Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Sức Khỏe - Y Tế
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Khoa Học - Kỷ Thuật :Sức Khỏe - Y Tế  
Message Icon Chủ đề: CÁC THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 108
Người gởi Nội dung
Nhom12yeuthuong
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 13/Sep/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 5956
Quote Nhom12yeuthuong Replybullet Gởi ngày: 05/Nov/2018 lúc 8:46am

Tại Sao Phải Chia Ra Các Nhóm Máu Và Câu Chuyện Lịch Sử Đầy Bi Kịch

Tìm ra nhóm máu là một phát hiện vĩ đại của y học, thứ đã cứu sống hàng triệu người mỗi năm. 

Chúng ta sống tới thời điểm ai cũng phải biết đến 4 nhóm máu cơ bản gồm có A, B, O và AB. 


Nhưng do đâu mà ta phải phân biệt từng nhóm máu như vậy? Tại sao không phân theo loài như máu người, máu mèo, máu khỉ mà phải phân theo tên cho phức tạp? Xin thưa, đó là thành tựu mang dấu ấn khoa học của hàng thế kỉ.

Từ những thất bại trong lịch sử
Hãy trở về với thời Phục Hưng, khi mà con người có thể chết vì xuất huyết và truyền máu vẫn còn được coi là một cái gì đó quá điên rồ. Vào thập niên 1600, một bác sĩ người Pháp đã tiêm máu bê non vào cơ thể của một người điên. Hậu quả thì thật bi thảm: người đàn ông bắt đầu đổ mồ hôi, nôn mửa, tiểu ra nước màu đen, rồi qua 
đời chóng vánh sau đợt truyền máu kế tiếp.

Thí nghiệm đã gây tiếng xấu cho việc truyền máu trong suốt 150 năm. Đến tận năm 1817, bác sĩ người Anh - James Blundell không chịu đựng được việc bệnh nhân của mình xuất huyết đến chết trong kì sinh nở, ông đã quyết định sử dụng kĩ thuật truyền máu, ít ra thì bệnh nhân vẫn có cơ hội được sống thay vì ngồi yên nhìn họ ra đi.

Hình vẽ mô tả thí nghiệm của Blundell

Blundell cho rằng máu người mới truyền được cho người và quyết định dùng 400ml máu từ người hiến tặng truyền cho bệnh nhân qua hệ thống ống và kim tiêm. Bệnh nhân tuy cảm thấy khá hơn, nhưng vẫn tử vong sau 2 ngày. Ông tiếp tục tiến hành 10 thí nghiệm tương tự trong những năm tiếp theo, nhưng chỉ có 4 người sống sót.
Blundell đã đúng về việc máu người mới truyền được cho người, nhưng vẫn chưa đủ. Một người đơn giản chỉ có thể nhận máu từ một số người nhất định mà thôi.

Đến thành tựu Y học mang tính đột phá
Năm 1930, một bác sĩ người Áo Karl Landsteiner đã đạt giải Nobel Y học cho công trình tìm ra nhóm máu. Ông để ý rằng khi truyền máu, hồng cầu của hỗn hợp bắt đầu có hiện tượng ngưng kết, không chỉ ở máu người bệnh, mà khi trộn máu của người lành với nhau vẫn có trường hợp xảy ra hiện tượng đó.

Chân dung người tìm ra nhóm máu - Karl Landsteiner

Ông bắt đầu thu thập mẫu máu từ mọi người trong phòng thí nghiệm, sau đó tách mỗi mẫu ra 2 phần: hồng cầu và huyết thanh. Ông tiến hành trộn hồng cầu này với huyết thanh kia để quan sát hiện tượng ngưng kết. 

Sau nhiều lần như vậy, ông đã chia các mẫu ra thành 3 nhóm: A, B và C (C chính là nhóm máu O bây giờ) và khám phá ra được một số quy luật nhất định: hồng cầu nhóm A khi trộn với huyết thanh nhóm A sẽ không bị ngưng kết, nhưng khi trộn với huyết thanh nhóm B, các tế bào sẽ bị vón cục lại.


Hiện tượng này được khoa học hiện đại giải thích rằng, mỗi hồng cầu chứa kháng nguyên đặc biệt của nó. Ví dụ hồng cầu A có chứa kháng nguyên A, hồng cầu B có kháng nguyên B. Hồng cầu O không có kháng nguyên và hồng cầu AB có cả kháng nguyên A và B.

Nói nôm na, kháng nguyên khi lọt vào cơ thể khác sẽ kích thích hệ miễn dịch tạo ra kháng thể, điều này giải thích vì sao khi truyền máu không đúng loại, cơ thể sẽ tạo ra những phản ứng chống lại kháng nguyên (chính là nhóm máu được truyền vào), khiến cho bệnh nhân tử vong. 

Máu A thì chứa kháng thể Anti B, máu B thì chứa kháng thể Anti A. Đặc biệt máu O có chứa cả kháng thể Anti A và cả Anti B, trong khi máu AB không chứa kháng thể.
Khi truyền máu, nếu như kháng nguyên A gặp kháng thể Anti A (ví dụ như máu A truyền cho máu B chẳng hạn) sẽ gây hiện tượng ngưng kết và bệnh nhân sẽ tử vong.

Hiện tượng ngưng kết xảy ra khi kháng nguyên A gặp kháng thể Anti A

Biết được nhóm máu để làm gì?
Nghiên cứu của Landsteiner đã mở ra cánh cửa mới cho y học về sự truyền máu an toàn, cứu sống hàng triệu người trên thế giới. Các nhà khoa học đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra một sơ đồ truyền máu cơ bản như sau:

Ngoài ra, y học hiện đại cũng đã và đang nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhóm máu với một số loại bệnh tật nhất định.
Kevin Kain từ trường ĐH Toronto và các đồng nghiệp đã nghiên cứu xem vì sao người thuộc nhóm máu O thường ít bị sốt rét hơn những người khác. Ông đã chỉ ra rằng tế bào miễn dịch dễ nhận ra hồng cầu bị bệnh nếu như đó là hồng cầu O.

Ngoài ra, chúng ta cũng giải thích được vì sao mà nhóm máu tồn tại được cả triệu năm. Mầm bệnh khi đã chọn được các nhóm máu phổ biến sẽ phát triển tốt nhờ lượng vật chủ dồi dào, nhưng dần dần sẽ tiêu diệt luôn vật chủ. Trong khi đó các nhóm máu hiếm hơn nhờ có cơ chế bảo vệ nên dần trở nên ưu thế và tồn tại qua thời gian.

Tóm lại, việc tìm ra nhóm máu là một phát hiện mang tính đột phá trong nền y học thế giới. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế truyền máu, và từ đó mở ra những hướng nghiên cứu mới, tất cả đều vì mục tiêu nâng cao sức khỏe của con người.


st.


Chỉnh sửa lại bởi Nhom12yeuthuong - 05/Nov/2018 lúc 8:47am
Có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về...
IP IP Logged
Nhom12yeuthuong
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 13/Sep/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 5956
Quote Nhom12yeuthuong Replybullet Gởi ngày: 07/Nov/2018 lúc 11:54am
Có rất nhiều nơi để đi, nhưng chỉ có một nơi duy nhất để quay về...
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 12527
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 09/Nov/2018 lúc 3:40pm

Phòng ngừa tiểu đường như thế nào?   <<<<<


Image%20result%20for%20Phòng%20ngừa%20tiểu%20đường%20như%20thế%20nào?


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 09/Nov/2018 lúc 3:41pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 12527
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 12/Nov/2018 lúc 8:12am

Cột Sống Có 26 Đốt Xương Và 26 Sự Thật Bạn Cần Biết


Trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng người cao tuổi, mà rất nhiều người trẻ cũng mắc những chứng bệnh đau cột sống. Nguyên nhân dẫn đến chứng bệnh này là rất nhiều, nhưng một khi hiểu được 26 điều quan trọng về cột sống, có thể quý vị sẽ cải thiện tình hình sức khỏe của mình.

Không ít người có thói quen gù lưng khi đứng và cả khi ngồi. Tật xấu này dần trở nên phổ biến hơn và nó có tác động đến sức khỏe của cột sống, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Đặc biệt là đối với thời đại công nghệ, khi con người ít vận động hơn trước, phần lớn thời gian lại sử dụng các thiết bị điện tử như laptop, máy tính bản hay điện thoại thông minh. Khi sử dụng các thiết bị này, đa số người dùng thường vô thức đẩy cơ thể mình vào những tư thế xấu, gây sức ép lên những vùng xương, cơ trong cơ thể quá lâu.
Ngoài ra các đốt sống này cũng là nơi chứa và bảo vệ tủy sống, một phần rất quan trọng trong hệ thần kinh.
Chính vì vậy, quý vị nên hiểu rõ 26 điều sau về cột sống của mình, để cải thiện và giữ gìn sức khỏe.


1. Cột sống rất linh hoạt

Quý vị có thể uốn cong cơ thể mình, tạo thành một hình vòng cung khoảng 1/3 hình tròn, đó là nhờ sự linh hoạt và độ co dãn tốt của cột sống.


2. Cột sống chứa hơn 100 đĩa đệm


3. Thật ra cổ chúng ta cũng giống như con hưu cao cổ vậy. 

Vì hưu cao cổ cũng có 7 đốt sống cổ, y hệt như 7 đốt sống của loài người. Dĩ nhiên là có khác nhau ở chiều dài mỗi đốt sống.


4. Có bao nhiêu nơ-ron tại khu vực cột sống này?

Cột sống có chứa khoảng 13.5 triệu nơ-ron thần kinh.


5. Tổng chiều dài của cột sống là bao nhiêu?

Trung bình chiều dài cột sống của nữ là khoảng 61 cm, và 71 cm đối với nam.


6. Cột sống giữ vai trò hỗ trợ to lớn trong cơ thể

Cột sống giúp hỗ trợ tối đa phần thân trên trong các hoạt động khi đứng, ngồi và di chuyển. Đặc biệt là cột sống chịu sức nặng của phần đầu, vốn có trọng lượng từ khoảng 4.5kg-5kg.


7. Có đến 120 bắp cơ tại cột sống

Các bắp cơ này chịu trách nhiệm quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động của cột sống, giúp giữ cho các đốt sống linh hoạt và cân bằng.


8. Có bao nhiêu đốt sống?

Cột sống người trưởng thành bao gồm một hệ thống có 26 đốt xương kéo dài từ xương chậu lên đến phần đầu, bao gồm: 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, xương cùng và xương cụt. 
Xương cùng vốn do 5 đốt hông liền nhau tạo nên và xương cụt vốn do 4 đốt cụt liền lại tạo nên. Chính vì vậy xương sống trẻ sơ sinh có đến 33 đốt, trong khi đó, người trưởng thành chỉ còn 26 đốt.


9. Xương sống có hình chữ ‘S’

Xương sống khi nhìn từ bên hông sẽ có hình chữ ‘S’, chính cấu tạo này làm cho cột sống hỗ trợ phần trên cơ thể tốt nhất.


10. Ống xương cột sống dầy bao nhiêu?

Ống xương cột sống dầy từ khoảng 1cm-1.5cm. Khi trẻ lên 4 thì độ dầy ống xương đạt mức cao nhất.


11. Cột sống chịu được sức nặng rất lớn

Cột sống có ‘siêu’ năng lực, có thể chịu được sức ép lên đến hàng trăm kg.


12. Sụn xốp ở cột sống hay còn gọi là đĩa đệm.

Hơn một phần tư tổng chiều dài của cột sống bao gồm sụn, còn được gọi là đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa như một ‘hệ thống giảm sốc’, giúp bảo vệ các dây thần kinh và não tủy khi cơ thể vận động mạnh.

13. Khi đi vào không gian, các đốt sống giãn ra, giúp quý vị cao hơn


Các phi hành gia khi quay trở lại trái đất đều cao hơn chiều cao cũ đến 3%. Theo lý thuyết thì các đốt sống bị nén bởi chính lực hấp dẫn của trái đất.
Thế nhưng cái phi hành gia không giữ được chiều cao ‘lý tưởng’ của họ, mà đều trở lại chiều cao cũ trong vòng 10 ngày sau khi quay về trái đất.


14. Chiều cao buổi sáng thường nhỉnh hơn một chút

Khi quý vị hoạt động cả một ngày dài, toàn bộ sức nặng của cơ thể có thể tạo lực nén lên các đĩa đệm, đặc biệt là ở vùng cổ và lưng. Thế nên sau một đêm ngủ ngon giấc, các đĩa đệm và đốt xương được thư giãn, và cũng là lý do nếu quý vị đo chiều cao của mình vào buổi sáng, thường có xu hướng sẽ nhỉnh hơn so với mức bình thường.


15. ‘Thông điệp’ từ các đốt xương sống

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra được các đốt xương có khả năng hoạt động hoàn toàn độc lập khỏi não bộ khi đề cập đến các giai đoạn đầu trong việc học các kĩ năng vận động mới.
Do đó, tủy sống có thể gửi các thông điệp quan trọng trực tiếp đến các cơ mà không cần thông qua não.


16. Thoái hóa đĩa đệm

Một nghiên cứu của Đại học Hongkong năm 2012 đã chỉ ra 7 trong số 10 người trưởng thành ở Hongkong bị thoái hóa đĩa đệm. Đó là nguyên nhân chính gây ra triệu chứng đau lưng, và nếu nghiêm trọng hơn có thể bị tật.


17. 70% lời than phiền liên quan đến vùng thắt lưng

Hầu hết các trường hợp than phiền về đau lưng, có đến 70% là nói đến thắt lưng. 30% còn lại liên quan đến trường hợp đau quanh cổ, cột sống cổ.


18. Loãng xương

Tình trạng loãng xương vốn là một trong những vấn đề thường xảy ra ở người cao tuổi, nhiều nhất là ở những độ tuổi 70-79 và thường nữ giới có nguy cơ loãng xương cao hơn nam.


19. Sử dụng điện thoại thông minh có thể gây ra chấn thương cột sống

Việc sử dụng điện thoại thông minh liên tục và trong thời gian dài, có ảnh hưởng rất nặng đến cột sống cổ, vì dĩ nhiên khi nhìn màn hình điện thoại quý vị phải cúi đầu.


20. Cột sống có khả năng ghi nhớ tuyệt vời

Bất kì một thói quen nào, dù là tư thế lưng gù hay thẳng lưng, cột sống đều có thể ghi nhớ. Thế nên quý vị cần phải tập cho mình quen với tư thế thẳng lưng thường xuyên hơn cho đến khi cột sống ghi nhớ đó là tư thế cơ bản của cơ thể.
Việc giữ đúng tư thế trong các hoạt động hằng ngày là một yếu tố quan trọng đầu tiên, giúp giữ gìn sức khỏe cho cơ thể.


21. Hút thuốc có hại đến cột sống

Hút thuốc không chỉ làm giảm độ rắn của xương mà còn làm giảm lưu lượng máu trong cơ thể, bao gồm cả lượng máu đến cột sống. Khi từng thành phần nhỏ trong cột sống không nhận đủ lượng oxy và máu cần thiết để nuôi dưỡng chúng, lẽ dĩ nhiên là cột sống sẽ có vấn đề.
Đó là chưa kể đến việc hút thuốc có thể được xem là thứ làm chậm lại thời gian chữa lành của các tế bào trong cơ thể.


22. Chấn thương đốt sống

Mức độ chấn thương của cột sống tùy thuộc vào vị trí đốt sống. Điều này có nghĩa là khi các đốt sống cao nhất bị chấn thương, thì mức độ nghiêm trọng nặng hơn.
Điều này có thể lý giải vì sao các bệnh nhân bị chấn thương sốt sống cổ thường không tránh khỏi tình trạng bị liệt cả 4 chi.
Trong khi đó nếu bị chấn thương những đốt sống phần dưới thường sẽ bị liệt vùng chân và ngực.


23. Những nguyên nhân thường thấy dẫn đến chấn thương cột sống

Tai nạn xe cộ là một trong những nguyên nhân thường thấy nhất đối với các ca bị chấn thương cột sống ở khu vực châu Á.
Tuy nhiên, có những nghiên cứu còn chỉ ra được tại một số nước châu Á thì những chấn thương trong chiến tranh cũng được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến chấn thương cột sống.


24. Cột sống linh hoạt có lợi lẫn hại

Mặc dù sự linh hoạt của cột sống giúp chúng ta xoay trở dễ dàng trong mọi hoạt động, nhưng cũng chính nó gây ra nhiều vấn đề.
Nếu chúng ta quá ỷ y vào độ ‘dẻo dai’ của cột sống mà gập người, xoay người quá trớn, sai tư thế, thì nó sẽ gây ra những tác hại khôn lường.


25. Chúng ta cần tăng cường sức khỏe các bắp cơ hỗ trợ vùng cột sống

Việc luyện tập bằng cách chạy bộ hoặc đạp xe có thể giúp tăng cường sức khỏe của cơ thể, nhưng nó chỉ giúp rèn luyện các bó cơ ở tầng ngoài cùng. Trong khi đó, các bó cơ ở tầng sâu hơn trong cơ thể thì không thực sự được rèn luyện.
Quý vị có thể xem xét việc tập Pilates – một dạng bài tập sử dụng các hệ thống máy móc đặc biệt, được thiết kế để cải thiện sức mạnh thể chất, tính linh hoạt và cải thiện tư thế của cơ thể.

26. Khi ngủ với tư thế nằm ngửa cũng là khi quý vị dồn áp lực lên xương sống



Để giảm đi áp lực lên xương sống khi ngủ, quý vị có thể đặt một ít gối ở dưới khuỷu chân.
Hoặc ngủ nghiêng với một chiếc gối ôm kẹp giữa đầu gối.
Ngoài ra thì khi ngồi làm việc trong văn phòng, quý vị cũng nên đứng lên và đi lại thường xuyên để giúp giãn gân cốt.

st.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 12527
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 13/Nov/2018 lúc 7:51am

5 Thứ Mà Nội Tạng Sợ Nhất... Đang Nạp Vào Cơ Thể


2875%201%205ThuNoiTangSonhatDHST


                          5 thứ mà nội tạng sợ nhất nhưng bạn đang “thản nhiên” nạp vào cơ thể hằng ngày
      Cơ quan nội tạng nào cũng có nỗi sợ riêng. Do đó, nếu bạn không kìm hãm và ngăn ngừa những “khắc tinh” này thì chẳng chóng mà hao mòn cơ thể, suy kiệt sức khỏe.
      Nếu chúng ta sớm biết rằng các cơ quan này sợ nhất điều gì, sẽ có cách để “giải cứu” chúng khỏi những nguy cơ mất an toàn vẫn đang đều đặn tấn công chúng hàng ngày thông qua thói quen sinh hoạt.
      Sau đây là ý kiến của chuyên gia giúp bạn phòng bệnh đúng cách:
1. Tim sợ muối, vì ăn quá mặn gây ra huyết áp cao
      Tim chỉ là một bộ phận nhỏ bé trong cơ thể, nhưng nó chính là một chiếc động cơ hoạt động chính của cơ thể bạn, là duy nhất và đặc biệt quan trọng.
      Để bảo vệ tim khỏi sự tấn công, chúng ta cần phải bắt đầu từ chế độ ăn ít muối. Nghiên cứu chứng minh rằng muối có tác hại tỉ lệ thuận với bệnh huyết áp cao, càng ăn mặn bao nhiêu, huyết áp càng tăng bấy nhiêu.
Nếu mỗi ngày bạn ăn thêm 1g muối, huyết áp sẽ tăng thêm khoảng 2mm Hg, đồng thời khoảng cách huyết áp trên dưới giãn ra 1,7 mm Hg.
      Thành phần chính của muối là natri clorua, khi ăn quá mức, có thể gây trữ nước trong cơ thể, tăng áp lực nội mạch, tăng gánh nặng cho tim.
      Theo chuyên gia dinh dưỡng Nhan Hiểu Đông, Hiệp hội Dinh dưỡng Tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) chia sẻ, mỗi ngày người trưởng thành chỉ nên ăn dưới 6g muối.
      Nên chọn loại muối có nồng độ nhạt, bởi trong những loại muối này đã được loại bỏ bớt 20% natri clorua, thay vào đó là kali clorua. Từ đó giảm thiểu các ion natri, giảm nguy cơ huyết áp cao, và kali có tác dụng giúp giảm huyết áp.


2875%202%20TimSoMuoiDHST


2. Phổi sợ nhất là khói thuốc, yêu cầu tiêu chuẩn không khí rất cao
      Phổi là “cỗ máy làm mới” và lọc khí của cơ thể, khi hút thuốc lâu dài, các hạt khói độc hại đó sẽ được lắng đọng trong phổi, lâu dần sẽ dẫn đến bệnh phổi.
      Biểu hiện sớm nhất là rối loạn chức năng hô hấp, phát sinh các bệnh thông thường như viêm phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, trường hợp nặng có thể bị ung thư phổi.
Nghiên cứu cho thấy, việc hút thuốc lá có sự liên quan và tỉ lệ thuận với khả năng mắc bệnh ung thư phổi. Người hút thuốc với số lượng khoảng 20 điếu/ngày kéo dài trong 20 năm có khả năng ung thư đặc biệt cao.
      Ngoài hút thuốc, người sống trong môi trường không khí bị ô nhiễm lâu dài cũng là yếu tố gây tổn thương đến phổi.
     Các chuyên gia cho rằng, sau khi thức dậy vào mỗi buổi sáng, bạn nên hít một hơi thật sâu, tìm một nơi có không khí trong lành để làm sạch phổi. Hãy luôn giữ cho môi trường sống và làm việc được sạch sẽ, trong lành, thoáng khí.


2875%203%20PhoiSoKhoi%20ThuocDHST


3. Thận rất sợ thịt, ăn quá nhiều chất đạm sẽ làm tăng gánh nặng cho thận
      Các chất dinh dưỡng tốt nhất trong thực phẩm bao gồm carbohydrate, protein và chất béo. Theo bác sĩ Thiếp, chất đạm có vai trò tạo thành một số lượng lớn các enzyme protein giúp cơ thể phát triển.
      Tuy nhiên, các protein trong quá trình phân giải trong cơ thể khác với carbohydrate và chất béo, vì nitơ của nó sẽ được chuyển đổi thành phần urê, mà các chất này cần được xử lý qua thận. Vì thế, ăn nhiều thịt sẽ làm tăng gánh nặng cho thận, lâu dần sẽ sinh bệnh.


2875%204%20ThanSoThit%20DHST%20


4. Gan sợ chất béo, người béo thường mắc bệnh gan nhiễm mỡ, nặng nhất là ung thư gan
      Người bị béo phì đa phần mắc bệnh gan nhiễm mỡ, bởi khi gan có mỡ thì các nội tạng khác cũng sẽ có sự ảnh hưởng.
      Khi chúng ta ăn mỡ động vật vào, gan sẽ phải có nhiệm vụ chuyển hóa nó thành chất béo.
Những chất béo này muốn loại bỏ thì phải cần đến vận động, tập thể dục. Chúng luôn là “lực cản” nặng nề cho quá trình hoạt động của gan.
     Khi cơ thể vừa béo lên, ngay lập tức tích mỡ vào gan, làm cho gan không xử lý kịp, sinh ra bệnh.
Nếu để tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến xơ gan, viêm gan, lâu hơn nữa sẽ gây nguy cơ ung thư gan.


2875%205%20GanSoChatBeoDHST


5. Túi mật sợ nhất là thói quen thất thường, không ăn sáng dễ gây ra sỏi
      Nhiều người muốn giảm cân hoặc bận rộn thường cho rằng bữa ăn sáng không quá cần thiết, họ có thể nhịn hoặc ăn uống thất thường. Như mọi người đều biết, đây là một “cú đánh lớn” vào túi mật.
      Tương tự như tuyến tụy, cơ thể liên tục tiết ra mật và lưu trữ trong túi mật để mỗi mỗi bữa ăn sẽ tự động tiết mật, co bóp, đẩy mật ra đường ruột giúp tiêu hóa thức ăn. Đây là một quy trình khép kín và phải vận động theo quy luật cố định.
      Sau khi ngủ dậy nếu không ăn sáng, lượng dịch mật ứ đọng quá nhiều trong mật mà không tiêu hao, lâu ngày sẽ tích tụ, khô lại tạo thành sỏi mật.


2875%206%20TuiMatDHST


      Những điều “thầm kín” này luôn thường trực diễn ra hàng ngày, nhưng nội tạng sẽ không bao giờ có cơ hội để “nói” cho bạn biết mà phòng tránh. Biết để thực hiện điều này sẽ không bao giờ quá muộn.

st.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 12527
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 15/Nov/2018 lúc 9:57am

Những Cách Tập Luyện Giúp Phổi Khỏe Mạnh


Một số bài tập đã được các chuyên gia sức khỏe chứng minh có tác dụng giúp các mô xung quanh phổi, tránh thở hổn hển sau khi tập thể dục.

Làm rỗng phổi
Làm rỗng phổi có thể bảo đảm phổi không bị tắc nghẽn. Để thực hiện bài tập này, hãy đứng thẳng người và thả lỏng đầu gối, hơi cong thắt lưng, tống hết không khí từ phổi ra ngoài giống như khi bạn thở ra lúc thực hiện các bài tập về phổi. Hít vào càng sâu càng tốt trong lúc từ từ trở về tư thế đứng thẳng, cách này giúp tăng năng suất tối đa cho phổi. Giữ yên hơi thở trong 20 giây và duỗi thẳng hai tay lên cao khỏi đầu. Thở ra và thư giãn cánh tay, thả lỏng tay sang hai bên. Thực hiện bốn lần bài tập này.
Tiến sĩ Carol Garber (ĐH Y khoa Mỹ) chia sẻ: Hít vào và thở ra có ảnh hưởng đến phổi. Nếu ít vận động, bạn chỉ sử dụng một phần rất nhỏ năng suất của phổi nên chỉ có một lượng nhỏ không khí vào phổi. Trong khi đó, bài tập làm rỗng phổi giúp tăng lượng khí oxy đến khắp cơ thể.

Giữ tư thế đúng
Bạn có cảm thấy uể oải vào giữa ngày? Nhiều nghiên cứu cho thấy tư thế xấu gây áp lực cho phổi dẫn đến thở nông, làm cạn kiệt lượng oxy cần thiết để cơ thể cảm thấy tràn đầy sinh lực. Khi bạn đứng thẳng người, sẽ dễ dàng giúp phổi làm đầy không khí và tăng năng lượng cho cơ thể. Điều quan trọng là giữ cho năng suất của phổi ở mức tối ưu và điều đó sẽ không xảy ra khi bạn cúi khom người.
Khi ngồi tại bàn làm việc, hãy thực hiện bài tập dành cho phổi bằng cách nhìn thẳng về phía trước, giữ yên hai vai, bàn chân đặt sát mặt sàn và duỗi nhẹ hai chân dưới ghế để đầu gối thấp hơn hông.

Ngâm mình trong hồ bơi
Một số động tác bơi là những bài tập hoàn hảo dành cho phổi, thở vào bằng mũi và thở ra bằng miệng giúp cơ thể bạn có thể xử lý đúng cách chất thải carbon dioxide, tránh mệt mỏi, hỗ trợ sức khỏe phổi và tim. “Bất cứ điều gì hữu ích cho phổi sẽ tốt phổi cũng như tim của bạn”, TS Peeke nói.

Thở bằng bụng
Làm khỏe bụng có thể cải thiện hơi thở của bạn. Đó là nhờ cơ hoành, nằm ở vị trí phía trên bụng, là cơ bắp then chốt liên quan đến cơ thể khi hít vào và thở ra. Hãy nằm ngửa người và duỗi thẳng chân trên mặt sàn, đặt một bàn tay lên bụng và tay còn lại đặt lên ngực. Hít vào thật sâu, từ từ kéo căng bụng. Bạn sẽ cảm thấy bàn tay trên bụng cao hơn bàn tay đặt lên ngực khi hít thở. Thở ra thật sâu bằng miệng và cố gắng giữ hơi thở trong 7 giây.

Đi bộ 20 phút
Các bác sĩ khuyến cáo thường xuyên đi bộ rất tốt đối với những bệnh nhân cần phục hồi chức năng phổi và người mắc bệnh phổi. Theo giáo sư Richard Casaburi (ĐH California), làm khỏe các mô xung quanh phổi giúp chúng hoạt động tốt hơn. Để đi bộ đạt kết quả tối ưu, hãy đi thẳng người và ngẩng cao đầu, giữ thẳng vai và bước dài chân đều đặn. Cách đi bộ này không làm ép khung xương sườn và cho phép phổi giãn nở.

st.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 12527
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: Ngày hôm qua lúc 10:10am

Hiểu Lầm Về Canxi Và Bệnh Loãng Xương


Thiếu canxi chỉ là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến loãng xương nên chỉ uống canxi không thể hoàn toàn phòng chống bệnh này.



Canxi là dưỡng chất cần cho cơ thể song không phải ai cũng biết cách dùng đúng. Dưới đây là những hiểu lầm thường gặp về canxi do People liệt kê. 

Uống canxi không gây loãng xương
Thiếu canxi chỉ là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến loãng xương, vì vậy chỉ bổ sung canxi đơn thuần không thể phòng chống hoàn toàn căn bệnh này.
Nguyên nhân dẫn đến bệnh loãng xương có thể do nội tiết tố cơ thể, chế độ ăn thiếu canxi và vitamin D, không tập thể thao hoặc một số thói quen xấu như nghiện thuốc lá, nghiện rượu, uống nhiều cà phê.
Nếu mắc bệnh loãng xương, bạn nên tìm hiểu rõ nguyên nhân sau đó thực hiện các bước điều trị tương ứng, không nên tùy tiện bổ sung canxi.

Ăn canh xương hầm sẽ phòng chống loãng xương
Một số người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, cho rằng ăn canh xương hầm có thể bổ sung canxi chống loãng xương. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, canxi là chất khoáng không hòa tan trong nước. Ngay cả khi được nấu ở nhiệt độ cao, canxi trong xương hầu như không tiết ra nước canh hầm.
Hơn nữa, canh xương hầm cũng không hềchứa vitamin D giúp thúc đẩy sự hấp thụ canxi. Quá trình hầm xương chỉ khiến chất béo trong xương tiết ra nên nếu ăn nhiều dễ gây mỡ nhiễm máu, tăng axit uric máu.

Thanh thiếu niên không mắc bệnh loãng xương
Loãng xương không chỉ xuất hiện ở người già mà cả đối tượng thanh thiếu niên cũng có nguy cơ mắc phải. Một số trường hợp người trẻ bị bệnh loãng xương không rõ nguyên nhân hoặc loãng xương thứ phát do các loại bệnh và thuốc. Các thói quen xấu của thanh thiếu niên như hút thuốc, uống rượu cũng làm tăng nguy cơ loãng xương.

Lượng canxi trong máu không liên quan đến loãng xương
Lượng canxi trong máu khác với lượng canxi trong xương. Nếu canxi máu xuống thấp, cơ thể sẽ chuyển lượng canxi dự trữ từ xương vào máu, gây ra nguy cơ loãng xương. Tuy nhiên, lượng canxi trong máu không hề bị ảnh hưởng ngay cả khi xương bị gãy. 
Chỉ chấn thương mới dẫn đến gãy xương

Một số bệnh nhân bị gãy xương mới biết mình mắc bệnh loãng xương nghiêm trọng. Trên thực tế, khi loãng xương ở mức độ nặng, chỉ cần vận động mạnh hoặc nâng vật nặng cũng đủ gây gãy xương. Các vết nứt nhẹ có thể để lại hậu quả nghiêm trọng nên người mắc bệnh loãng xương cần chú ý kiểm tra để chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bổ sung canxi có thể gây sỏi thận
Nhiều người cho rằng bệnh nhân bị sỏi thân nên hạn chế bổ sung canxi vì canxi dễ tích tụ gây sỏi thận. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Mỹ chỉ ra những người thực hiện chế độ ăn giàu canxi giảm tới 35% sỏi thận so với những ai ít ăn canxi. Đó là do nguyên nhân gây sỏi thận không phải hấp thụ quá nhiều canxi mà rối loạn chức năng chuyển hóa canxi trong cơ thể. Canxi trong xương giảm nhưng lượng canxi trong máu và mô mềm tăng lên dẫn đến dư thừa cũng có thể gây ra các bệnh như sỏi thận, xơ cứng động mạch.


st.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 108
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.688 seconds.