Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Lịch Sử - Nhân Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Lịch Sử - Nhân Văn
Message Icon Chủ đề: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 11 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 04/Aug/2022 lúc 9:00am

HÁT BỘI VỀ LÀNG

Hát%20bội%20Miền%20Nam%20và%20thêm%20hát%20bội%20Bình%20Định%20—%20Tiếng%20Việt

Hôm đó, mới năm giờ chiều, cả xóm chợ An Nhơn nghe tiếng trống chầu “thùng!… thùng!… thùng!…”. Cái trống chầu để trước trường học, ngay đầu ngõ vô rạp hát An Nhơn. Bên cạnh có để mấy tấm tranh, trong đó có một tấm vẽ hình hai ông kép đang đánh nhau, một ông mặt đỏ cầm thương, ông kia mặt rằn có hàm râu quai nón đen hù, dễ sợ, cầm đại đao.

Tiếng trống vừa trổi lên thì mấy đứa con nít chạy u tới để coi đánh trống và coi mấy tấm hình hát bội, rồi bàn nhau “về xin tiền má, tối nay đi coi hát!”

Ở nhà ông nội mấy con, cô Năm nghe tiếng trống đã nôn nao, nấu cơm, ăn sớm. Cô Năm biểu ba chạy xuống nhà cô Năm Xây để rủ cổ đi coi hát. Cô Năm Xây đồng ý liền. Ba trở về nhà đã thấy cô Năm Thái, nhà ở phía bên kia đường, ngay đầu hẻm vô nhà ông nội mấy con, đang qua rủ cô Năm mấy con đi coi hát! Ba chị em bạn này rất thân nhau, thường rủ nhau đi ra Sài Gòn mua hàng, mua giày và chụp hình ở Photo Mỹ Lai, đường Bonard, tức là đường Lê Lợi bây giờ. Ngộ cái là cả ba cô đều thứ năm: Năm Nu, Năm Xây và Năm Thái.

Cái rạp hát An Nhơn này nhỏ xíu, nằm chen giữa nhà dân, chỉ có ba căn, cột cây, lợp ngói, ở ngoài ngó vô không thấy gì ra vẻ rạp hát. Chỉ có khác là mặt tiền có xây một cái phòng bán giấy. Vậy mà hầu như tháng nào cũng có đoàn hát về, khi thì hát bội, khi hát cải lương, khi hát xiệc, hát bóng.

Bữa đó nhằm tối thứ Bảy, ba được theo cô Năm đi coi hát bội. Ba ưa coi hát bội lắm. Ba thích nhứt là nghe nhạc hát bội, càng nghe càng thấy hay, vì mỗi cảnh đều có bản nhạc diễn tả được tâm lý, tình cảm của nhơn vật đang diễn. Cảnh triều đình thì nhạc trang nghiêm, cảnh mẹ già nhớ con thì nhạc êm dịu, nỉ non, cảnh chiến trường thì nhạc dồn dập, phấn khởi, thúc giục, v.v… Nghe riết rồi quen, rồi ghiền. Thiệt tình mà nói, ba coi hát bội là để nghe đờn ca, múa hát, chớ họ la hét om sòm bằng chữ Nho, ba có hiểu gì đâu? Nhưng nhìn họ biểu diễn bằng điệu bộ, sắc mặt, giọng nói thì biết được họ muốn gì. Phùng mang, trợn mắt một hồi là có đánh nhau, chắc chắn!  Tuy nghe không rõ, không hiểu từng lời, nhưng ba cũng nắm được toàn bộ câu chuyện của vở tuồng.

Tám giờ tối mới hát, nhưng mới bảy giờ thì khu rạp hát đã rộn rịp rồi. Ngõ vô rạp hát là khoảng đất nằm giữa trường học và Công Sở, có trồng một hàng cây sao cao lớn. Dọc theo tường trường học và dài theo hàng sao, nhiều người đã dọn hàng ra bán. Hàng để trên bàn thấp, thường là hột vịt lộn, khô mực, chuối nướng, chuối sấy, mía ghim, chùm ruột muối, trái cóc, ổi, nước đá xi-rô, sữa đậu nành, chè đậu xanh, bánh tráng nướng, bánh cam, bánh chài, đậu phộng nấu, đậu phộng rang, v.v… Quan trọng nhứt là hàng cháo trắng hột vịt muối và hàng cháo vịt. Người ăn lúm xúm ngồi trên những ghế thấp kiểu “ghế ăn chè” để dọc theo mấy cái bàn cây thấp chủm. Trai trẻ quanh vùng nhơn dịp này, dầu không coi hát cũng kéo nhau ra rạp hát chơi, ăn vặt, nói chuyện với nhau rất vui vẻ.

Quang cảnh từ ngoài ngó vô coi cũng hay hay: trên mỗi cái bàn đều có để một cái đèn dầu leo lét, hàng, quà bày đủ màu sắc, người mua, kẻ bán nói chuyện xôn xao.

Trước rạp treo một cây đèn măng-sông sáng choang, đang có nhiều người sắp hàng mua giấy. Ba chị em cô Năm đã gom tiền đưa cho chị Năm Thái là người lớn hơn hết để mua giấy ngồi gần nhau. Ba dòm tấm bảng ghi giá tiền, đọc được:

              – Thượng hạng            50 xu
              – Hạng nhứt                 40 xu
              – Hạng nhì                   30 xu
              – Ngồi giàn                  20 xu
              – Trẻ em                      nửa phần tiền.

Cỡ nào là trẻ em? Tùy anh hay chị xét giấy định, cho nên thường xảy ra cãi cọ giữa người đi coi hát và người xét giấy.  

Mua giấy rồi, bốn chị em đồng bước vô rạp. Có một tấm màn lớn màu xanh dương che sân khấu. Trước tấm màn có treo một cái đèn măng-sông soi sáng khắp cả rạp. Ba để ý thấy ghế thượng hạng chỉ có 3 hàng, mỗi hàng 6 cái ghế gõ có lưng dựa, để ngay chính giữa, gần sân khấu. Ghế hạng nhứt để tiếp theo sau ghế thượng hạng. Ghế hạng nhì sắp ở hai bên. Ngoài ra là giàn, tức là những tấm ván dài đóng từng bực từ thấp lên cao, sát vách và hai bên rạp.

Bốn chị em vô ngồi ghế hạng nhứt. Cô Năm Thái nói “Mình con gái, phải nhường cho người lớn ngồi thượng hạng. Mình ngồi thượng hạng người ta nói mình làm phách”.

Trong rạp người ta nói chuyện ồn ào, trong lúc ở hậu trường ban nhạc trổi liên tục. Lại thêm mấy chị bán mía ghim, đậu phộng vừa rao, vừa chen lấn nhau để mời mọc.

– “Leng keng! Leng keng!”  Chuông rung ra hiệu sắp hát. Khán giả im bặt vài giây, rồi tiếp tục nói chuyện.

– “Leng keng! Leng keng!” “Mời mấy chị bán mía ghim, đậu phộng ra ngoài. Mấy chị còn nán lại vài phút để ai muốn mua thì lẹ lẹ lên!”

– “Leng keng! Leng keng!” Màn kéo lên. Cảnh triều đình có ngai vàng, cột rồng đầy đủ. Ban cổ nhạc tấu một bài, ba không biết bài gì, nghe hay quá.

Tiếp theo là ba hồi trống Long Phụng, rồi vua chẫm rãi bước ra, điệu bộ rất oai vệ. Vua ngồi lên ngai, sửa vạt áo cho ngay ngắn, vuốt chòm râu đen, quạt quạt mấy cái, rồi cất tiếng:

“Ngôi trời sửa trị
“Trẫm, tước hiệu Minh Vương! …

– “Thùng!” Trống chầu đánh lên một tiếng để khen kép đóng vai vua.

Hát bội có cái ngộ là mỗi nhơn vật bước ra sân khấu đều “xưng tên” để tự giới thiệu cho khán giả biết diễn viên đang đóng vai trò nào trong vở tuồng.

Ba khoái nhứt là coi mấy ông tướng từ trong cánh gà bước ra, tướng đi dũng mãnh, múa một đường thương, hoặc đao, hoặc siêu, hòa theo tiếng nhạc rộn ràng, tiếng kèn tò le thúc giục, rồi đứng trụ lại, dõng dạc xưng tên!

Cho tới anh hề đóng vai chủ quán, khi mở màn cũng tự giới thiệu:

              “Như tôi nay cất quán cheo leo mé lộ
              “Để phòng khi chi độ bộ hành
              “Cha tôi xưa vốn thiệt Quán Manh
              “Tôi nối nghiệp, đặt tên là Quán Mỏng
              “Nhà không vách cũng không có chõng
              “Có mấy cái bàn để bán cheo leo
              “Khách bước vô đủ thấy tôi nghèo
              “Xin trả tiền mặt chớ đừng ăn chịu!  

Trở lại tuồng hát bội. Lâu quá, ba không nhớ là tuồng gì, nhưng có thể tóm tắt sự tích như sau:

Dưới thời vua “Minh Vương”, trong nước đang thái bình, thịnh trị. Bỗng có giặc phương Bắc xâm lăng. Vua sai một tướng tài của triều đình cầm quân đánh giặc. Trong lúc quân, tướng triều đình kéo ra biên ải thì ở trong triều bọn gian thần làm phản, khiến vua phải bỏ kinh đô lánh nạn, được các trung thần xả thân hộ giá. Đúng là “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần”, nghĩa là nhà nghèo mới biết con có hiếu, nước loạn mới biết tôi trung. Ở kinh đô xảy ra nhiều cảnh nhiễu nhương: mẹ già trông con, vợ trông chồng, bọn gian hùng được thế ức hiếp chúng dân … Nhưng rồi tướng triều đình dẹp xong giặc, trở lại kinh đô, bắt bọn gian thần trị tội, rước Hoàng Thượng hồi loan, nhân dân lại hoan ca thái bình như trước.

Chuyện chỉ có vậy mà người soạn tuồng sắp đặt rất hay, màn nào coi cũng không chán.

Ông nội mấy con ngồi nhà đọc sách, nghe tiếng trống chầu đánh thưởng liền liền, biết là ban hát bội này hát hay lắm. Đêm đó ông Hương Giáo cầm chầu. Hễ đào kép nào hát ông cho là “khá”, ông đánh một tiếng “Thùng!” Ai hát hay, ông đánh hai tiếng “Thùng!… Thùng!…” Gặp đào kép nào hát hoặc múa hay quá, hoặc lời văn hay quá, ông đánh liền ba tiếng “Thùng!… Thùng!… Thùng!…” thì thường có vài khán giả ngồi ở ghế thượng hạng hoặc hạng nhứt kẹp tiền vô cây quạt rồi thảy lên sân khấu để thưởng. Có người trong cánh gà bước ra lượm quạt, gom tiền thưởng, rồi trả quạt lại cho vị khán giả sành điệu. Nghe nói đào kép hay có khi được thưởng tới hai đồng bạc một đêm.

Có một cái lệ của hát bội cũng hay hay. Đó là khi tuồng hát gần kết cuộc, còn chừng ba bốn màn nữa, thì ban hát “thả giàn”: cửa vô rạp mở rộng, ai muốn vô coi thì vô, khỏi mua giấy. Khi thả giàn thì bọn thanh niên và trẻ con nãy giờ chơi lẩn quẩn theo mấy hàng quà lại kéo vô đứng đầy rạp.

Vãn hát, mọi người lần lượt ra về. Một số còn nán lại ăn cháo vịt, cháo trắng hột vịt muối, cháo trắng tôm khô, củ kiệu. Anh bán quán trong tuồng hát cũng ra ăn cháo, ngồi chung với anh kép chánh đóng vai tướng trung hồi nãy. Còn anh kép “Thừa Tướng” ngồi ăn hột vịt lộn mà cái mặt cũng còn thấy ghét!

Ba theo mấy chị Năm đi thẳng về nhà, không ghé ăn cháo, vì trời đã khuya lắm rồi, ai nấy buồn ngủ quá chừng.

Ban hát bội này diễn tại rạp An Nhơn bốn đêm rồi dọn đi. Sau bữa hát chót, bà con ở chợ An Nhơn xôn xao bàn tán chuyện một cô gái trong làng lén bỏ nhà theo kép hát bội. Dưới bến đò, bà Bảy bán trầu cau lại có chuyện nói với bà Ba bán cá:

– Chị Ba ơi! Chị có hay chuyện con Lành bỏ nhà đi theo kép hát bội không?

– Ối! Sáng nay ngoài chợ người ta đồn rùm, ai mà không hay. Mà con Lành là con nhà ai vậy hả chị?

– Con Lành nhà ở gần Bộng Dầu đó! Nó mồ côi cha mẹ, ở với ông Hai Minh, kêu ông Hai bằng bác đó! Con nhỏ nhu mì, dễ thương hết sức, ai dè lại trốn nhà, theo kép hát, hư thiệt là hư!

– Mà nó theo ai vậy chị Bảy?

– Nghe nói nó theo thằng Sửu.

– Thằng Sửu nào vậy chị?

– Cái thằng kép đóng vai Triệu Tử Long đó! Tối, nó giồi phấn, vẽ mặt, bận quần áo hát bội vô, đội mão coi lịch sự hết sức. Mà tiếng của nó tốt, múa hát cũng hay, không nói ra chớ nhiều đứa con gái mê nó lắm! Còn con Lành nghe nói bốn đêm nó đi coi hát đủ bốn.

– Chèn đéc ơi! Mà cái thằng kép Sửu gì đó, nó bao nhiêu tuổi, có vợ con chưa vậy hả chị Bảy?

– Ai mà biết! Mà thằng đó hả chị, ban đêm coi nó lịch sự vậy, chớ sáng ra nó xấu hoắc hà, chị Ba ơi! Sáng bữa nào tôi cũng thấy nó ra ăn cháo huyết của chú Keo, mặt mũi nó đen đúa, lại bị lác đồng tiền trên cổ nữa, vậy mà con Lành mê cái nỗi gì không biết nữa!

– Chị nhắc tới chú Keo. Mà chú Keo nấu cháo huyết ngon quá hả chị? Có hai xu một tô mà có gan, có lòng, lại có mấy miếng dầu chao quảy, để thêm mấy cọng gừng non, rắc tiêu, bỏ thêm hành lá …

– Nghe chị nói mà tôi phát thèm!

Trong lúc bà Bảy, bà Ba nói chuyện thì mấy bà, mấy chị đang chờ đò cũng bàn vô, mỗi người một câu về chuyện cô Lành theo kép hát Sửu. Một bà già thở ra, ứ hự một cái, rồi nói:

            “Trồng trầu thả lộn dây tiêu
            “Con theo hát bội, mẹ liều con hư!

Đò cặp bến, ai nấy lần lượt cắp thúng, quảy gánh xuống đò. Trời xanh ngắt, nước trong leo lẻo, chiếc đò êm đềm trôi qua phía An Lộc.

Coi hát bội quen rồi cũng ghiền lắm. Nhà ở gần rạp hát nên ba thường được đi coi hát. Có những tuồng coi đi, coi lại cũng còn hay, như mấy tuồng này:

            – Trảm Trịnh Ân
            – Thần Nữ Dưng Ngũ Linh Kỳ
            – Lưu Kim Đính Giải Giá Thọ Châu
            – Tiêu Anh Phụng Loạn Trào
            – Ngọc Kỳ Lân Xuất Thế
– v.v…

Lúc đó ba còn nhỏ xíu mà có những màn hát bội làm ba nhớ hoài. Thí dụ như cảnh một ngưới con cõng mẹ chạy giặc, băng qua một khu rừng. Bà mẹ khát nước, người con để mẹ ngồi trên một tảng đá, chạy xuống suối để lấy nước. Bà mẹ đang ngồi ca, than thở, thì trong bụi có cái đầu cọp ló ra, làm ba sợ quá! Rồi con cọp nhảy ra vồ người mẹ, tha tuốt vô rừng sâu, làm ba sợ muốn khóc luôn! Hoặc cảnh “Ngọc Kỳ Lân xuất thế”, pháo nổ một cái “đùng”, Ngọc Kỳ Lân miệng ngậm pháo bông, múa may rất ngoạn mục!

Thường thì cảnh hai tướng đánh nhau, đánh theo “quy ước” của hát bội, không phải đánh võ thiệt. Nhưng có lần ông Tám Thưa, một thầy dạy nghề võ, đóng vai Quan Vân Trường. Ông Tám Thưa hóa trang giống hệt hình “Ông” ba thấy thờ trong Chùa Ông. Ông Tám cầm Thanh Long Đao, múa một đường siêu tuyệt vời. Ông “loan” siêu nghe tiếng gió vù vù, tưởng như tên bắn cũng khó lọt vô mình ông được. Ai nấy coi đều thán phục.

Nhắc tới ông Tám Thưa, ba lại nhớ tới ông Bảy Phúc, nhà ở sau nhà ông nội mấy con, cũng là một  thầy dạy “nghề”.  Năm 1945, những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông Bảy tập luyện võ nghệ cho đám thanh niên trong làng, thay vì chỉ tập đi “một! hai!” như nhiều làng khác.

Nói chuyện về hát bội, ba lại nhớ tới những buổi cúng đình. Có thể nói ở trong làng vui nhứt là mấy ngày Tết, kế đó là những ngày cúng đình. Đình An Nhơn lúc đó tọa lạc dưới vòm cây cổ thụ. Trước Đình có sân rộng, có trồng một hàng sao cây to, bóng mát. Bên kia đường là một khoảng đất rộng, mùa mưa trồng lúa, mùa nắng trồng thuốc lá hoặc đồ rẫy: bầu, bí, khổ qua, dưa leo, khoai mỡ, cà chua, cà tím, v.v…

Rằm tháng Tám âm lịch là ngày cúng đình. Trước đó, Ban Hội Tề cùng với vài vị tai mắt trong làng và Ban Trị Sự Hội Đình đã nhóm họp, bàn việc cúng đình.

Người ta dựng trước sân đình một cái “võ” rộng rãi, cột tre, lợp lá dừa nước, sân khấu đối diện với bàn thờ Thần, cốt ý để Thần coi hát. Trước sân khấu có sắp ghế, hai bên có đóng giàn, đủ chỗ ngồi cho vài trăm khán giả. Năm đó trúng mùa thuốc lá, tiền quỹ của Đình còn dư khá, Đình rước hát bội tới hát ba ngày, ba đêm liền.

Ngày đầu tiên là lễ “thỉnh Sắc”, tức là thỉnh “sắc lịnh” của vua Tự Đức ban năm 1852, phong Thần cho “Thành Hoàng bổn thổ”, có câu “ĐẠI CÀN QUỐC GIA NAM HẢI TỨ VỊ TÔN THẦN”, chứng tỏ Đình An Nhơn thờ bốn vị thần. Thường ngày, Sắc vẫn thờ ở Công Sở, tới ngày cúng mới thỉnh Sắc đưa về Đình. Sắc vua đựng trong một cái hộp bằng gỗ trầm, đặt trên một cái kiệu sơn son thếp vàng, hai thanh niên ăn mặc chỉnh tề khiêng xuống Đình. Có mấy vị hương chức áo dài, khăn đóng đi theo “hộ Sắc”. Đoàn thỉnh Sắc đi chẫm rãi theo tiếng trống và tiếng chiêng, cứ ba tiếng trống là ba tiếng chiêng tiếp theo:

– “Thùng!… Thùng!… Thùng!…”

– “Beng!… Beng!… Beng!…”

Dân làng nghe tiếng chiêng, trống thì biết ngày mai cúng đình, ai ai cũng sắp đặt để đi cúng và coi hát bội luôn thể.

Theo bản Lý Lịch Di Tích Đình An Nhơn thì Thần Đình An Nhơn là một bà Thái Hậu (mẹ đức vua) và ba vị công chúa gốc ở Trung Hoa. Lúc giặc Nguyên chiếm đất Trung Hoa thì các vị này chạy lạc đến biển Nam Hải vào năm 1276. Bốn vị này không chịu đầu hàng quân giặc nên đồng nhảy xuống biển trầm mình tuẫn tiết. Từ biển Nam Hải, thi thể bốn vị trôi lần qua bờ biển Bắc Trung Phần Việt Nam, cuối cùng tấp vào xã Hưng Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đồng bào cư ngụ tại đây vớt bốn thi thể lên, quần áo còn đủ, chỉ mất một chiếc hài (giày), bèn tâu báo với triều đình. Vua Trần Thánh Tôn phái Khâm Sai cử hành lễ an táng rất trọng thể. Từ đó, hồn thiêng bốn vị hiển hách oai linh, nên đồng bào lập đền thờ “Đức Thánh Mẫu”. Một chiếc hài trôi lạc vào làng lân cận. Dân chúng nơi đó vớt hài lên và lập một đền thờ gọi là đền thờ “Đức Thánh Mẫu Phủ Giày”. Từ đó địa phương này có tên là “Phủ Giày”.

Từ năm 1776 đến năm 1801, chúa Nguyễn Phúc Ánh nhiều phen tẩu quốc, mượn con kinh tắt xã An Nhơn thoát nạn Tây Sơn. Đến khi lên ngôi năm 1802, vua sai vị Tổng Trấn Gia Định thành là Đại tướng Đoàn Hùng và Quận công Nguyễn Văn Trương đến lập đền thờ tại An Nhơn Xã, nơi Đức Thánh Mẫu hiển linh. Sử tích của bốn vị thần này có chép lại trên một tấm bảng sơn đỏ, chữ vàng, để trong chánh điện Đình, và có in ra phát cho khách viếng Đình.

Tối hôm thỉnh Sắc, ban hát bội hát “xây chầu”. Ba có đi coi xây chầu một lần, ba không hiểu cái gì hết, nhưng nghe tiếng trống, tiếng đờn và kèn “tò le” cũng thích!

Ba ngày cúng đình vui lắm. Trước sân đình, tràn qua bên kia đất rẫy, người ta bày bán đủ thứ quà vặt. Cũng những món ăn bình dân như hột vịt lộn, khô mực, khô hố, rượu đế, rượu thuốc, chuối nướng, chuối sấy, chuối chiên, mía ghim, chùm ruột muối, mứt chùm ruột, mứt me, trái cóc, ổi, mận, nước đá xi-rô, xá xị “Con nai”, chè đậu, bánh tráng nướng, bắp nướng, bắp nấu, đậu phộng nấu, đậu phộng rang, v.v…, không thể kể hết. Người nhà luân phiên nhau bán suốt ngày đêm vì hát bội cũng hát suốt ba ngày, ba đêm luôn.

Coi hát khỏi mua giấy, ai muốn vô coi lúc nào cũng được. Còn ghế trống thì ngồi, chỉ chừa hai hàng ghế đầu cho Ban Hội Tề và các vị nhân sĩ, hào phú trong làng. Hết ghế thì ngồi giàn, giàn chật hết thì đứng. Coi tới đói bụng thì về ăn cơm rồi trở lại coi tiếp. Người đi cúng đình, đi coi hát, tới lui nườm nượp. Cũng có người bận việc, chỉ đi cúng, không coi hát. Có thể nói không có nhà nào không đi cúng đình, vì ai cũng tin tưởng nhờ thần thánh phò hộ cho nên làng An Nhơn được thanh bình, yên ổn, ai nấy lo làm, lo ăn, ít lo trộm cướp.

Những vị chức sắc chia phiên nhau cầm chầu suốt cả ba ngày đêm. Không có điện, không có mi-cờ-rô, nên đào kép phải rán sức mà hát lớn, người cầm chầu phải thưởng chầu đúng lúc cho đào kép họ vui.

Về việc cúng đình, từ Bắc chí Nam nhiều sách vở đã tả kỹ, đầy đủ và hay lắm, nên ba chỉ nhắc sơ cho mấy con biết qua một khía cạnh đặc sắc của phong tục Việt Nam.

Trở lại cái rạp hát An Nhơn. Ngoài hát bội, đôi khi có đoàn hát cải lương về. Hát cải lương dễ hiểu hơn, ít nói chữ Nho. Lại hay có những màn “mỹ thuật” đánh phép, phi thân bay lên cao, hoặc đấu “boa-nha” (poignard), v.v… Hấp dẫn nhứt của hát cải lương có lẽ là bài ca vọng cổ! Có thể nói không có vọng cổ thì không phải là cải lương!

Ngoài hát bội và cải lương, lâu lâu cũng có đoàn xiệc “Lạc Hồng” về An Nhơn diễn. Đoàn này có nhiều màn ảo thuật rất hay. Diễn viên hầu hết là người Bắc. Ba và các bạn học của ba ưa đi coi đoàn hát xiệc này lắm.

Rạp An Nhơn cũng có “hát bóng”. Lúc đó An Nhơn chưa có điện, đoàn hát bóng này có máy đèn riêng. Chiếu phim câm, vì thời đó chưa có “hát bóng nói”, cũng chưa có phim màu. Nhơn vật trong phim đi cà giựt, cà giựt. Phim câm, nhưng có tiếng động như tiếng kèn xe hơi, tiếng xe lửa chạy xình xịt, Tây kêu là “cinéma sonore”, tức là hát bóng có âm thanh lồng vô. Cái đoàn hát bóng này nghèo quá! Chỉ có hai ba phim chiếu đi, chiếu lại. Mỗi lần tới An Nhơn hát chừng hai ba đêm, kiếm một mớ bạc cắc, rồi dọn đi êm!

Đặc biệt, có lần Đoàn Xiệc thú Tạ Duy Hiển về dựng lều ở miếng đất trống, chỗ cái đồn đất gần Gò Vắp ngó qua. Đoàn Tạ Duy Hiển này có những màn diễn thú với ngựa, voi, gấu, cọp, khỉ thật là đặc sắc. Tới màn cọp nhảy vòng lửa thì có kéo rào sắt ngăn cách chỗ thú biểu diễn và khán giả. Ông Tạ Duy Hiển mặc áo dài gấm, đội khăn đóng màu vàng, cầm roi điều khiển cho ba con cọp vừa gầm gừ, vừa nhảy qua vòng lửa cháy rực. Lại có những màn “đu bay” trên cao xem thật rùng rợn.

Người Việt Nam mình cũng ngộ, không có môn nào mà mình không học được, và làm được, chẳng kém các nước khác. Chỉ tiếc là mình nghèo quá, khó tranh đua với người …


Tiền Vĩnh Lạc



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 04/Aug/2022 lúc 9:01am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 09/Aug/2022 lúc 8:58am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Aug/2022 lúc 3:04pm



Song Thao





1 - Gỏi Đu Đủ :

Tôi bị gỏi đu đủ bò khô nắm cẳng, cho tới bây giờ. Đĩa đu đủ bò khô đầu tiên tôi ăn là ở cổng trường Dũng Lạc, bên hông Nhà Thờ Lớn Hà Nội, khoảng đầu thập niên 1950. Ngày đó trước cửa trường có nhiều hàng quà vặt, điểm đặc biệt là hầu hết người bán là đàn ông.

Ừ thì là trường con trai nhưng sao người bán lại cùng dòng giống, chuyện cho tới nay tôi vẫn cứ thắc mắc.

Ông nào cũng có tên không phải do cha mẹ các ông ấy đặt. Bánh mì giò chả có ông Lý Toét, ông Đại Quấy bán cái chi chi tôi quên béng mất. Nhưng ông được tôi mến mộ nhất, ngày nào cũng dúi cho ông ấy ít tiền là ông bán món đu đủ bò khô thì lại không có tên.

Tay ông cầm cái kéo cắt thịt bò dập tanh tách không ngừng, như một cách rao hàng.

Khi có khách, hai tay đó cầm hai chai, một nước tương đen đen, một dấm trắng có pha chút ớt hồng hồng xịt lia lịa xuống chiếc đĩa nhôm đu đủ bò khô có vương chút rau thơm rau răm xanh xanh trên mặt. Chỉ nhìn hai cánh tay khua khua đã thấy nước bọt túa ra đầy miệng.

Tôi đã chết mệt với món đu đủ bò khô từ những ngày non dại đó.

Cho tới ngày nay tôi vẫn…non dại.

Vẫn mê món đu đủ bò khô. Vào nhà hàng nào có bán là tôi ít khi bỏ qua.

“Bệnh” này bắt nguồn từ những ngày Hà Nội nhưng nặng thêm từ khi di cư vào Sài Gòn, khi nếm mùi gỏi đu đủ của ông già áo đen trước cửa tiệm nước mía Viễn Đông nơi góc đường Lê Lợi và Pasteur.

Thời sinh viên, đậu chiếc xe Goebel hai màu vàng và cam bên lề, anh chàng tuổi trẻ ngày đó nhào vào hàng ông già áo đen, bưng chiếc đĩa nhôm ra ngồi trên yên xe đắm đuối với cái vị mằn mặn, chua chua, cay cay, nồng nồng không thể có trong các món ăn khác.

Đĩa gọi đĩa, thường phải ít nhất hai đĩa mới dứt áo ra đi được. Có những ngày nặng túi, hai đĩa còn chưa ra đâu vào đâu, hai đĩa tiếp nữa mới…đủ. Còn tiếc rẻ húp hết nước trong đĩa. Báo hại bữa cơm chiều đó sao thờ ơ uể oải khiến bà già đưa mắt dò hỏi.

Anh bạn trẻ tuổi Phạm Công Luận, quen trên giấy bút nhưng chưa bao giờ giáp mặt, nhắc nhớ tới ông già áo đen của thời đó.

“Những anh chị tôi, lứa tuổi nay đã bước vào tuổi 60, 70 rất quen thuộc với hàng bò khô, nay gọi là gỏi khô bò của ông già áo đen bán trên đường Pasteur.

Họ vẫn nhớ những buổi chiều chưa tắt nắng của Sài Gòn nửa thế kỷ trước, tan trường Sư Phạm, trường Luật là phóng xe ra ngay góc ngã tư Lê Lợi – Pasteur, ngồi trên xe gọi mấy đĩa khô bò đu đủ cùng một lúc.

Từ xa đã thấy bóng ông chủ xe khô bò, luôn luôn bận áo đen nên chết tên.

Phải canh làm sao để ăn được gỏi khô bò của “ông già chemise noire” hay “ông già áo đen” này dù khu đó có tới bốn người bán gỏi khô bò đu đủ bào. Không mấy ai biết tên gì, chỉ gọi biệt danh như vậy”.

Món khô bò đu đủ bào ngon như thế nào phải nghe ông tổ sư ẩm thực Vũ Bằng tán :

“Có ai một chiều nào nhàn tản trên con đường Pasteur, ở ngã ba Lê Lợi, có thấy hàng toán người tề tựu ở trước chùa Chà như dự một cuộc mết tinh vĩ đại? Không, họ không phản đối gì hết mà cũng chẳng yêu cầu gì hết. Khẩu hiệu của họ căng lên ở trong lòng: họ ăn, họ uống, và uống và ăn để làm thỏa mãn cái dạ dầy nhiều đòi hỏi. Có người đứng ăn; có người ngồi ghế ăn; có người ngồi ở xe máy dầu gác chân lên hè để ăn; có người ngồi xổm trên hè để ăn; lại có người hãm xe hơi lại, thò đầu ra ngoài kêu ăn. Họ ăn gì vậy? Ăn bánh tôm; ăn bì bún; ăn bánh mì phá lấu; ăn ốc; ăn bánh canh giò heo; nhưng muốn gì thì gì, món được người ta thưởng thức nhiều nhất, nồng nhiệt nhất và thành tín nhất vẫn là món đu đủ bào, rưới rất nhiều giấm ớt lên trên. Ở cái đất quanh năm nắng chói như đây, tạng người ta nhiệt lắm, lòng lúc nào cũng cứ xót như cào: ăn cái món ấy vào mát ruột. Các ông ưa quá, mà các bà các cô lại ưa hơn; ăn một đĩa rồi lại muốn ăn đĩa thứ hai, thứ ba…thứ sáu. Chính tôi đã thấy có một bà ăn chơi sơ sơ một lúc sáu đĩa như thế rồi xuýt xuýt xoa xoa, chảy cả nước mắt nước mũi mà có vẻ như vẫn còn thèm ăn nữa. Ờ, cái món đu đủ bào trộn giấm ớt đó là gì vậy? Thưa, đó là khô bò. Đu đủ bào, trên đặt mấy miếng khô bò, tưới giấm ớt rồi rắc mấy lá ngò lên trên đó, chỉ giản dị có thế thôi, vậy mà ăn vào…phải biết! Ngon chết người đi được!”.

Cái món ngon chết người đi được này là món ta hay món tầu, nhiều người cắc cớ đặt câu hỏi.

Tác giả Lưu Khâm Hưng có vợ người Tàu thắc mắc. Ông cũng nghĩ đây không phải là món của người Hoa nên hỏi vợ cho chắc ăn. Ai ngờ bà vợ trả lời tỉnh queo:

“Hồi đó đi học ăn hoài, dường như món này của người Tàu. Mấy xe bán gỏi đu đủ khô bò ở Chợ Lớn đều do mấy ông Tiều bán. Bởi vậy ăn gỏi khô bò đâu có chan nước mắm mà là chan nước tương pha giấm ớt”.

Thiệt hôn? Cái món làm say đắm nhiều người Việt này là một món ngoại lai sao?

Tác giả Minh Lê trong bài “Gỏi Khô Bò” đã cất công tìm kiếm.

Theo ông, thành phần chính của món ăn hớp hồn này là đu đủ và bò.

Đu đủ có gốc ở châu Mỹ, được mang sang trồng tại châu Á từ đầu thế kỷ 19.

Trong từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhode, xuất bản năm 1651, chưa có từ đu đủ. Nhưng trong cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1895, từ “đu đủ” đã có ở trang 327, chứng tỏ khi đó đu đủ đã khá phổ biến ở Việt Nam.

Về thịt bò, dân Việt chuộng nuôi trâu hơn nuôi bò. Nhưng tới năm 1915, cụ Phan Kế Bính đã liệt kê trong cuốn “Việt Nam Phong Tục”:

“Về thứ đồ ăn thì nhất là hay dùng những thịt trâu, bò, dê, lợn, gà ,vịt, chim, ếch, tôm, cá, cua, ốc..v..v..mà thịt lợn là thứ cần dùng hơn hết”.

Tác giả Minh Lê viết:

“Vậy vào thời điểm cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, điều kiện “cần và đủ” cho gỏi khô bò đã có, chuyện còn lại là khoảng năm nào và có ở đâu trước?

Nói về miền Bắc, tôi “chộp” được câu này:

“Hà Nội 1953 đã thay đổi khác đi nhiều rồi…bây giờ phố xá Hà Nội có những món ngon mới, như món thịt bò khô gồm đu đủ thái nhỏ, mùi và giấm, “lạp chín chương”, ăn vào thấy đủ vị cay chua mặn chát.

Tác giả Nguyễn Duy Hảo, bút hiệu Ba Lăng, ăn gỏi khô bò từ 1948:

“Thú thật là tôi không được biết rõ món đu đủ bò khô có từ bao giờ và nguồn gốc của nó cũng như do ai sáng chế ra món ăn đáng nhớ này. Riêng cá nhân tôi đã được thưởng thức món quà đặc biệt này từ năm 1948 tại cổng trường tiểu học Hàng Than Hà-Nội”.

Khô bò có cách chế biến giống với món phá lấu chiên của người Tiều nhưng người Tiều ăn phá lấu với cơm chứ không làm gỏi đu đủ. Ngoài khô bò, xì dầu là dấu ấn của người Hoa. Nhưng đu đủ bào và đậu phọng lại tương tự như món tam maak hung của người Lào và món som tam của người Thái. Không biết có nên kết luận là một người Việt nào đó đã kết hợp hài hòa các món trên để chế ra món gỏi đu đủ khô bò thần sầu mà tôi là một đệ tử không.

Tôi đã một phen thất vọng với món som tam của Thái Lan. Trong một lần tới Bangkok vào cuối năm 2019, trước khi có dịch covid, tôi đã háo hức thử món gỏi đu đủ phổ biến của Thái Lan. Tới Thái Lan mà không thưởng thức som tam, một di sản văn hóa ẩm thực của đất nước hiền hòa này là một thiếu sót to lớn. Món này được bán khắp các nhà hàng và xe bán rong tại Bangkok. Tôi order và thích thú chờ đợi. Cô hàng khá xinh bắt đầu chế biến. Nhìn mà chóng mặt với cái tay thoăn thoắt vứt nguyên liệu vào một chiếc cối. Đu đủ xanh, đậu đũa, xoài xanh, cóc Thái, cà chua, chanh, nước mắm, đậu phọng, tỏi, tôm khô, đường thốt nốt và ớt. Hình như có cả ba khía nữa. Đĩa gỏi được tôi khới khới cố ăn vài miếng rồi chịu thua.

Cay xé lưỡi, cũng chua chua, chát chát, mặn mặn, ngọt ngọt nhưng đó là một thứ hầm bà lằng giã nát trong cối. Nhìn đĩa gỏi dở dang mà không dám nói năng chi. Lỗi tại tôi không biết tiếng Thái. Nếu biết som có nghĩa là chua và tum có nghĩa là giã thì tôi đã không tốn vài chục baht!

Som tum là một hóa thân tồi của gỏi đu đủ khô bò của ta. Cái miệng đã nếm qua gỏi khô bò sẽ không bao giờ rời được cái vị chua chua, cay, ngọt, mằn mặn bùi bùi của món ăn đường phố hấp dẫn này.

Vét hết những sợi đu đủ, nhai xong những miếng khô bò nho nhỏ, người sành điệu phải húp cho bằng hết phần nước còn sót lại. Đây là một hậu vị, kết thúc hoàn chỉnh một thức ăn làm mê mệt những cái miệng sành sỏi.

Tôi bao giờ cũng dành miếng gan nướng sém cạnh bùi, béo, cho những miếng cuối cùng.

Chính miếng gan này đã gọi đĩa thứ hai, rồi thứ ba, thứ...

Hình như đã lậm món ăn dân dã nhưng ngon chết người này thì chẳng bao giờ có thể rời xa được.

Không lẽ lại ví cái nghiện gỏi đu đủ khô bò này với mấy ông hít tô phe ôm ấp nàng tiên nâu nhưng tôi e rằng cả hai đều chung một quyến rũ.

Phạm Công Luận, người tương đối trẻ, sống thời nay nhưng miệt mài đi tìm những dấu vết xưa của Sài Gòn đã có duyên gặp được anh Nguyễn văn Tuynh, con trai của ông già áo đen.

Anh Tuynh, người phụ cha bán đu đủ bò khô suốt 9 năm trước khi đi quân dịch, nhớ lại:

Sài Gòn thời ấy không có nhiều hàng quán cầu kỳ như bây giờ. Không chỉ giới bình dân, giới có học không câu nệ phải ăn hàng quán sang trọng mắc tiền.

Do đó các xe bán hàng ăn trên lề đường rất đông khách, có đủ cả sinh viên, thầy cô giáo, tiểu thương, công tư chức và quân nhân.

Anh Tuynh tiết lộ cách làm khô bò của ông già áo đen:

“Nhà tôi làm khô bằng lá lách bò, thịt thì bằng thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, khi chín tới ăn rất thơm ngon. Lá lách bò dài như miếng gan heo, luộc chín, khứa từng khứa để khi xào nấu thì gia vị thấm vào bên trong mới ngon. Xong đem xào với sả, ngũ vị hương, muối, đường, gừng (để khử mùi nồng của lá lách bò) rồi đổ nước vào cho ngập mặt, đun hơn một giờ cho sệt lại. Sau đó vớt ra cho vào chảo chiên. Qua ba công đoạn luộc, xào rồi lại chiên nên mới có miếng sém cạnh, vừa bùi vừa giòn, ngon vô cùng”.



2 - Nước mía Viễn Đông:

Khu nước mía Viễn Đông thời của chúng tôi là một khu ăn hàng số một ở Sài Gòn. Ngày đó chúng tôi tấp vào ăn, thấy có đủ các…bộ môn: gỏi khô bò, hủ tiếu, bò viên, bánh cuốn, bò bía, phá lấu.

Người bán tấp nập, người ăn cũng tấp nập. Thấy khu bán hàng quà vặt này đông vui, chẳng ai trong chúng tôi thắc mắc. Nhưng nay anh Tuynh cho biết chính cha anh, ông già áo đen bán gỏi bò khô là người đứng ra tổ chức khu ăn uống nhộn nhịp được đặt tên không chính thức là “bến nước mía Viễn Đông”.

Bến nằm trên đường Pasteur, khúc từ đường Tôn Thất Đạm đến Lê Lợi. Cha anh Tuynh đã từng dừng xe bán ở trường Chu văn An, góc đường Lê Thánh Tôn và Tạ Thu Thâu quanh chợ Bến Thành và đều bị đuổi chạy trối chết.

Khi ông tới bán ở góc đường Pasteur và Lê Lợi, xế cửa hàng nước mía Viễn Đông, cảnh sát ở bót Lê văn Ken cũng đuổi.

Sau khi bàn bạc với các bạn hàng cùng bán tại địa điểm này, ông đến bót Lê văn Ken xin thành lập một “bến” tập trung buôn bán, đóng thuế đàng hoàng.

Ông sẽ là người thu thuế nộp lại cho cảnh sát. Vậy là khu ăn hàng của Sài Gòn thành hình.

Có bốn người bán gỏi bò khô, tất cả đều là dân di cư. Ngoài ông già áo đen, còn có các ông Thung, ông Chiếu và ông Dần. Tôi luôn luôn là khách trung thành của ông già áo đen, chưa bao giờ biết các ông khác. Ông bác sĩ Lê văn Lân ngày đó có một bài thơ về “bến” Viễn Đông mang tên “Quà Rong” được nhiều người biết.

Người đi trăm nhớ ngàn mong
Người về còn nhớ quà rong năm nào
Đầu đường nghe thoáng lời rao
Là tha hồ biết quà nào rẻ ngon
Dăm bông, thịt nguội, mì giòn
Hai đồng một ổ bà con mua giùm
Anh ơi, nước mía Viễn Đông
Hai ly chưa đã, mát lòng em luôn
Thêm đĩa bò bía chấm tương
Ăn kèm phá lấu, em thương anh nhiều
Ốc sò, muối ớt, chanh tiêu
La ve, củ kiệu càng nghèo càng ham
Cóc chua, tầm ruột, ổi dầm
Thua gì xoài tượng, mới dầm đã chua.

Bài thơ đã ghi lại một thời Sài Gòn nhộn nhịp ăn uống xôn xao. Có điều tại Bến Viễn Đông có tới bốn ông bán gỏi bò khô mà ông bác sĩ không nhắc tới món này. Thiệt là một người đãng trí!

Tôi phải nói thêm là, những ngày hoa mộng đó, chúng tôi thường không bỏ về sau khi vét hết vài đĩa gỏi bò khô mà còn một chuyện luôn luôn chẳng bao giờ đãng trí. Đó là phải xếp hàng uống bằng được một ly nước mía Viễn Đông. Ly nước mía mát lạnh, vắt thêm trái tắc, uống vào tới đâu biết tới đó. Đó là một kết thúc hoàn hảo cho một buổi rong chơi với quà rong.

Tôi muốn kết thúc bằng một tiết lộ nho nhỏ.

Bà chủ nước mía Viễn Đông hiện sống ở thành phố Montréal chúng tôi.

Tôi có gặp bà một lần, chưa tiện hỏi về cửa hàng nước mía huyền thoại ngày đó thì mất liên lạc với bà.

Thiệt đáng tiếc! Tiếc như gan ruột cồn cào khi nhớ lại những ngày hoa mộng đẹp đẽ đó.


Song Thao
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 23/Aug/2022 lúc 9:27am

Những Ký Ưc Về Cuộc Sống Sài Gòn Xưa Trước 75: Cho Tôi Lại Ngày Nào…


Trước 1975 tại Sài Gòn (Và chắc chắn là tại cả miền Nam), nếu tôi nhớ không nhầm, tất cả các loại xe hơi đều bị bắt buộc phải phết sơn màu vàng lên 1/3 phía trên của mặt kính 2 đèn trước, với dụng ý ngăn các bác tài khi pha đèn ban đêm sẽ làm bớt chói mắt người hay xe chạy ngược chiều. Lại nữa, nơi các ngã tư gần mọi bệnh viện đều có treo bảng “Cấm nhấn còi” để giúp các bệnh nhân ở đó được nghỉ ngơi thực sự. Rồi các xe đỗ trên các phố cũng đều phải tuân theo bảng “Ngày chẵn lẻ”.

Tất cả xe taxi – Lúc đó là loại 4 chevaux – đều sơn tuyền một màu xanh hoặc nửa vàng nửa xanh, nhằm giúp khách nhận biết từ xa để gọi mà không nhầm với mọi thứ xe chạy “dù” khác. Của đáng tội, thời ấy còn lạc hậu, tôi còn nhớ mỗi khi ngồi trong xe mà muốn mở cửa bước xuống, thì người ta đã không tìm thấy tay nắm đâu cả mà phải cầm vào một sợi dây thép căng hết bề ngang cánh cửa để kéo thật mạnh. Ấy thế mà những chiếc taxi cũ kỹ ấy vẫn đã làm nên một phần chân dung Sài Gòn thuở ấy. Chúng phải có phần đèn hộp bắt chết trên mui xe, mà về đêm, hộp đó sẽ sáng lên.

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng để dễ phân biệt với các loại xe đò chạy tuyến dài. Ví dụ như khi đó, tại gần khu Bà Quẹo, vẫn có bến xe buýt vàng (Gọi là tô-buýt vàng) mà nếu muốn cầm lái, tức là khi họ rong ruổi mà ngồi sau lưng họ sẽ là sinh mệnh của mấy chục người vô tội, các bác tài phải trải qua bao nhiêu năm mướt mồ hôi mới giật được bằng chuyên dụng. Từ 18 – 20, anh đã có thể học và thi lấy bằng xe 4 chỗ; sau đó vài ba năm, mới lên được một hạng, rồi cày vô-lăng thêm vài năm nữa, mới cho sờ tới xe tải nhẹ dưới 1 tấn, lại phải thêm vài niên, mới đủ sức lên xe tải lớn hơn chứ chưa nói là cho phép lái xe chở khách. Còn muốn lấy dấu “khửa” để lái xe đò thứ thật, tài xế ít nhất cũng đã trên dưới 40, tức là vào độ tuổi hết “máu” mất rồi, chả còn mấy hứng thú gì trong chuyện nhấn ga vượt ẩu.

Chuyện đó cũng rõ ràng hệt như chuyện nơi các ngã tư, mọi loại xe đều phải dừng sau “đường đinh”, là phần kẻ vạch sơn trắng dành cho người đi bộ. Anh cứ thử đỗ sai làn, hay vượt vạch kẻ xem?

Ngày ấy, người ta còn nhớ vẫn có cụm từ “Nhà thuốc gác” để chỉ các pharmacie bán thường trực, khác với “nhà thuốc Tây” chỉ mở cửa vào một số giờ cố định trong ngày và dù là “gác” hay không, trước tiệm nào cũng phải có một hộp đèn vuông có in hình một chữ thập treo lồi hẳn ra ngoài mặt tiền – Chữ thập này không nhất thiết phải nguyên màu sơn đỏ khi đèn tắt, mà có thể là màu xanh lá cây sẫm nữa, nhưng dứt khoát khi thành phố lên đèn, từng hộp đèn mang ký hiệu quy định ấy cũng phải sáng lên, cho khách đi từ xa biết chỗ mà tìm tới. Tôi nhớ, khi ấy gần như tất cả đều là nhà thuốc tư, mà hình như tiệm nào cũng đều có cửa sắt kéo cả. Còn tiệm nào bán thuốc Bắc thì đều có chữ “Đường” ở cuối tên (Vĩnh Sanh Đường, Thiên Hòa Đường, Thông Tán Đường, Tín Nhân Đường) rất đặc trưng kiểu người Hoa như trong các phim quyền cước, với các ô ngăn kéo đựng thuốc đã sấy khô nằm sau quầy, từ sát đất chất lên tới trần nhà, còn trên mặt quầy thì nào là cân, là bàn dao cầu, là các vuông giấy dầu hay giấy bản màu vàng có in sẵn chữ Nho trên đó. Nó cũng đặc trưng như khi người ta đi trên phố, thấy nhà nào có treo trước cửa kính của mình một cái ống đèn hình trụ đứng với hai màu trắng đỏ, mà khi cắm điện vào, thấy các vạch hai màu ấy quay theo hình trôn ốc vĩnh cửu, là biết nhà ấy mở tiệm uốn tóc cho phái đẹp.

Người ta khi rủ nhau mở tiệm vàng là phải có chữ “Kim” đứng đằng trước tên tiệm (Kim Hưng, Kim Xuyến, Kim Hoàng, Kim Thẩm, Kim Ngân, Kim Hoa…) giống như mở tiệm vải là phải có chữ “Tân” (Tân Hòa, Tân Hương, Tân Mỹ…) hoặc các tiệm hủ tíu mì, qua mấy chục năm đánh chết cũng phải có chữ “Ký” ở đuôi (Phát Ký, Huỳnh Ký, Sanh Ký, Nguyên Ký…) trước khi kết bằng hai từ “Mì gia” mà nếu gọi đủ, phải là “X ký mì gia” gì đấy thì nghe mới ra mùi Trú khách.


Những cái tên làm người ta nhớ nôn nao, như Trưng Vương hay Gia Long là giúp nghĩ ngay tới những tà áo dài trắng (và tím) tinh khôi trước mọi cổng trường nữ sinh. Như Võ Trường Toản hay Pétrus Ký là quần xanh áo trắng quanh các cánh cổng thép nan hoa, che từng khuôn viên mấy trường nam sinh luôn rợp bóng phượng đỏ ối cả mùa Hè. Còn Colette hay Saint-Exupéry là phải nhớ ra, các bức tường dài quét vôi màu đỏ không thể lẫn vào đâu được của mấy ngôi trường Tây chắc chắn là dành cho con nhà giàu, mà số thầy cô người Pháp dạy ở đó chiếm đến một nửa. Họ sống ở mấy tòa nhà sơn màu cà-phê sữa thanh nhã, mặt tiền có kẻ ô, cao 4-5 tầng, gọi là “khu chuyên gia” nằm quanh khu sân quần trên đường Bà Huyện Thanh Quan, gần ngã tư Phan Đình Phùng thuở ấy.

Kỷ niệm với bản thân tôi ở trường Saint Ex là thầy Alain Pesqué cao tới 1,85m, rất đẹp trai, dạy Math Moderne ngày xưa, tức là dạy Tân Toán học, khác với Math Cl***ique, là Toán Cổ điển. Còn là thầy Albert Moreau dạy Sử Địa thế giới (Khi đó học sinh học cả Sử Địa Việt Nam, do thầy cô người Việt dạy, và Sử Địa năm châu do thầy người Pháp dạy), ông có biệt tài xuất chúng là không cần dùng compas, mà vẽ Quả đất bằng phấn ngay trên bảng, trăm cái đều tròn xoe như nhau hệt đúc khuôn. Còn là thầy Jean Baud chỉ cao có 1,68m mà tát rất đau, khi học trò quên vở Science Naturelle (Vạn vật học). Còn là cô Stéphanie Meyer dạy Français cũng khẻ tay đau điếng người khi trò không thuộc bài, trong khi phía Văn chương Việt lại có một cô giáo khác. Phải đi qua tất cả những thầy cô ấy tại Saint Exupéry suốt 2 năm 6ème hay 5ème trước khi sang Marie Curie, vào 4ème.

Ký ức không hề mờ nhạt nơi những gì chính mình biết, hoặc chỉ biết loáng thoáng nơi các trường Tây khác, dù chính cống hay chỉ “giả cầy”, như Fraternité (Gọi là trường Bác Ái) trên đường An Dương Vương ngày đó, như Aurore (Rạng Đông) mà tôi đi hết tiểu học trên phố Phan Đình Phùng, như Couvent Des Oiseaux hay Jean Jacques Rousseau. Ký ức càng không mờ nhạt đi khi mình đi qua thời tiểu học vào những năm 1950 – 1960, học chung với hai anh em nhà Tạ Thạch và Tạ Thái, con ông Tạ Ký lúc đó là thầy giáo dạy Toán tại trường Pétrus Ký, mà cũng là một nhà thơ, cùng trong làng cầm bút và là bạn với bố tôi. Nếu để đo về độ khá giả của gia đình bạn bè học cùng trường, tôi sẽ không quên mất Lê Thị Đạt, vẽ rất đẹp mà học cũng rất giỏi, con bà chủ tiệm bánh mì Hà Nội nức tiếng phố Nguyễn Thiện Thuật; hay Trần Thu Trang, con bà chủ tiệm bánh mứt Bảo Hiên Rồng Vàng khét tiếng nơi phố Gia Long – Cửa Bắc.


Những kỷ niệm ấy đến giờ vẫn nồng nàn như tên các rạp hát, cứ nhớ đến Rex là phải nhớ Omar Sharif, Julie Christie hay Géraldine Chaplin trong Docteur Zhivago; nhớ tới Eden là nhớ Đại Sát Tinh với Vương Vũ, Tiêu Dao và Điền Phong; nhớ Việt Long là nhớ Django không cầu nguyện của Franco Nero; hay nhớ Victorama Quốc tế là nhớ Liz Taylor, Richard Burton cùng Rex Harrison trong Cléopâtre. Nhớ từng lần ngồi xe taxi cùng ông bô mình ra khu trung tâm, ăn bò kho ở tiệm bà Phạm Thị Trước hay nhai nhồm nhoàm bánh pâté-chaud ở nhà hàng Xinh Xinh, rồi khi lớn hơn, chạy xe đạp ra phố Lê Lợi, ngồi chơi cùng thằng bạn nghèo để bán giúp nó từng tờ nhạc Tinh Hoa Miền Nam hay từng quyển nhạc in ronéo lem nhem, bày trên cái sạp bằng tre gấp, dựng trước cửa rạp Mini Rex hay trước cửa tiệm bán đồ lưu niệm Vân Anh khét tiếng thuở nào. Nhớ rằng mình vẫn sướng hơn bao bạn bè cùng trường, còn có cha mẹ đầy đủ, được ăn học tử tế, biết chút ít ngoại ngữ dắt lưng, trong khi chúng nó phải từ trường tốt, lui về trường nghèo vì cha mẹ hết tiền. Và chúng nó phải kiếm sống hàng ngày, bán nhạc, bán sách cũ quanh khu Khai Trí, bán thuốc lá trước cửa rạp Casino mà không ít lần, mình đi xem phim lại thấy chúng vất vả đứng đó, chìa tay thu tiền từ từng điếu thuốc thơm bán lẻ.

Nhớ từng ngày ngồi nhìn thành phố lên đèn trong tuổi thanh niên, qua ô kính cửa La Pagode hay Givral, nhất định lắc đầu khi mấy thằng bạn lớn hơn, huých khuỷu tay vào cạnh sườn mình, chìa cho mình từng điếu More màu nâu thon dài. Mà cũng không cưỡng mãi được, tuổi 22 là biết cầm điếu thuốc Bastos Luxe đầu đời.

Nhớ cả tiệm Cảnh Hưng cho thuê sách nằm đối diện trường Rạng Đông mà bà chủ tiệm, và nhất là ông chồng bà ấy, thuộc vanh vách từng tựa sách nằm ở đâu, ngăn kéo nào, tầng kệ nào trong bát ngát cả chục nghìn quyển chất chật cứng cả mặt tiền tiệm. Nhớ những tối thầm đọc Duyên Anh và Kim Dung trong màn, nhớ cả lần ngu ngốc hỏi ông già nghĩa của từ “Đốn mạt” là gì khi đọc trộm quyển Anh hùng đốn mạt của Nguyên Vũ để bị xơi đòn quắn đít. Nhớ cả những bạn văn lẫy lừng của ông già mình ghé nhà chơi, như Nguyên Sa, Vũ Hạnh, Minh Quân, Võ Phiến và cả Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn.

Nhớ cả những cây xăng có vòi bơm bánh xe, gắn đứng giữa hai trụ xăng, phải lấy tay mình quay cây kim hơi về số theo ý muốn rồi từ tốn ngồi xuống, mở nắp vòi, lắp đầu bơm vô để cho nó tự bơm, khi nào nghe kêu cái “keng”, đủ hơi, là máy tự động ngừng. Rồi nhớ cả chiếc Vélo Solex của ông già mình, do đi nhiều quá, bị xóc trên yên cũng quá nhiều qua các ổ gà, ông đã bị sai cột sống.


Nhớ những château d’eau (Tháp nước xây bằng bê-tông) là đặc trưng của Sài Gòn thuở đó mà theo thời gian, chúng biến mất theo các ngôi nhà cao tầng. Nhớ các vòi nước phun, người ta ra đó giặt quần áo hay gánh nước vào từng đôi thùng tôn vuông mà quẩy về nhà. Rồi nhớ cả mùi thuốc phiện mà ông Tư thợ mộc, làm liên gia trưởng hồi ấy, đêm đêm vẫn thầm đốt bên bàn đèn, loang qua cửa sổ nhà bên mà vào nhà mình. Nhớ những mầu áo cũ, cặp kính cũ của vài cô bạn trẻ đầu đời. Nhớ cả làn lông măng sẫm mầu nằm trên mép của Khánh Ly, mặc áo dài, đi chân đất, hát nhạc Trịnh tại sân trường đại học.

Bà Mai Liên đọc chương trình thời sự trên màn hình chiếc TV National 19 inch; bà Túy Hồng với các vở kịch trồi lên từ ngày cũ; bà Kiều Hạnh với chương trình Tuổi xanh; ông Lê Văn Khoa với chương trình Thế giới của em; ba bốn anh em nhà họ Phạm với ban Hợp ca Thăng Long; tòa soạn tờ Bách Khoa của ông Lê Ngộ Châu trên phố Phan Đình Phùng; các bức minh họa kiệt xuất của họa sĩ Phạm Tăng, rồi các bức vẽ chân dung tuyệt tác theo kiểu cubisme của họa sĩ Tạ Tỵ; vở kịch Khói lửa Kinh thành của Lâm Ngữ Đường qua bản dịch của Vi Huyền Đắc. Nhớ cả dáng gầy của nhà văn Nguyễn Ngu Í khi ngồi uống cà-phê với bố tôi để cùng tranh luận không bao giờ có hồi kết về một thứ tiếng Việt kiểu mới do ông ấy sáng tác. Nhớ từng nốt nhạc mà ông bác Phạm Duy đàn lên từ bài Giọt mưa trên lá… Và nhiều nữa. Nhiều nữa như từng chữ quá tuyệt trong bài Back To Soriento mà ông ấy đã chuyển lời. Nhớ cả từng bức ảnh đen trắng của 2 bậc thầy Nguyễn Cao Đàm và Trần Cao Lĩnh.

Nhớ từng chiếc bánh tôm trong tiệm kem Mai Hương trên phố Lê Lợi, từng ly nước mía Viễn Đông nơi góc phố Pasteur, từng trang báo Salut Les Copains với Stone và Éric Charden hay Sylvie Vartan trên đó. Nhớ bài Le seul bébé qui ne pleure pas hay Laisse aller la musique thấm đầy tính tự sự trên từng cuộn băng c***ette Anna quen gọi nôm na cho dễ nhớ. Nhớ cả cái bóng ma đi lang thang trong nghĩa địa mà người ta dàn dựng trên TV với giọng đọc rền rĩ “Tôi chết vì ma túy” nghe rợn cả tóc gáy ngày ấy. Nhớ bộ ria mép của Trần Quang dẫu nó không dày và trứ danh như của Omar Sharif…. Nhớ cái đầu trọc của Yul Brynner trong The Magnificent Seven (Bảy tay súng oai hùng), và nhớ dáng gầy không giống ai của Audrey Hepburn cùng cái cằm nổi tiếng với hố lõm vào của Kirk Douglas… Nhớ mang máng cả những người thực ra chẳng cần nhớ làm gì như Hoàng Đức Nhã, người đã tìm đủ cách để rũ sổ bố tôi từ Nha Báo chí Phủ Tổng thống.

Tại sao tôi đang ở trong những ngày này, mà lại không nhớ gì mấy về chúng cả, để cứ phải ăn mày vào một thời từng quá cũ và xa? Tại sao bây giờ, mình cứ nhớ chỉ về những bức bối thực tại, mà lại phải bấu rất đau vào chuỗi ngày cứ ngỡ đã phôi pha rất lâu?… Tại sao?

Đâm ra lại như nghe loáng thoáng đâu đây, giai điệu buồn bâng khuâng từ bài Kỷ niệm: “Cho tôi lại ngày nào, Trăng lên bằng ngọn cau, Me tôi ngồi khâu áo, Bên cây đèn dầu hao… Cha tôi ngồi xem báo, Phố xá vắng hiu hiu, Trong đêm mùa khô ráo, Tôi nghe tiếng còi tàu…”. Để thấy mình hệt như một con ốc bò thầm trên đường trăng.


Trịnh Anh Khôi
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 03/Sep/2022 lúc 1:09pm
CÂU HÁT ĐƯA EM

Tuyển%20tập%20các%20bài%20Hát%20ru%20con%20Nam%20bộ,%20Dân%20ca%20nam%20bộ%20cho%20con%20dễ%20ngủ%202022

Ngoài Bắc gọi là hát ru: người mẹ hát để ru cho con ngủ. Trong Nam kêu là hát đưa em: hai chị em cùng nằm trên một chiếc võng, con chị đưa võng và hát dỗ cho em ngủ.

Sau đây là một vài câu hát đưa em thường nghe ở làng An Nhơn từ sáu, bảy mươi năm về trước:

      Chiều chiều vịt lội, cò bay
Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng.

      Vô rừng bứt một sợi mây
Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn.

      Đi buôn không lỗ thì lời
Đi ra cho thấy mặt trời, mặt trăng.

      Má ơi! Con vịt chết chìm
Con thò tay vớt nó, cá lìm kìm cắn con!

      Má ơi! Đừng đánh con đau
Để con bắt ốc, hái rau má nhờ.

      Má ơi! Đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào má coi.

      Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
      Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha chú mèo!

      Con mèo, con mẽo, con meo
Ai dạy mầy trèo, mầy chẳng dạy tao?

      Má mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

      Ví dầu bầu bí nấu canh
Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

      Ba tiền một khứa cá buôi
Cũng mua cho đặng mà nuôi mẹ già.

      Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Trông về quê mẹ chín chiều ruột đau.

      Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai.

Áo vá vai, vợ ai không biết
Áo vá quàn mới thiệt vợ anh.

      Trồng trầu thì phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.

      Trồng trầu thả lộn dây tiêu
Con theo hát bội, mẹ liều con hư.

      Chuột kêu chút chít trong hang
Anh đi cho khéo, đụng giường mẹ hay
      Mẹ hay mẹ hỏi: Đi đâu?
Nói: Đi hốt muối cho mèo ăn cơm! 

      Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi.
      Khó đi, mẹ dắt con đi
Con thi trường học, mẹ thi trường đời.

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc?
Dốc nào dốc bằng dốc Nam Vang?
Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ
Còn chút mẹ già, biết bỏ cho ai?

      Đố anh con rít mấy chưn?
Cầu Ô mấy nhịp? Chợ Dinh mấy người?

      Chợ Dinh bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim.

      Gió đưa, gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.
                      (về giồng ăn dưa).

      Một mình lo bảy, lo ba
Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.

      Còn duyên, kẻ đón người đưa
Hết duyên, đi sớm về trưa một mình.

      Ví dầu nhà dột, cột xiêu
Muốn đi cưới vợ, sợ nhiều miệng ăn!

      Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ.

      Con thơ tay ẵm, tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông.

      Con mèo, con chuột có lông
Ố́ng tre có mắt, nồi đồng có quai

Bậu nói với qua bậu không bẻ mận, hái đào
Chớ mận đâu mà bậu bọc, đào nào bậu cầm tay?

      Đến đây dầu đói giả no
Dầu khôn giả dại đặng dò ý em.

Cúc mọc dưới sông kêu bằng cúc thủy
Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa
      Anh viết thơ thăm hết nội nhà
Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em.

      Em tôi khát sữa bú tay
Ai cho bú thép ngàn ngày nhớ ơn.

      Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây.

      Má ơi, đừng gả con xa
Chim kêu, vượn hú, biết nhà má đâu?

      Trắng da vì bởi phấn giồi
Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa.

       Thôi thôi buông áo em ra
Để em đi bán, kẻo hoa em tàn.

      Hoa tàn vì bởi mẹ cha
Hoa búp không bán, để tàn ai mua.

Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn
Chớ sông giang hà chỗ cạn chỗ sâu.

      Thiếp than phận thiếp còn thơ
Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình.

      Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Con tằm đỏ chín, con dê đỏ mùi.

      Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Đợi mẹ đi về có bánh em ăn.

      Cu kêu ba tiếng cu kêu
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.


Tiền Vĩnh Lạc



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 03/Sep/2022 lúc 1:13pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 09/Sep/2022 lúc 2:02pm

12 con giáp

12%20con%20giáp%20là%20gì?%20Thứ%20tự,%20tên%20và%20tuổi%2012%20con%20giáp%20-%20META.vn

        Tuổi Tý, con chuột lông xù
Cắn gà, cắn vịt, chạy ù xuống hang
        Tuổi Sửu, con trâu kình càng
Cày chưa đúng buổi lại mang cày về
        Tuổi Dần, con cọp quá ghê
Bắt người ăn thịt, tha về non cao
        Tuổi Mẹo là con mèo ngao
Hay quấu, hay quào, ăn vụng thành tinh
        Tuổi Thìn, rồng ở Thiên đình
Làm mưa, làm gió, ẩn mình trên mây
        Tuổi Tỵ, rắn ở bộng cây
Nằm khoanh trong ổ, có hay điều gì.
        Tuổi Ngọ, ngựa ô đen sì
Ỷ mình chạy giỏi ngại gì đường xa.
        Tuổi Mùi là con dê chà
Giống nai, có gạc, râu ria bùm xùm.
        Tuổi Thân, con khỉ ở lùm
Chuyền qua, chuyền lại, té ùm xuống sông.
        Tuổi Dậu, con gà vàng lông
Có mỏ, có mồng, lại gáy ó o.
        Tuổi Tuất là con chó cò
Nằm khoanh bên lò, mặt mũi lọ lem.
        Tuổi Hợi, con heo ăn hèm
Đóng chuồng mà nhốt, chẳng thèm thả ra!

Tiền Vĩnh Lạc

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 13/Sep/2022 lúc 3:20pm

Sài Gòn Xưa Và Nay

La Source (French)

BLOG ĐI DU LỊCH CỦA MỘT NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở CHÂU Á
- Les Voyages de Camille


Trước/Sau: Sài Gòn Trong Tranh Từ 1900 Đến 2020

Ngày 13 Tháng 8 Năm 2020
Khi tôi xem các bài báo trên trang Saigoneer, tôi nảy ra ý tưởng tái tạo những bức ảnh giống hệt hồi đó. Tôi đã dành hàng giờ để chọn những bức ảnh hấp dẫn tôi, tìm những nơi chúng đã được chụp; Sau đó, tôi lưu ảnh vào điện thoại và các địa điểm trên bản đồ, trước khi đi dạo ở Sài Gòn để tìm kiếm những góc chụp giống nhau hoặc cùng bầu không khí.

Giữa những truyền thống được bảo tồn và những biến động của đô thị, bài tập này cho phép tôi khám phá một khía cạnh khác của thành phố và kết nối lại với cuộc sống hàng ngày của tôi, mang đến cho nó một không gian hoàn toàn mới.

Tôi phải nói rằng tôi khá hài lòng với kết quả! Thật tò mò về việc các tòa nhà và cách sống vẫn còn nguyên vẹn như thế nào sau ngần ấy năm. Tôi hy vọng bạn tận hưởng cuộc hành trình xuyên thời gian này nhiều như tôi thích làm nó. Chúc bạn thăm khám tốt!

Đến năm 1904, toàn bộ Sài Gòn chỉ giới hạn trong khu vực mà chúng ta biết ngày nay là Quận 1. Ngoài khu vực trung tâm thành phố được quy hoạch cẩn thận và khu phố thương mại sầm uất Chợ Lớn (Chinatown), các khu vực ngoại thành của thành phố đã mọc um tùm với những đầm lầy và những thảm thực vật trải rộng.

Trong bộ sưu tập ảnh đen trắng này mà tôi không thể tìm thấy tên của các nhiếp ảnh gia, Sài Gòn vào đầu thế kỷ hiện ra rất hoang  và hoang sơ bởi quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, chính vào thời điểm này, các kế hoạch đầu tiên của chính quyền Pháp nhằm chế ngự thiên nhiên hoang dã ở miền Nam Việt Nam, chẳng hạn như tuyến đường sắt xuyên Đông Dương nối Hà Nội với Sài Gòn.

Các sông Sài Gòn đã không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian 116 năm: vẫn còn những con thuyền tam bản , một loại thuyền sử dụng cho cá hoặc là một nhà nổi. Mặt khác, các ngân hàng đã phát triển rất nhiều và tiếp tục được khai thác, có thể thấy dưới đây với việc xây dựng ba tòa tháp mới ở phía trước Quận 1.

Tôi không tìm được địa danh của bức ảnh gốc, nhưng tôi không thể không vẽ song song với nhiều lò gạch có thể tìm thấy ở đồng bằng sông Cửu Long , phía nam Sài Gòn , đặc biệt là ở tỉnh Bến Tre. Những chiếc lò gạch này dùng để nướng ... gạch! Những viên gạch được tạo hình từ đất sét khai thác bên bờ sông, trước khi được tỉ mỉ xếp ra từng viên một bằng tay trong những chiếc lò khổng lồ này. Đôi khi phải mất một tuần để làm đầy một lò nướng, những viên gạch có thể chạm tới mái nhà, và sức chứa của chúng có thể lên đến 19 tấn! Việc nấu nướng kéo dài khoảng 25-30 ngày và ngọn lửa được duy trì nhờ vào vỏ của hạt gạo, ít tốn kém hơn nhiều so với củi hoặc than. Sau khi nung, tro được dùng để làm phân bón và những viên gạch nung kỹ được để nguội trước khi đưa ra khỏi lò nung. Rõ ràng là phương pháp nấu ăn truyền thống này vẫn còn nguyên vẹn.

Vào thời điểm đó, Việt Nam đã bị chìm sâu trong bốn thập kỷ dưới sự thống trị của thực dân Pháp, những người đã chia đất nước như chúng ta biết ngày nay thành ba bảo hộ: Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam), An Nam (miền Trung Việt Nam) và Nam Kỳ ( miền nam Việt Nam). Vào đầu những năm 1920, trung tâm Sài Gòn là một khu phố hoang sơ với những con đường sạch sẽ và những cửa hiệu lộng lẫy. Bất chấp sự hào nhoáng và hào nhoáng của Sài Gòn như những bức ảnh này thể hiện, sự giàu có và tiện nghi chỉ được người Pháp và một bộ phận nhỏ người Việt Nam tham gia vào chính quyền thuộc địa đánh giá cao.

Loạt ảnh đáng kinh ngạc này được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Pháp Ludovic Crespin vào đầu những năm 1920. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc vô giá về Đông Dương thuộc Pháp vào thời điểm đó, và thật buồn cười khi thấy rằng các tòa nhà hầu như không thay đổi. 'một ngón tay cái.

Các Tòa thị chính hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân thành phố ************ là một phong cách Beaux-Arts cung điện, được xây dựng bởi kiến trúc sư người Pháp Paul Gardès từ 1902 đến 1908. Nó được ngày nay được chiếu sáng bởi các dịch vụ của ánh sáng của thành phố Lyon. Rất tiếc là không mở cửa cho khách tham quan, nhưng thật khó để không đi ngang qua khi đến thăm thành phố, vì nó nhìn ra đại lộ Nguyễn Huệ rộng lớn.

Tòa nhà của Tổng Bí thư Nam Kỳ trước đây ở góc đường Đồng Khởi và Lý Tự Trọng cũng vẫn còn nguyên vẹn.

Các Nhà thờ Notre-Dame de Sài Gòn được xây dựng bởi người Pháp 1877-1880 và đánh dấu sự khởi đầu của đường Đồng Khởi, mà đi xuống sông. Nó hiện đang được tu sửa và sẽ mở cửa trở lại cho những người thờ phượng và du khách vào năm 2021.

Bức ảnh này được chụp tại ngã tư đường Catinat, nay là Đồng Khởi và Mạc Thị Bưởi. Trên con phố nổi tiếng này, nhiều thương hiệu đề cập đến di sản thuộc địa Pháp , chẳng hạn như nhà hàng Le Bourgeois (nº132), khách sạn Catina Sài Gòn (nº109), hoặc chuỗi cà phê Katinat tại nº91 (tòa nhà đã đóng cửa với Ngay bên dưới).

Biến động tại ngã tư đường Đồng Khởi (đường Catinat cũ) và Lý Tự Trọng (đường Lagrandière cũ). Khu vực này hiện đã tập trung nhiều cửa hàng, nhà hàng, quán cà phê ... và là một trong những ngã tư sầm uất nhất của trung tâm thành phố. Để hiểu rõ hơn về điều này, hãy trải nghiệm dành một chút thời gian trên sân thượng của Cộng Cà Phê nằm ở tầng 1 với tầm nhìn ra lối đi, nó gần như tuyệt đẹp!

Một góc nhìn khác của Tòa thị chính, của một nhiếp ảnh gia giấu tên, vào năm 1938-39. Kể từ đó, một bức tượng ************ khổng lồ nằm cạnh một em nhỏ trong công viên, như để quan sát thành phố.

Jack Birns là một nhiếp ảnh gia người Mỹ, người đã chụp ảnh ở một số nước châu Á vào năm 1947-48 thông qua hợp đồng với LIFE . Loạt ảnh đen trắng này ghi lại sự xâm nhập của thực dân Pháp vào đời sống truyền thống Việt Nam, tạo ra sự phân đôi thị giác thú vị.

Các đài phun nước cũ trên đường Nguyễn Huệ Avenue đã được di chuyển hơi xa Town Hall, và hiện đại hóa rõ ràng.

Bên phải, đại lộ Lê Lợi cũ với các băng rôn thông báo chiếu phim bằng tiếng Pháp; ở bên trái, cùng một đại lộ, không có chút quyến rũ nào và đang được xây dựng hoàn chỉnh trong nhiều tháng ...

Dành thời gian cho một ly cà phê vẫn là một phần của cuộc sống hàng ngày ...

Bộ ảnh đầu tiên này được thực hiện bởi Thomas W. Johnson, một trợ lý tuyên úy làm việc tại Bệnh viện dã chiến cấp 3 Hoa Kỳ ở Sài Gòn vào những năm 1960.

Các năm mới Việt Nam, Tết , là ngày lễ nổi tiếng nhất tại Việt Nam. Hàng năm vào tháng Giêng đến tháng Hai (các ngày thay đổi theo âm lịch), người Việt cắm hoa trang trí nhà cửa và kinh doanh. Tại Sài Gòn, dọc theo các con kênh của quận 14 và 15 ở phía nam thành phố, người ta có thể ngạc nhiên trước những điểm trưng bày hoa và cây ăn trái được đưa lên bằng thuyền từ đồng bằng sông Cửu Long. đất đai màu mỡ.

Có rất nhiều điều không thay đổi! Bạn có biết rằng giấc ngủ trưa là thiêng liêng ở Việt Nam? Sau bữa trưa, mọi người đều di chuyển chậm, nhân viên trải chiếu dưới bàn làm việc và tài xế taxi cũng làm như vậy, với phương tiện trong tầm tay! Chiếc mũ lưỡi trai thay thế cho chiếc salacot (mũ bảo hiểm thời thuộc địa) và chiếc mô tô thay thế chiếc xe kéo, nhưng có vẻ như đôi giày vẫn vô dụng!

Khách sạn đầu tiên ở Việt Nam, khách sạn Continental ở Saïgon được xây dựng vào năm 1878-1880 bởi Pierre Cazeau, một nhà công nghiệp người Pháp. Khách sạn sau đó sẽ được tân trang lại vào năm 1892, được bán đi, đổi tên nhiều lần trong Chiến tranh Việt Nam, được trùng tu hoàn toàn từ năm 1988 đến năm 1989 và cuối cùng mở cửa trở lại vào năm 1989 với tên gọi Khách sạn Continental.. The Continental nói riêng đã giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và chính trị của Sài Gòn thời Pháp thuộc. Trong chiến tranh Việt Nam, nó có biệt danh là Đài phát thanh Catinat , vì đây là điểm hẹn của các phóng viên, nhà báo, chính trị gia và doanh nhân nói về chính trị, tin tức kinh tế và các vấn đề thời sự. .

Nếu mặt tiền của khách sạn không thay đổi, chúng ta có thể ghi nhận những công trình mới bao quanh nó, chẳng hạn như trung tâm mua sắm Parkson Saigon Tourist Plaza và Vincom Center ở phía sau.

Công việc vất vả của những người quét rác trên đường phố Sài Gòn dường như sẽ chỉ còn là chuyện của phụ nữ vào năm 2020 ...

Một món ăn vặt hàng ngày khác trên đường phố Sài Gòn là những gánh hàng rong .

Bên trái, bộ ba phụ nữ trong ngày Chủ nhật đẹp nhất đang đi bộ trên vỉa hè đường Lê Lợi trong trang phục áo dài (trang phục truyền thống của Việt Nam), đeo kính râm và kiểu tóc hợp thời trang. Ở bên phải, ba cô gái trẻ trong trang phục hiện đại đeo mặt nạ (Covid yêu cầu). Mặc áo dài bây giờ chỉ dành cho các dịp lễ, tết, thật tiếc! Chúng ta có đồng ý rằng phụ nữ có nhiều tầng lớp hơn vào những năm 1960 không?

Ảnh của George Muccianti với khung cảnh của Bưu điện Trung tâm Sài Gòn , được xây dựng từ năm 1886 đến năm 1891 bởi Bưu điện Pháp, vào thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp. Khung kim loại tráng lệ của bưu điện chính ở trung tâm thành phố được thiết kế bởi Gustave Eiffel. 

Loạt phim sau đây do quân nhân Hoa Kỳ Bruce Baumler thực hiện vào năm 1965.

Hình ảnh ngôi đền Hindu tráng lệ thờ nữ thần Mariamman trên đường Trương Định. Được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi các thương gia Tamil từ quầy Pondicherry của Pháp đến định cư tại Sài Gòn. Hầu hết họ phải chạy trốn khỏi Việt Nam trong chiến tranh và sự thất thủ của Sài Gòn. Được chính quyền đóng cửa vào năm 1975 để làm kho, sau đó được trả lại để thờ vào năm 1993 nhờ các cuộc đàm phán ngoại giao giữa Ấn Độ và Việt Nam. Lưu ý rằng cấu trúc phía trên của ngôi đền đã được thêm vào từ năm 1965.

Bức ảnh này được chụp ở đường Phan Bội Châu gần chợ Bến Thành nổi tiếng . Được xây dựng từ thời Pháp thuộc, nó đã thường xuyên được cải tạo, nhưng kiến trúc tổng thể vẫn giữ nguyên . Ngày nay nó là chợ du lịch nhất trong thành phố và có rất nhiều đồ lưu niệm để thương lượng, các quầy bán trái cây, rau, cá và thịt, nhưng cũng có các quầy hàng nhỏ để nếm thử nước trái cây tươi, một bát ph hoặc hải sản.

Một góc nhìn khác từ Nhà hát lớn Sài Gòn phía khách sạn Continental bên phải và cửa hàng bách hóa Eden trước đây ở bên trái, nay đang được cải tạo mang thương hiệu Vincom.

Bức ảnh của một nhiếp ảnh gia giấu tên về khách sạn lịch sử 5 * , được thiết kế bởi một doanh nhân Trung Quốc vào năm 1925, theo phong cách của các khách sạn ở Côte d'Azur. Giống như khách sạn Continental, nó sẽ đổi tên nhiều lần nhằm xóa ký ức thuộc địa.

Những bức ảnh này được chụp vào năm 1966 bởi quân nhân Mỹ Rich Krebs, người đã vô tình lưu giữ ký ức tập thể của một thế hệ cư dân Sài Gòn trong chuyến thăm của ông.

Công viên Chi Lăng trên đường Đồng Khởi giờ đã trở thành một khán đài nhỏ xíu trước Trung tâm thương mại Vincom Center hoành tráng. Tôi đặc biệt tự hào vì đã có thể tái tạo bố cục của bức ảnh gốc 🙂Đối với giai thoại nhỏ, tôi dừng lại và tự nhủ "thật may mắn, có một chiếc xe đạp!" Nó sẽ thay thế cho hai chiếc xe tay ga thời bấy giờ ”và trong lúc chuẩn bị chụp ảnh, một tài xế taxi Grab đã lao qua mũi tôi với tốc độ tối đa và tôi đã phản xạ đúng!

Tại ngã tư Lê Lợi và Nguyễn Huệ trước Tòa thị chính: Đường Lê Lợi hiện đang được cải tạo, điều này lý giải cho việc giao thông hầu như không tồn tại so với thời trước.

Nhiếp ảnh gia Việt Nam Nguyễn Thành Tài từng làm việc cho hãng thông tấn Hoa Kỳ United Press International (UPI). Những bức ảnh đen trắng của ông là một sự thay đổi so với các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông trong Chiến tranh chống Mỹ. Vào năm 1967, một người phụ nữ mời những người qua đường món bún thịt nướng cho một bữa trưa ngồi nghỉ . Bên phải, một người phụ nữ trong tư thế tương tự đang bán đồ uống và kem.

Sài Gòn phát triển đô thị không phải đều tốt. Trái ngược với các dự án xây dựng mới đang được triển khai, thành phố dường như không bao giờ trở thành một dự án hoàn thiện và tiếp tục bỏ lại những cư dân nghèo nhất. Trong bức ảnh do Dave Teer chụp giữa năm 1967 và 1969, chúng ta nhận ra những ngôi nhà sàn đáng tiếc vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay trên sông Sài Gòn. Đây là những ngôi nhà không đạt tiêu chuẩn, những khu ổ chuột thực sự, được làm từ gỗ hoặc tre, với mái lợp bằng tấm kim loại đơn giản.

Nhiếp ảnh gia Brian Wickham đã đến Sài Gòn vào năm 1968 và 1969, cho ra đời hơn một trăm bức ảnh về các địa điểm khác nhau trong thành phố, cả nổi tiếng và xã hội. Điều này thể hiện việc băng qua đường Nguyễn Du của một nhóm học sinh. Tôi không thể tìm thấy vị trí chính xác nơi bức ảnh được chụp, vì vậy tôi chỉ phát hiện ra cùng một bảng quảng cáo trên đường và chờ ai đó băng qua!

Ảnh chụp khác về các mái nhà ở Quận 1 này so sánh sự đa dạng về kiến ​​trúc của Sài Gòn : nhà ống, nhà nhỏ cạnh nhau lợp ngói hoặc thiếc, những tòa nhà chọc trời hiện đại...

Quân nhân Hoa Kỳ Darryl Henley đóng quân tại Việt Nam vào cuối những năm 1960, và đã chụp bức ảnh Đại lộ Nguyễn Huệ này. Tòa nhà trung tâm đã trở thành một biểu tượng của thành phố, được đổi tên thành The Cafe Apartments tại 42 Nguyễn Huệ. Mỗi tầng là nơi tập trung hàng loạt cửa hàng, quán cà phê, nhà hàng ... rất sành điệu và được giới trẻ Việt thường xuyên lui tới.

Trong một vài bức ảnh chụp vào những năm 1969-70, cựu binh quân đội Hoa Kỳ D. Hoag đã chụp được một Sài Gòn hỗn loạn và mát mẻ .

Tôi không biết tòa nhà này được sử dụng để làm gì ở góc đường Pasteur và Nguyễn Du, nhưng ngày nay nó là một trường mẫu giáo đầy màu sắc , ở số 178/1 đường Pasteur.

Các chợ đường phố bán đồ lưu niệm trên đại lộ Nguyễn Huệ đã nhường chỗ cho các cửa hàng thời trang cao cấp như Chanel và Cartier.

Loạt ảnh sau đây là một bộ sưu tập lưu trữ hiếm hoi được tìm thấy một lần nữa trên trang Saigoneer, một tập hợp các kỷ vật cá nhân của khách du lịch, binh sĩ nước ngoài và thậm chí cả phóng viên ảnh.

Nhiếp ảnh gia giấu tên này cho chúng tôi xem một khu chợ tạm trên vỉa hè đường Lê Lợi . Khu này đang được sửa chữa lớn nên hầu như không còn người bán hàng rong nào nữa, chỉ còn lại một số quầy hàng.

Một cảnh quay khác về con đường Đồng Khởi nổi tiếng  năm 1979.

Ảnh nhà sách khác này được chụp vào năm 1979 ở phố Thị Như 1979. Chưa tìm được không khí ở cùng một con phố, tôi lại có cảm hứng với phố sách (Nguyễn Văn Bình), nằm sát Bưu điện Trung tâm. Con phố đông đúc này có các hiệu sách nhỏ và quán cà phê dễ chịu, nơi bạn có thể đọc sách trong yên bình, một thiên đường yên bình giữa lòng thành phố.

Khi đến Sài Gòn năm 1990, Catherine Karnow đã được cha cô, nhà sử học Stanley Karnow, giới thiệu về những huyền thoại địa phương như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong 25 năm qua, cô tiếp tục hành nghề nhiếp ảnh gia tại Việt Nam với những kết quả ngoạn mục. Instagram của cô ấy: @catherinekarnow

Bức ảnh này cho thấy sự bảo tồn của một số tòa nhà từ thời Pháp thuộc: ngôi nhà màu vàng xinh xắn ở số 93-95-97 đường Đồng Khởi này hiện là một nhà hàng ăn ngon phục vụ ẩm thực Việt Nam, Nhà hàng Vietnam House.

Một góc nhìn khác về khách sạn Continental. Quán cà phê Givral nổi tiếng trước đây ở góc phố không còn tồn tại ngày nay...

Những bức ảnh này được nhiếp ảnh gia người Đức Hans Peter Grumpe chụp trong những chuyến thăm Sài Gòn từ năm 1991 đến năm 1993. Mặc dù thành phố thiếu nét quyến rũ trong những năm này, nhưng trung tâm của cuộc sống hàng ngày dường như không có nhiều thay đổi: những người bán hàng rong với những món hàng hiệu, những người làm tóc du lịch, những nhóm bạn trò chuyện, những gánh hàng rong ... tất cả những gì chúng ta vẫn thấy hàng ngày trên đường phố Sài Gòn, và thực tế là tất cả sự quyến rũ của nó!

Bằng chứng là sự so sánh này chứng tỏ rằng việc ăn một bát phở ngoài đường vẫn là một điều bất hủ trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam! Sự khác biệt duy nhất là những chiếc ghế đẩu bằng nhựa màu xanh và đỏ đã thay thế cho những chiếc ghế gỗ.

Cũng giống như cắt tóc trên đường! Trong khi phụ nữ thích đến các tiệm làm tóc thì nam giới vẫn tiếp tục sử dụng những thợ cắt tóc lưu động . Được rồi, tôi phải thành thật với bạn… Tôi chụp bức ảnh này ở Hà Nội năm ngoái, bức tường là bức tường bao quanh Văn Miếu.

Như một phần thưởng, một loạt ảnh mà tôi không tìm thấy ngày tháng hay tác giả, nhưng vì chúng đều là những tòa nhà hàng đầu của thành phố, tôi tự nhủ rằng tôi vẫn sẽ đưa chúng vào trong này (dài ) danh sách.

Mặt tiền tráng lệ màu vàng của Bưu điện Trung tâm Sài Gòn , được xây dựng từ năm 1886 đến năm 1891,  dường như vẫn được bảo tồn.

Lấy cảm hứng từ kiến ​​trúc của Petit Palais ở Paris, Nhà hát Thành phố Sài Gòn được xây dựng vào năm 1900. Theo mô hình Gothic, mặt tiền của tòa nhà được trang trí bằng các dòng chữ và phù điêu (giống như Tòa thị chính). Trong chiến tranh Việt Nam, nhà hát này là trụ sở của quốc hội Việt Nam Cộng hòa. Rất tiếc, Nhà hát Opera không mở cửa cho khách tham quan, nhưng bạn có thể tham dự buổi biểu diễn xiếc Việt Nam của đoàn Lune Production vào mỗi buổi tối. Giá cả khá cao (từ 700.000 VND hoặc 26 €), nhưng chất lượng của các chương trình văn hóa được cung cấp là đáng kinh ngạc.

Một góc nhìn khác về khách sạn Majestic hùng vĩ.

Cảm ơn bạn đã đi xa đến thế này, tôi thực sự hy vọng bạn thích cuộc hành trình xuyên thời gian này!
 

 

 

La Source (French)

______________
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 14/Sep/2022 lúc 8:06am
Vài%20ảnh%20Sài%20Gòn%20xưa%20gợi%20nhớ%20một%20khung%20trời%20kỷ%20niệm%20-%20Hình%20ảnh%20Việt%20Nam%20xưa%20%20&%20nay


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 14/Sep/2022 lúc 8:14am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Sep/2022 lúc 12:14pm
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam

1 phút đọc
QUẢNG CÁO
0
Partages

Nhìn lại khoảng thời gian những năm 60 của thế kỉ trước, hình ảnh những con người Việt nghèo khó ở miền Nam Việt Nam. Cùng với đó là những chiếc xe đạp, xe hơi chở khách, xe đò, xe lam, những bức ảnh cho chúng ta thấy các phương tiện giao thông ở Việt Nam hồi những năm 1960 rất đa dạng. Nhưng đó là những con người sống thật nhất, không có cảnh chen lấn xô đẩy như cuộc sống hiện tại.

Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 22108
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Sep/2022 lúc 12:16pm
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam


Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Sống%20lại%20những%20năm%2060%20với%20chùm%20ảnh%20giao%20thông%20ở%20VN
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 11 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.166 seconds.