba lô. Đâu còn phong độ của thời huy hoàng ngày xưa. Tôi sững sờ, đánh rơi đủa chén, líu lưỡi, không nói nên lời. Chồng tôi cho biết, anh ấy đã được trả tự do vài ngày trước đây. Ra trại Vĩnh Phú, anh ấy về Hà Nội, ngủ ngoài trời một đêm tại sân ga xe lửa. Ngay khi tới Hà Nội, anh ấy đã đến bưu điện, gởi điện tín báo tin mừng, một ngày trước lên xe lửa về Na. Xe chạy từ Hà Nội vô Sài Gòn mất thêm hai ngày nữa. Thế mà, điện tín lại đi chậm hơn xe lửa. Do đó, sự xuất hiện của chồng tôi đã đem lại cho tôi một sự mừng rỡ, một hạnh phúc bất ngờ, tưởng chỉ có trong giấc mơ mà thôi. Tôi đề nghị hai đứa ra phố ăn cơm tiệm để mừng ngày thoát cảnh tù đày. Chồng tôi nói: “Thôi! Ăn cơm tù nhiều năm quen rồi, bây giờ có ăn cơm nguội cũng sướng như tiên rồi”. Đúng là bị méo mó nghề nghiệp ở tù. Lúc ấy, tiếng nhạc cát-xết nhà bên cạnh vọng sang văng vẳng: Em vẫn chờ khi nào anh về, Dù cho bao năm bao tháng lê thê. Xuân tới, hè sang rồi thu lạnh lùng Vẫn bền lòng một nỗi nhớ nhung. Thanh Minh |
|
|
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ tình yêu thương chẳng ghen tị chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph |
|
IP Logged |
|
| << phần trước Trang of 115 |
|
||
Chuyển nhanh đến |
Bạn không được quyền gởi bài mới Bạn không được quyền gởi bài trả lời Bạn không được quyền xoá bài gởi Bạn không được quyền sửa lại bài Bạn không được quyền tạo điểm đề tài Bạn không được quyền cho điểm đề tài |
|