Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Sức Khỏe - Y Tế
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Khoa Học - Kỷ Thuật :Sức Khỏe - Y Tế  
Message Icon Chủ đề: CÁC THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 117 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 21/Sep/2018 lúc 11:41am

Tắm đúng cách để trị bịnh



Theo Đông y , con người là một "tiểu Thiên-Địa" với đầy đủ Âm Dương, Ngũ Hành: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ . Khi tất cả những yếu-tố đó vận-hành trơn tru thì con người sẻ khỏe mạnh , ngược lại nếu bị rối loạn tất sẻ sinh ra các thứ bệnh tật cho cơ-thể ! Mà một nguyên-nhân thường do chính chúng ta gây nên sự rối loạn là TẮM KHÔNG ĐÚNG CÁCH !

Trong con người có một cơ-chế điều hòa nhiệt độ rất tinh-vi, giữ cho cơ-thể một sự quân-bình nhiệt-độ hợp-ly, nơi nào bất ngờ có sự thay đổi khác với "tiêu-chuẩn tối ưu", ngay lập tức trung-tâm não bộ sẻ "can-thiệp" để " lập lại trật-tự", điều-chỉnh nhiệt độ hợp lý nhất cho cơ-thể . Khi nóng, các tuyến mồ hôi sẻ tiết ra chất nước + muối ( nước muối khi bay hơi sẻ " lạnh" hơn nước nhạt) làm dịu mát da thịt, chống lại cái nóng. Ngược lại khi lạnh , các mao-mạch (mạch máu li ti) sẻ co lại khiến máu di-chuyễn sâu bên dưới da , tránh bớt sư mất nhiệt của cơ thể . Đó là nguyên-lý điều-nhiệt cơ-bản tối-ưu. Nếu tắm không đúng cách, sẻ làm rối loạn cái cơ-chế phức-tạp đó và sẻ sinh ra bệnh, nhẹ nhất là cảm lạnh sổ mũi nhức đầu , nếu nặng hơn là sưng phổi và viêm phê ́-quản....nhưng về lâu về dài, sau quá nhiều lần cơ-thể bị đảo lộn trật-tự lạnh nóng bất thường, sẻ bị "rối loạn Âm-Dương " và do vậy sẻ sinh ra đủ thứ bệnh tật! Vậy tắm thế nào mới gọi là tắm đúng cách? Tắm đúng cách là trước khi tắm phải khóa huyệt-đạo lại không cho các huyệt-đạo bị "ngấm nước" ! Kế tiếp là phải " tập" cho cơ thể " làm quen " với nhiệt-độ nước mà ta sắp tắm ! Nói thì nghe phức-tap nhưng thưc-hiện lại rất dể dàng ! Xin làm theo đúng trình-tự sau đây:

1/ Ngậm một ngum nước (nước mà ta sắp dùng để tắm vào người), dùng lưỡi đảo nước trong miệng vì dưới lưỡi có 2 huyệt -đạo rất quan-trọng cho cơ-thể  
2/ Hít đầy hơi và nín thở (vậy là ta đang "vận-công" đó !)
3/ Xối nước từ rốn (rún) xuống chận , trước và sau cho ướt thật đều .
4/ Lấy tay vốc nước đập đập vào dưới cần cổ (nơi cổ tiếp-giáp với ngực) 2 , 3 vốc nước như vậy .
4/ Lại vốc nước đập như vậy nhưng lần này là ngay sau ót (nơi cổ tiếp-giáp với lưng) 2 , 3 lần .
5/ Dội nước từ cổ trở xuống (nhớ là chỉ từ cổ xuống , chừa đầu lại) cho ướt đẫm , cả trước lẫn sau lưng thật đều . Dội nước lên đầu cho ướt rồi nhổ bỏ ngụm nước trong miệng . Tất cả 5 động-tác nầy chỉ mất chưa đầy 20 giây nhưng nếu trong lúc đang làm mà cảm thấy thấy ngộp thở , ta có thể tạm ngưng " vận-công " , hít thở vài hơi dài rồi lại tiếp-tục nín hơi , làm tiếp các động-tác còn lại .

Quá đơn-giản phải không , thưa quý vị ? Nhưng xin quý vị cứ làm đúng như vậy mỗi lần tắm thì chỉ sau 3 ngày ( thời-gian tối-thiểu cho cơ-thể tự điều-chỉnh và "sửa chữa " lại hệ-thống kinh-huyệt bị rối loạn tự bấy lâu nay ) quý-vị sẻ thấy mình khỏe hẳn hơn lên , các bệnh thông thường như cảm sổ mũi nhức đầu v.v... từ từ "quên" quý-vị ! Và càng lâu về sau , khi bộ máy "tiểu Thiên-Địa " vận-hành điều-hòa như xưa thì nếu quý-vị bất ngờ thấy mình bớt hay khỏi hẳn những căn bệnh hiểm-nghèo của tuổi trung-niên thường có như huyết áp cao , tiểu đường ( diabète ) , Tim v.v...thì xin yên-tâm là mình sẻ còn sống vui , sống khỏe , sống trẻ trung ...dài dài chỉ là nhờ mình đã TẮM ĐÚNG CÁCH !!!

Để kết cho bài này , tôi xin "kê khai" ra đây hiện-trạng sức khỏe của bản thân và gia-đình tôi như một chứng-minh tính xác-thật của cách tắm đúng nói trên . Tôi, nam, 54 tuổi, cao 1m70, nặng 75 kg (dư 10kg so với tiêu-chuẩn lý-tưởng!) , không uống bia & rượu , có hút thuốc lá 1 gói ( 20 điếu ) / ngày , hoàn-toàn không tập thể-dục thể-thao gì từ hơn 32 năm qua ( trước ngày " đứt phim " có chơi tenis , bơi lội , bắn cá dưới biển v.v... nhưng từ ngày "xập tiệm" tới nay đã không còn tiếp-tục nữa ! ). Hoàn-toàn không có bất cứ bệnh gì trong cơ-thể và đã từ rất lâu - hơn 25 năm - không hề bị cảm cúm , không uống 1 viên thuốc nhức đầu !!! Tại sao tôi lại khẳng-định con số 25 năm không còn bệnh , xin thưa vì tôi bắt đầu áp-dụng cách tắm đúng từ năm 1982 đến nay !!! Và gia-đình tôi ( kể luôn mẹ tôi nay đã gần 90 tuổi ) đã "quên" đi bác-sỹ và bệnh-viện từ rất lâu rồi ! Mẹ tôi xưa kia bị huyết áp cao + tim nhưng nay thì hằng ngày ngồi "điều binh , khiển tướng " (chơi bài tứ sắc) từ 8 g sáng cho tới ...6 giờ chiều cho vui mà không cần ngã lưng , nghĩ mệt phút nào cả !!! Đêm đêm 10 giờ bà mới tắm ! (Tắm đêm là điều rất kiên-kỵ đối với người nhiều tuổi như bà ) Không hề bệnh vặt !!! Nguyên do là cả gia-đình tôi đều áp-dụng cách tắm đúng ! Tôi xin phép gởi kèm theo đây là ảnh chụp huyết áp của tôi do tôi đo ngay trước máy PC khi viết bài này để quý-vị thấy hiệu-quả của cách tắm đúng : 117/71 và nhịp tim là 68 !!! Nghĩa là huyết áp & nhịp tim của tuổi thanh-niên 20-30 khỏe mạnh chứ không phải của một " ông già " 54 như tôi !!! Chính vì vậy mỗi lần tôi khám sức khỏe có đo huyết áp là mỗi lần các vị BS cứ phải đo đi , đo lại mấy lần , tưởng đâu tại đo sai hoặc máy đo bị truc-trặc !!! Và tóc của tôi vẫn đen bóng , không cần xài thuốc nhuộm !!! ( Và xin nói nhỏ giửa đàn ông với nhau : "nam tính" của tôi vẫn...như ý , lệnh trên ban xuống , cấp dưới thi-hành chu-tất đúng 100% theo nghiêm lệnh !!! )

Kính thưa các "bô lão "Niên-Trưởng Không-Quân, em xin kính gởi tới các vị bài viết này như một món quà với lòng thành-tâm mong cho các NT sẻ áp-dụng để có được sức khỏe tốt , sống vui , sống khỏe , sống hạnh-phúc...để đều đều viết bài , gởi lên CT cho đàn em đọc và nhất là mỗi lần em mở trang CT ra , em sẻ thấy muc "chia buồn" luôn luôn trống không và trắng bóc không một có chử nào trong đo, nếu được như vậy thì em mừng vui vô cùng !!!

Kính gởi đến chú NGUYỄN-LẠNG , Trung-Tá Bác-Sỹ quân y QLVNCH , Chỉ-Huy-Trưởng Bệnh-Viện Quân-Y Ban-Mê-Thuộc , người đã chỉ dạy cho cháu cách " tắm đúng để ngừa và trị bệnh " lòng biết ơn sâu sắc cùa cháu đối với chú ! Đây là một "kỷ-vật" quý giá nhất mà cháu đã may mắn được chú tặng cho cháu trong thời-gian chú & cháu cùng chung đội trọng-án trại tù A-20 Xuân-Phước và cháu sẻ giử gìn và áp-dụng nó đến suốt cuộc đời của cháu. Nếu quý vị có cần hỏi thêm chi-tiết gì chưa ro, xin mail cho tôi nguyentoaichi@gmail.com, tôi sẻ rất vui được giúp ích cho quý vi

Kính chúc quý vị luôn vui trẻ khỏe hạnh-phúc ...nhờ đã TẮM ĐÚNG CÁCH !



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 21/Sep/2018 lúc 11:51am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 22/Sep/2018 lúc 7:36am

Ăn Tối Là Ăn Cho Kẻ Thù


Ăn tối nhiều, ăn ngon và ăn trễ, gây ra bệnh phì lũ, cancer và sạn thận.

1. Bữa tối và béo phì.
90% Người béo phì là do ăn tối quá bổ dưỡng, ăn quá nhiều, hơn nữa buổi tối hoạt động ít, tiêu thụ lượng calo ít, lượng calo dư thừa dưới tác dụng của insulin trong cơ thể tổng hợp thành chất béo, mỡ tự nhiên hình thành.

2. Bữa tối với bệnh tiểu đường
Ăn bữa tối quá no suốt một thời gian dài, thường kích thích tiết tố insulin, có thể dễ dàng làm tăng chất tăng trọng insulin, đẩy nhanh quá trình lão hóa,và dẫn đến nguy cơ bị bệnh tiểu đường. Bữa tối ăn quá nhiều, ăn quá bổ, hình thành béo phì, mặt khác cũng dẫn đến bệnh tiểu đường.

3. Bữa tối và ung thư ruột kết.
Bữa tối, nếu bạn ăn quá đầy đủ, các thực phẩm chứa protein không thể tiêu hóa hoàn toàn, dưới tác dụng của các vi khuẩn bên trong đường ruột sẽ sản sinh ra một số chất độc hại,cộng với việc hoạt động ít khi chìm vào trạng thái ngủ, làm cho nhu động ruột chậm lại, kéo dài thời gian kết tủa của các chất độc hại trong ruột, tăng tỷ lệ mắc ung thư đại tràng.

4. Bữa tối và sỏi thận.
Canxi trong cơ thể người sẽ tăng cao nhất sau bữa ăn 45 giờ,nếu ăn tối quá muộn, khi lượng canxi tăng lên cao điểm, thường là lúc cơ thế đang chìm vào giấc ngủ, đồng thời nước tiểu trong niệu quản, bàng quang, niệu đạo và đường tiết niệu khác không thể bài tiết, dẫn đến tăng canxi niệu, dễ dàng tạo thành các tinh thể nhỏ,về lâu dài sẽ mở rộng và hình thành sỏi.

5. Bữa tối và mức độ tăng lipid máu.
Bữa tối nếu nạp lượng protein, chất béo, calo cao, sẽ kích thích gan sản sinh các lipoprotein ở mật độ cực thấp, triglycerides cũng có xu hướng tăng lên, dẫn đến tăng lipid trong máu.

6. Bữa tối và tăng huyết áp.
Nếu thực đơn trong bữa tối là thịt, cá, cộng với tốc độ lưu thông máu chậm lại trong khi ngủ, một lượng lớn các chất béo sẽ tích tụ trong mạch, khiến động mạch co lại hẹp hơn, hỗ trợ tăng trưởng mạch máu ngoại vi, làm cho huyết áp dễ dàng đột ngột tăng cao, hơn nữa còn tăng tốc xơ cứng hệ thống tiểu mạch.

7. Bữa tối với xơ vữa động mạch và bệnh tim.
Chế độ dinh dưỡng bữa tối với hàm lượng chất béo quá cao, nhiệt lượng cao có thể sinh ra cholesterol rồi tích tụ trong thành động mạch gây xơ vữa động mạch và nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh tim. Ngoài ra, còn một lý do dẫn đến sự hình thành xơ vữa động mạch, là sự lắng đọng canxi trong huyết quản, vì dinh dưỡng quá nhiều vào bữa tối và ăn tối quá muộn, là những lý do dẫn đến bệnh tim mạch.

8. Bữa tối và gan nhiễm mỡ.
Nếu bạn ăn tối quá bổ dưỡng, ăn quá nhiều, nồng độ của các axit béo và glucose sẽ đẩy nhanh quá trình tổng hợp chất béo,cộng thêm việc ít hoạt động vào ban đêm,cũng đẩy nhanh việc chuyển hóa chất béo, hình thành gan nhiễm mỡ.

9. Bữa tối và viêm tụy cấp tính.
Bữa tối nếu ăn uống quá nhiều, còn sử dụng rượu, dễ dàng gây ra viêm tụy cấp tính,thậm chí khiến bạn sốc trong khi ngủ, đột tử.

10. Bữa tối và thoái hóa não.
Nếu duy trì thói quen ăn quá nhiều bữa ăn tối, khi ngủ, dạ dày, gan, túi mật, tuyến tụy và các cơ quan khác gần đó vẫn đang hoạt động, khiến cho não bộ không thể nghỉ ngơi, máu lưu thông lên não không đủ, do đó ảnh hưởng đến các tế bào bình thường của não chuyển hóa, tăng tốc lão hóa não. Những thanh niên thường ăn tối như một ông hoàng sẽ dẫn đến một trong năm nguy cơ chính gây mất trí nhớ lúc về già.


11. Bữa tối và chất lượng giấc ngủ.
Dùng bữa tối quá thịnh soạn và ăn quá no, chắc chắn sẽ dẫn đến dạ dày, gan, túi mật, tuyến tụy tiếp tục làm việc trong khi ngủ, thông qua đó gửi thông điệp lên não, não ở trạng thái kích thích, dẫn đến ngủ mơ, mất ngủ, theo thời gian sẽ dẫn đến suy nhược thần kinh và các bệnh khác.

Sưu tầm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 24/Sep/2018 lúc 9:43am


%20water%20in%20the%20morning%20-%20Go%20Living%20Healthy


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 24/Sep/2018 lúc 10:02am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 26/Sep/2018 lúc 8:12am
Xoa Bóp Bàn Chân
    M***age: Foot Reflexology
   How to do Reflexology – M***age Techniques
 
 
 
Bàn chân có mối liên quan mật thiết tới lục phủ ngũ tạng, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. Thí dụ : Mu ngón chân út có liên quan đến bàng quang, mu ngón chân thứ hai có liên quan đến dạ dày, ngón thứ tư có liên quan đến gan, ngón chân cái có liên quan đến gan, tì, lòng bàn chân có liên quan đến thận…
Xoa bóp hai bàn chân không những thúc đẩy máu cục bộ lưu thông, cải thiện việc trao đổi chất dinh dưỡng, làm cho cơ, xương, khớp mềm mại, dẻo dai, mà còn làm thông kinh hoạt lạc, tăng cường sức đề kháng và chống các bệnh tật của toàn thân.
Khi day hoặc bấm các huyệt vi ở bàn chân còn có tác dụng chữa được bệnh, phòng bệnh, kéo dài tuổi xuân và tăng thêm tuổi thọ…
Sau đây là kỹ thuật xoa bóp bàn chân giúp bạn đọc tham khảo, áp dụng:


Xoa bóp gan bàn chân

Tư thế ngồi, chân trái đặt lên trên đầu gối chân phải, tay trái giữ bàn chân, tay phải áp sát vào gan bàn chân xoa và xát theo chiều dọc bàn chân 20 lần, làm từ nhẹ đến mạnh, từ chậm đến nhanh. Bàn chân sẽ nóng dần lên là tốt.
Sau đó dùng hai ngón tay cái và trỏ bóp nhẹ các ngón chân, bóp dần xuống đến gót khoảng 5 phút. Dùng ngón tay trỏ day ấn vào huyệt dũng tuyền (giữa gan bàn chân). Sau đó để đầu ngón tay cái vuông góc với gan bàn chân, ấn vào thấy tức là được, day nhẹ nhàng huyệt theo chiều kim đồng hồ. Huyệt này có tác dụng hạ huyết áp, bổ thận, chữa đau lưng mỏi gối.
Đổi bàn chân, trình tự làm như trên.

 

 

 

 

 

 

 

 

Xoa bóp mu bàn chân


Tư thế ngồi, chân trái co lại, gấp đầu gối, bàn chân để áp bằng trên ghế. Dùng lòng bàn tay phải áp lên mu bàn chân, tay trái xoa dọc lên khớp cổ chân 20-30 lần. Sau đó dùng ngón tay cái và trỏ (hai tay) bóp nhẹ các ngón day vào kẽ ngón chân 5 phút, ấn dọc lên mu chân theo từng ngón, sau đó vỗ nhẹ lên mu chân.
Tiếp đó dùng ngón cái ấn lên huyệt giải khê (giữa nếp lằn cổ chân), huyệt thái xung (giữa kẽ ngón 1, 2 dịch lên 2 đốt ngón tay), huyệt túc lâm khấp (giữa kẽ ngón 4, 5 dịch lên 2 đốt). Mỗi lần ấn khoảng 1 phút cho mỗi huyệt.
Thay đổi hai chân, xoa bóp khoảng 20 phút mỗi lần trong ngày. Ngày làm hai lần. Ngoài ra kết hợp đi bộ. Nên đi chân đất và giẫm vào những hòn sỏi nhỏ, có tác dụng như ấn vào huyệt ở vùng gan bàn chân.

 

 

 

 

BS. Đình Thuấn

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 28/Sep/2018 lúc 8:21am

Ích Lợi Của Thực Phẩm



Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 01/Oct/2018 lúc 6:50am

Sữa Bò và Sức Khỏe


Sữa có thể giúp ngăn ngừa ung thư, làm bớt sâu răng, chống nhiễm vi khuẩn. (Hình: health.clevelandclinic.org)

Ngoài giá trị dinh dưỡng, sữa bò còn có một số ích lợi về y học cũng như có thể gây ra một vài trở ngại cho người dùng sữa. Vì thế, khi dùng thì cũng cần phải có những hiểu biết nhất định.

Lợi ích về y học 
Nhiều nghiên cứu y khoa học cho thấy sữa có một số ích lợi đối với sức khỏe.
a- Ngăn ngừa bệnh loãng xương, còn gọi là bệnh xương xốp. Loãng xương thường xảy ra ở người cao tuổi nhất là nữ giới vào thời kỳ mãn kinh, kích thích tố nữ estrogen giảm thiểu. Loãng xương dễ đưa đến gãy xương, đặc biệt là xương đùi.
Loãng xương có thể tránh được nếu ta dùng đủ số lượng calcium cần thiết, tức là khoảng 1,200 mg mỗi ngày. Ba ly sữa không chất béo cung cấp đủ số calcium này.

b- Vì được tăng cường thêm sinh tố D nên sữa có thể ngăn ngừa bệnh còi xương trẻ em.

c-Một nghiên cứu tại bệnh viện St. Luke, New York, cho hay uống thêm 1,200 mg calcium mỗi ngày có thể làm giảm các triệu chứng khó chịu của hội chứng tiền kinh nguyệt. Sữa bò có nhiều calci nên có thể được dùng làm nguồn cung cấp calci dễ dàng.

d- Năm 1985, Bác Sĩ Cedric Garland thuộc trường Đại Học California-San Diego, công bố kết quả quan sát hơn 2,000 người đàn ông trong 20 năm. Ông ta thấy rằng những người mỗi ngày uống hai, ba ly sữa thì có ruột già tốt lành hơn và cũng ít bị ung thư hơn người không uống sữa. Một nghiên cứu khác ở Úc vào năm 1987 cũng xác định nhận xét này.

Tạp san của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (JAMA) số ra ngày 23 Tháng Chín, 1998, có đăng kết quả một cuộc nghiên cứu, theo đó sữa và các phó sản như pho mát, kem… đang trở thành những công cụ hữu hiệu trong việc ngăn ngừa ung thư ruột.
Nhiều khoa học gia cho rằng đó là nhờ sữa có nhiều calcium. Trong ruột khoáng chất này vô hiệu hóa acid mật (bile acid), một chất được coi như có nguy cơ gây ra ung thư ruột già.

e- Theo Bác Sĩ George Mann thì sữa đã bỏ bớt chất béo có thể làm hạ mức độ cholesterol trong máu. Một nghiên cứu bên Nhật Bản cũng tìm thấy cùng kết quả là ở loài chuột, sữa ít béo làm bớt những bựa cholesterol bám trong động mạch.

f- Nhờ nhiều calci nên sữa có thể làm hạ huyết áp. Kết quả nghiên cứu của Viện Tim, Phổi và Huyết Học Quốc Gia tại Hoa Kỳ cho hay người không uống sữa bị cao huyết áp nhiều gấp đôi người uống sữa mỗi ngày.

g- Những người nghiện thuốc lá nếu uống nhiều sữa sẽ ít bị viêm cuống phổi kinh niên hơn so với người hút thuốc mà không uống sữa. Đó là kết quả nghiên cứu của các khoa học gia tại đại học danh tiếng John Hopkins bên Hoa Kỳ.

h- Đã từ lâu, các cụ ta vẫn biết là sữa có công dụng làm giảm các dấu hiệu khó chịu khi bị loét bao tử. Cách đây vài chục năm, một nghiên cứu tại Đại Học Harvard cũng thấy là nhóm sinh viên uống nhiều sữa ít bị viêm bao tử hơn nhóm không uống sữa. Đó là nhờ chất prostaglandin có trong sữa.
Nhưng nên chú ý rằng nếu đã bị viêm bao tử thì sữa lại làm bệnh trầm trọng hơn vì sữa kích thích dạ dầy tiết ra nhiều acid.

i- Kết quả nghiên cứu của Bác Sĩ Robert Yolken, Đại Học Y Khoa Johns Hopkins, Baltimore cho hay sữa bò chứa một loại kháng thể có khả năng bảo vệ trẻ em khỏi bị chứng tiêu chảy gây ra do Rotavirus.

j- Nhiều người tin là muốn dễ dàng đi vào giấc ngủ thì uống một ly sữa nóng trước khi lên giường, vì hóa chất tryptophan trong sữa làm dịu các sinh hoạt não. Nhưng một số nghiên cứu khác lại cho rằng sữa, nhất là sữa ít béo, làm ta tỉnh táo, khó ngủ hơn.

k- Ngoài ra sữa còn được cho là có khả năng ngăn ngừa ung thư, làm bớt sâu răng, chống nhiễm vi khuẩn…

Tuy nhiên, sữa là một trong 12 loại thực phẩm dễ gây ra dị ứng, với các triệu chứng như nổi ban ngứa trên da, sưng môi và mi mắt, khó chịu trong hệ tiêu hóa. (Hình: health.clevelandclinic.org)

Dị ứng – bất dung sữa 
Dị ứng và bất dung với một thực phẩm là hai hiện tượng hoàn toàn khác biệt.

Không dung nạp sữa là không dùng được sữa vì không tiêu hóa được đường lactose trong sữa. Những người này không có diếu tố lactase trong cơ thể, đặc biệt thường thấy ở người Châu Á và Châu Phi. Diếu tố này chuyển hóa lactose thành glucose và galactose, là các dạng dễ tiêu hóa hơn. Người không dung nạp mà vẫn uống sữa thì thấy đầy bụng, đi tiêu chảy, lâm râm đau bụng.

Dị ứng với sữa là những trường hợp mà cơ thể phản ứng, đôi khi rất mạnh, với chất đạm trong sữa. Dị ứng sữa khá hiếm và cần được sự xác định cũng như hướng dẫn giải quyết bởi các giới chức y khoa chuyên môn.
Theo nhiều nghiên cứu, một người dù có bất dung với sữa có lactose vẫn có thể uống được một vài ly sữa mỗi ngày nếu biết áp dụng một vài biện pháp như sau:
- Uống sữa từng ít một, chia làm nhiều lần trong ngày cùng với bữa ăn chính hoặc thời gian giữa các bữa ăn.
- Có thể dùng pho-mát hay sữa chua thay cho sữa hoặc chọn loại sữa đã được giảm bớt lactose.
- Dùng kèm với men lactase dạng tổng hợp (Lactaid) hiện có bán trên thị trường. Có thể uống một viên hay mươi giọt Lactaid trước khi uống sữa.

Calci trong sữa 
Calci có trong rất nhiều loại thực phẩm, nhưng theo nhiều nhà dinh dưỡng thì sữa vẫn là nguồn cung cấp calci nhiều và tốt hơn cả.
Theo mức tiêu thụ hiện nay, sữa cung cấp tới 73% tổng số calcium trong tất cả các loại thực phẩm, và calcium trong sữa được cơ thể hấp thụ dễ hơn. Không thực phẩm nào cung cấp được lượng calcium tương dương như sữa.

Chẳng hạn như muốn có lượng calcium tương đương với một ly sữa , ta phải ăn bốn ly súp lơ trắng, bốn ly đậu, ba ly cải xoăn, hoặc một ly hạt hạnh nhân.
Ngoài ra sữa còn có nhiều chất đạm, riboflavin, sinh tố A và D có thể giúp sự hấp thụ calci dễ dàng hơn.
Nhiều người cũng e ngại là nếu dùng nhiều calci quá thì có hại.

Theo các nhà dinh dưỡng, mỗi ngày ta cần 1,200 mg calci, với lượng tối đa có thể chấp nhận được là 2,500 mg và nếu chỉ dùng quá nhiều trong một vài ngày thì không sao. Nếu dùng nhiều hơn nữa và kéo dài liên tục thì sẽ có ảnh hưởng không tốt cho thận, mắt, và gây các triệu chứng như ăn mất ngon, mệt mỏi, ói mửa, suy nhược…

Sữa mẹ 
Hiện nay, không ai phủ nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ có nhiều lợi điểm hơn sữa bò. Xin tìm hiểu thêm về vấn đề  này.
Các nhà y học đều đồng ý là trẻ bú mẹ được cung cấp những chất dinh dưỡng hoàn hảo và đầy đủ nhất. Ngoài ra còn có các lợi điểm sau:
a- Sữa mẹ hội đủ những nhu cầu dinh dưỡng của hài nhi trong mấy tháng đầu sau khi sanh.

b- Sữa mẹ không tốn tiền mua, sẵn sàng khi cần mà không phải pha chế.

c- Sữa được chứa trong vú, rất an toàn, không sợ nhiễm chất có hại, lại ở nhiệt độ thích hợp, không phải hâm nóng.

d- Có sẵn một số kháng thể giúp con tăng cường hệ thống miễn nhiễm

e- Sữa mẹ có nhiều đường lactose giúp trẻ hấp thụ calci và sắt dễ dàng hơn cũng như ngăn chặn sự tăng trưởng của vi sinh vật trong ruột.

f- Chất đạm trong sữa mẹ chỉ bằng 1/3 trong sữa bò, nhưng dễ tiêu hơn và có nhiều chất làm tăng cường hệ miễn nhiễm của trẻ.

g- Chất béo trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò một chút nhưng hầu hết thuộc nhóm bất bão hòa, ít có tác dụng xấu.

h- Sữa mẹ có đủ các sinh tố hòa tan trong nước và trong chất béo, ngoại trừ sinh tố D, cho nên trẻ em bú sữa mẹ cần dùng thêm sinh tố này.

i- Những giọt sữa non (colostrum) trong mấy ngày đầu sau khi sinh có nhiều chất đạm, ít lactose và chất béo, có nhiều kháng thể. Sữa non có tác dụng nhuận tràng rất tốt và giúp kích thích chức năng bài tiết của ruột.

j- Sữa mẹ còn bảo vệ trẻ chống lại  các bệnh nhiễm trùng màng não, ruột, hô hấp. ..

k- Khi lớn, trẻ em nuôi bằng sữa mẹ cũng ít bị một số bệnh như dị ứng, béo phì, tiểu đường, suyễn, vài bệnh tim, phổi cũng như vài loại ung thư.

l- Nuôi con bằng sữa mình, bà mẹ cũng có nhiều lợi ích. Quan trọng nhất là đã tạo ra tình cảm gắn bó, ràng buộc thân yêu mẹ và con.

Ngoài ra, khi con ngậm hút núm vú, dạ con của mẹ được kích thích mau co trở lại kích thước bình thường do đó bớt băng huyết. Người mẹ cũng bớt mập.
Đây cũng là cách ngừa thai tự nhiên vì khi cho con bú sữa thì sự rụng trứng của người mẹ cũng như thời gian trở lại vòng kinh sẽ chậm lại khoảng 10 tuần lễ, có khi đến một năm.
Người mẹ cũng giảm thấp được nguy cơ ung thư vú và loãng xương khi vào tuổi mãn kinh.

Rủi ro của sữa 
Mặc dù có nhiều lợi điểm, nhưng sữa cũng có thể mang lại một số rủi ro cho người dùng, nhất là khi lạm dụng sữa quá mức bình thường..
a- Là thực phẩm từ động vật, sữa nguyên trạng là nguồn chất béo bão hòa và cholesterol đáng kể mà hai chất này khi tiêu thụ nhiều lại là những nguy cơ gây ra bệnh tim mạch. Cho nên cần giới hạn cholesterol không quá 300 mg và số calori do chất béo không quá 30% tổng số nhu cầu calori trong ngày. Nếu dùng, nên chọn các loại sữa ít béo hoặc không béo.

b- Sữa là một trong 12 loại thực phẩm dễ gây ra dị ứng, với các triệu chứng như nổi ban ngứa trên da, sưng môi và mi mắt, khó chịu trong hệ tiêu hóa.

c- Hiện tượng bất dung sữa có đường lactose, như đã trình bày.

d- Sữa tươi chưa nấu có thể nhiễm vi khuẩn Salmonella, Listeria, gây ra các triệu chứng như là ói mửa, tiêu chẩy

e- Calci trong sữa có thể làm giảm công hiệu của vài loại thuốc kháng sinh như Terramycin, Minocin, Vibramycin khi dùng chung với nhau.

Kết luận
Sữa là nguồn dinh dưỡng dồi dào và thích hợp với mọi lứa tuổi, là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe con người. Chỉ cần hiểu biết đầy đủ và không lạm dụng thái quá, sữa không mang lại những rủi ro nghiêm trọng về sức khỏe như một số thực phẩm khác, chẳng hạn như thịt, chất béo…

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 04/Oct/2018 lúc 6:51am

Có nên ăn lòng trứng đỏ mỗi ngày?

baomai.blogspot.com
Nhiều người tin rằng, ăn lòng đỏ hằng ngày sẽ có tác dụng ngược gây hại cơ thể.

Trứng là một trong những thực phẩm phổ biến trong thực đơn hằng ngày vì dễ ăn và dễ chế biến thành nhiều món khác nhau. Mặc dù trứng từ lâu nổi tiếng là có nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe nhưng có nhiều người tin rằng, ăn nhiều trứng hoặc ăn trứng mỗi ngày, đặc biệt là lòng đỏ, sẽ có tác dụng ngược gây hại cơ thể.

Để đi tìm cho câu hỏi liệu ăn lòng đỏ trứng mỗi ngày có thật sự nguy hiểm hay không, trang mạng Livestrong có buổi phỏng vấn ngắn với chuyên gia dinh dưỡng Kelly Plowe, chủ nhân trang mạng chuyên về sức khỏe BeachBody on Demand.

baomai.blogspot.com

“Nếu cho tôi chọn 10 món ‘superfood’, chắc chắn sẽ có trứng trong danh sách này,” chuyên gia Kelly Plowe cho biết. “Bạn có thể chế biến nhiều món ăn với trứng khác nhau, từ trứng chiên ốp la, chả trứng hay đơn giản chỉ luộc quả trứng để ăn vào buổi sáng. Tôi bảo đảm với bạn rằng, đây là những bữa sáng nhanh gọn lẹ cho bạn mà cung cấp đầy đủ dưỡng chất.”

Lòng trắng trong trứng có mặt trong rất nhiều cách ăn kiêng vì nó có chứa nhiều protein. Một số người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng lòng đỏ của trứng có chứa khoảng ba gram protein, gần bằng một nửa lượng protein có trong trứng.”

baomai.blogspot.com

Lòng đỏ cũng là nơi có rất nhiều cholesterol, với trung bình khoảng 185mg mỗi quả. Trung Tâm Tim Mạch Hoa Kỳ khuyến cáo phương thức ăn uống chỉ giữ lượng 300mg mỗi ngày, vì vậy việc lòng đỏ có gần 200mg thì không đáng kể.

baomai.blogspot.com
  
Không chỉ giàu protein, lòng đỏ còn chứa rất nhiều vitamin D, phosphorus, riboflavin, choline và selenium, là những chất được xem là khoáng chất rất cần thiết và tốt cho cơ thể.

Vì vậy, ăn một quả trứng mỗi ngày không có gì là hại cho sức khỏe, ngược lại còn đem lại nhiều lợi ích khác.

baomai.blogspot.com
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 06/Oct/2018 lúc 10:48am

6 cách ăn uống phòng ngừa ung thư rất dễ thực hiện

baomai.blogspot.com  
Ung thư là sự phát triển vô độ của tế bào trong quá trình phân chia. Thực phẩm, ăn uống được xem là một trong những tác nhân có liên quan giúp thúc đẩy bệnh ung thư phát triển.

35% do ăn uống

baomai.blogspot.com
  
Mỗi năm nước ta ghi nhận thêm 126.000 trường hợp mắc ung thư mới và trên 94.000 người tử vong do ung thư, cao hơn 9 lần số ca tử vong do tai nạn giao thông.

Nói đến bệnh ung thư ai cũng sợ, trong đó có nhiều người cho rằng đây là "cửa tử". Bác sĩ Wynn Huynh Tran công tác tại Mỹ cho biết ung thư là một bệnh lý nguy hiểm nhưng con người ta không chết vì ung thư tại vị trí đó mà thường chết do ung thư di căn sang các bộ phận khác.

baomai.blogspot.com
  
Ung thư phát sinh từ 1 tế bào mà ra. Trong khi đó mỗi ngày tế bào đều được sinh ra và một tế bào ung thư và tế bào ung thư thì tế bào phát triển không kiểm soát khiến cho cơ thể có các mô ngày càng to ra và khi ta phát hiện nó thành khối u.

Những năm qua, với sự kết hợp cùng lúc cả 4 hướng: Phòng bệnh, phát hiện sớm, tăng cường chẩn đoán điều trị, chăm sóc giảm nhẹ, tỉ lệ chữa khỏi ung thư tại Việt Nam có nhích lên nhưng vẫn chỉ đạt khoảng 40%, thấp hơn nhiều so với các nước phát triển (70-80%).

5 loại ung thư thường gặp nhiều nhất ở nữ gồm: Ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư cổ tử cung và ung thư dạ dày.

baomai.blogspot.com
  
5 loại ung thư nhiều nhất ở nam giới gồm: Ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đầu trực tràng và ung thư thực quản.

Trong các yếu tố gây ra ung thư thì ăn uống chiếm tới 30% thúc đẩy tế bào ung thư phát triển. Trong đó chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, ít rau quả làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng và ung thư vú.

baomai.blogspot.com
  
Các chất bảo quản thực phẩm, nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc hoá học, các chất trung gian chuyển và sinh ra từ thực phẩm nấm mốc, lên men (cà, dưa muối) gây ra nhiều loại ung thư đường tiêu hoá như: Dạ dày, gan, đại tràng, thực quản...

6 quy tắc ăn uống

Bác sĩ Wynn Huynh Tran đã đưa ra 6 nguyên tắc ăn uống để phòng bệnh ung thư.

baomai.blogspot.com
  
1. Uống nhiều nước: Uống ít nhất 2 lít nước/ngày, uống nhiều lần trong ngày, không đợi khát mới nước, uống kèm nước với trái cây, rau củ. Nếu không uống nước cũng giống như chúng ta chạy xe không đổ xăng, dầu. Động cơ không hoạt động được và con người cũng thế, nước vô cùng quan trọng.

Chúng ta có thể nhịn ăn 30 ngày nhưng nếu không uống nước 2 ngày thì có thể nguy hiểm tới tính mạng.

baomai.blogspot.com
  
2. Ăn nhiều rau củ quả: Ăn nhiều rau cải, bất kỳ rau củ quả tươi nào cũng đều có các chất tốt trong phòng chống ung thư. Bữa cơm nhiều màu thì càng tốt như cà rốt, cải tím. Không nhất thiết phải ăn rau quả hữu cơ nếu không có tiền ăn rau quả tươi thường đều được và đừng bao giờ ăn đồ hộp vì rau quả trong đồ hộp bắt buộc phải có phụ gia.

baomai.blogspot.com
  
3. Giảm thịt động vật: Hạn chế thịt đỏ, trong thịt đỏ như thịt bò, heo chứa các chất kích thích viêm. Nhiều nghiên cứu trong thịt đỏ có chất này theo thời gian dễ biến thành tế bào ác tính.

Những món thịt đỏ chế biến ăn rất ngon nhưng nguy hiểm, thịt đỏ xào, chế biến tạo ra các phản ứng từ sinh ra Acrylamide – một hoá chất có thể gây ung thư.

baomai.blogspot.com
  
4. Ăn uống đa dạng: Người Việt Nam hay ăn nước mắm, xì dầu ít ai ăn dầu ô liu, ăn nhiều đồ khác nhau thì tế bào ung thư khó phát triển. Ăn nhiều trái cây, củ, hạt. Các loại gạo lứt, muối mè có nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ.

baomai.blogspot.com
  
5. Giảm chiên xào áp chảo: Giảm đồ chiên xào vì thức ăn chế biến nhiệt độ cao với dầu ăn tăng rủi ro ung thư. Người Nhật Bản và Hàn Quốc có tỷ lệ ung thư dạ dày, tiêu hoá cao cũng vì thói quen hay ăn đồ ăn chiên, xào, nướng.

baomai.blogspot.com
  
6. Ăn cho ngon, không ăn cho no: Ăn vừa phải giúp bao tử và hệ tiêu hoá của mình khoẻ mạnh. Ăn đủ ngăn ngừa các bệnh tiểu đường, dinh dưỡng, có thể dẫn đến ung thư.

baomai.blogspot.com
  
Ngoài ra, cũng nên biết chăm sóc tinh thần. Người Việt ít để ý đến chăm sóc bữa ăn tinh thần, “buồn phiền - lo nghĩ” là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh. Có những thói quen nhỏ như nghe nước chảy, chim hót rất nhỏ thôi những cũng giúp chúng ta ngăn ngừa được bệnh tật trong đó có ung thư.

baomai.blogspot.com
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 10/Oct/2018 lúc 7:36am

Chứng Tiểu Đêm Ở Người Già

2356%201%20ChungTieuDemcuaNguoiGiaBS%20HVH%20DHST

   Trong chương trình hôm nay, bác sĩ Hiền giải đáp thắc mắc của thính giả Phạm Hạnh, hiện cư ngụ tại bang Maryland, Hoa Kỳ, về chứng đi tiểu đêm ở người già.

   Người lớn tuổi thường bị mất ngủ, lý do thường gặp nhất là phải đi tiểu nhiều ban đêm. Ngoài việc gây rối loạn giấc ngủ, bệnh nhân sáng sớm mệt mỏi, không nghỉ ngơi đầy đủ, nguy cơ té và có thể gẫy xương có thể là những chuyện nguy hiểm đi kèm theo chứng tiểu đêm.

   Bệnh nhân đàn ông có thể có những triệu chứng kèm theo làm cho bác sĩ nghĩ đến những nguyên nhân ở đường tiểu phía dưới (lower urinary tract): như ban ngày đi tiểu liên miên (urinary frequency, (trên 8 lần/ngày)), dòng nước tiểu yếu, cần đi tiểu ngay (urgency), hay són tiểu (urinary incontinence).

2356%202%20ChungTieuDemDHST

     Nguyên nhân chúng ta thường nghe đến là tuyến tiền liệt phì đại lành tính (benign prostate hypertrophy) (không phải ung thư) làm đường thoát ra của nước tiểu bị nhỏ lại và tiểu không thông, chia làm nhiều lần, do đó bác sĩ của vị thính giả đặt câu hỏi khuyên bệnh nhân đi mổ cắt tuyến tiền liệt. Phụ nữ có thể đi tiểu nhiều lần hơn lúc lớn tuổi, hoặc do kết quả sinh đẻ, hoặc do thói quen phụ nữ hay đi tiểu.

Vài ý niệm về cơ thể học:

2356%203%20ChungTieuDemDHST

   Chúng ta có hai trái thận (kidney, Fr: rein) hai bên, phía sau và phía trên bụng. Hai thận lọc máu và bài tiết nước tiểu, đi xuống hai ống niệu quản (ureter), vào bọng đái (bladder) nằm giữa, phía dưới bụng. Bọng đái người lớn có nước tiểu chừng 300ml thì mắc tiểu, nếu bộ óc cho phép “mở cửa” thì nước tiểu thoát ra niệu đạo (tiểu tiện), nếu nín thêm bọng đái có thể chứa đến 600ml là tối đa.

   Tuyến tiền liệt (prostate) là một tuyến ngoại tiết của bộ phận sinh dục nam, tuy nhiên gần đây người ta cũng đặt tên lại cho một số tuyến tương tự ở phái nữ là tuyến tiền liệt nữ (female prostate).

2356%204%20ChungTieuDemDHST

   Ở phái nam, tuyến nằm dưới và nằm ngay trước ngõ nước tiểu đi ra của bàng quang (bọng đái, bladder), từ đó được đặt tên khoa học là prostate, có nghĩa là “đứng [pro] trước [stat], giữ cửa”, từ tiếng Việt tiền liệt cũng theo nghĩa đó. Trước đây, chúng ta còn gọi là “nhiếp hộ tuyến”. Tuyến tiết vào tinh dịch một số thành phần giúp nuôi dưỡng các tinh trùng.

   Tuyến tiền liệt bao quanh, ôm lấy niệu đạo (urethra) là ống dẫn nước tiểu thoát ra từ bọng đái, nếu tuyến lớn quá (phì đại, hypertrophy), hoặc có ung bướu, tuyến có thể bóp nghẽn đường đi ra của nước tiểu và làm khó tiểu hoặc bí tiểu.

   Tuy nhiên, chứng đi tiểu đêm không phải luôn luôn do tuyến tiền liệt, và tôi xin nêu sau đây những tin tức để chúng ta cùng học hỏi. Xin nhắc lại, tôi không có mục đích định bệnh và chữa bệnh trong chương trình y học này, và quý vị cần theo dõi mọi hướng dẫn của bác sĩ quý vị.

2356%205%20ChungTieuDemDHST

Sau đây là những lý do khác nhau có thể gây chứng tiểu đêm:

1) Do nước tiểu nhiều lúc ban đêm (nocturnal polyuria):

  • -suy tim
  • -rối loạn chất nội tiết ADH (antidiuretic hormone, hay arginin vasopressin được hypothalamus của não bộ tiết ra) là chất đáng lẽ làm thận giữ lại nước nhiều hơn, làm nước tiểu cô đọng hơn, và thể tích nước tiểu giảm đi lúc ban đêm. Ngược lại ở một số người già có rất ít chất vasopressin này tiết ra ban đêm, nên lượng nước tiểu ban đêm quá nhiều.
  • -nước ứ phần dưới cơ thể (hạ chi), do các tĩnh mạch không hoạt động bình thường, do suy tim, do thiếu protein trong máu, do ăn mặn quá.
  • -uống thuốc lợi tiểu (diuretic) trước khi đi ngủ (ví dụ thuốc loại thiazide trị bệnh cao máu)
  • -ngưng thở (apnea) trong giấc ngủ vì bị đường hô hấp tắc nghẹt (obstructive sleep apnea), thiếu oxy trong máu gây ra áp suất trong động mạch phổi tăng, làm áp suất trong tâm nhĩ phải tăng và gây tác dụng tạo ra nước tiểu nhiều hơn.

2356%206%20ChungTieuDemDHST

   Nếu bệnh nhân ngáy to, thỉnh thoảng yên lặng không nghe tiếng thở, nhất là người mập, nên coi chừng có sleep apnea hay không, bằng cách đo polysomnogram (đo tim, nhịp thở, oxy trong hơi thở, não điện đồ cùng một lúc trong khi bệnh nhân ngủ). Nếu cần, dùng CPAP cho apnea (máy tạo nên áp suất dương thường trực trong đường hô hấp trong lúc ngủ.)

2) Bệnh nhân nói chung tạo ra quá nhiều nước tiểu:

- do bệnh tiểu đường (đái tháo đường, diabetes)

- đái tháo nhạt (diabetes insipidus, do tổn thương não bộ, hoặc do thận bị hư /nephrogenic diabetes insipidus)

- uống nước quá nhiều (polydipsia)

2356%207%20ChungTieuDemDHST

3) Do thể tích (dung tích, capacity) bọng đái quá nhỏ về đêm:

- hệ thần kinh bọng đái bất thường (neurogenic bladder) không kiểm soát được

- viêm bọng đái (bàng quang)(cystitis)

- ung thư bọng đái, tiền liệt, niệu đạo (cancer of the bladder, prostate, urethra)

- thói quen đi tiểu lúc bọng đái chưa đầy  (~300-600ml)

- “overactive bladder” (OAB) (bọng đái “quá hoạt động”)

- lo âu (anxiety)

- rượu, cafe

- thuốc men:

  • caffeine, theophylline trị thông cuống phổi, thuốc lợi tiểu,
  • thuốc beta blockers (dùng trị bệnh cao huyết áp, làm cơ detrusor bọng đái co lại tăng risk són tiểu), thuốc alpha blocker ( giản nở các sợi cơ cỗ bọng đái), thuốc lợi tiểu (dùng trị bệnh cao huyết áp).

-sạn trong bọng đái

2356%208%20ChungTieuDemDHST

   Nói chung, nếu cần nên đến bác sĩ gia đình để tìm xem chính xác nguyên nhân ở đâu, ngoài khả năng do tuyến tiền liệt gây ra. Nếu bác sĩ cho phép, có thể thử những biện pháp thông thường như:

  • Tránh uống nước quá nhiều, nhất là tối, 6h trước khi đi ngủ, ăn trái cây khô trước khi đi ngủ để giảm bớt nước tiểu ban đêm.
  • Tránh cà phê, trà, rượu, bia (la ve) và những thuốc lợi tiểu nếu có thể được.
  • Kê chân lên cao (lúc ngồi, nằm) ban ngày để tránh nước tụ xuống hai chân, mang vớ bó chặt để giảm bởt phù hai chân.
  • Cẩn thận thắp đèn sáng, nếu cần đi khám mắt xem thị lực có tốt không, có bị cườm mắt hay không, để tránh té, tai nạn lúc đi tiểu đêm.

Chúc bệnh nhân may mắn.

BS-HVH

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 13559
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 11/Oct/2018 lúc 8:02am

Trứng Và Những Điều Cần Biết

Trứng loại A thì lòng trắng trải mỏng hơn, lòng đỏ rắn chắc. (Hình: npr.org)

Đi học mà được thầy cô phết cho hai “quả trứng” thì về nhà chắc chắn lại được thưởng thức thêm vài con lươn đỏ mông đít. Nhưng được ăn hai quả trứng gà ốp la hoặc hai cái hột vịt lộn thì ta đã có một lượng dinh dưỡng đáng kể cho ngày hôm đó. Trứng mà mọi gia đình thường dùng là trứng gà, trứng vịt. Đôi khi cũng là trứng ngỗng, trứng ngan hoặc trứng chim cút, chim bồ câu.

Trứng là một thực phẩm có nhiều công dụng khác nhau.
Trứng có thể được chế biến đơn độc theo nhiều cách để cho những món ăn ngon, nhưng cũng có thể được nấu chung với một số loại thực phẩm khác và làm tăng phẩm chất cũng như dáng vẻ hấp dẫn cho  món ăn. Trứng cũng có thể kết hợp các gia vị với nhau, làm cho món ăn trở nên mềm xốp hoặc nở to hơn.

Cấu tạo của trứng
Trứng có một lớp vỏ bằng chất vôi với nhiều lỗ nhỏ li ti. Vỏ được một lớp chất nhầy mucin bao phủ để che chở và giữ trứng được tươi. Khi rửa lớp mucin này đi thì các lỗ nhỏ sẽ mở đường cho vi khuẩn xâm nhập, làm trứng mau khô và mau hư.
Mặt trong vỏ trứng còn hai lớp màng mỏng nữa để bảo vệ phẩm chất của trứng.
Lòng trắng trứng có ba lớp: hai lớp mỏng phủ lên một lớp dày.
Lòng đỏ nằm ở trong cùng và được hai sợi dây chằng ở hai đầu gắn chặt vào lòng trắng.
Lòng đỏ và lòng trắng khác nhau ở số lượng nước và chất béo. Lòng trắng không có chất béo và có nhiều nước hơn (87%) so với lòng đỏ (50%).

Giá trị dinh dưỡng
Về phương diện dinh dưỡng, trứng là một món quà tuyệt hảo của thiên nhiên dành cho chúng ta. Chứa đựng trong cái vỏ mỏng manh, lòng đỏ và lòng trắng của trứng là:
-Cả một nguồn chất dinh dưỡng phong phú cần thiết cho mọi người.
-Thực phẩm rất phổ thông, giá phải chăng mà nhiều người cho là còn bổ dưỡng hơn cả sữa bò, sữa dê.
-Món điểm tâm hoặc trong các bữa ăn chính với nhiều cách nấu nướng khác nhau.
-Dễ dàng hòa lẫn với nhiều thực phẩm khác để tạo ra các món ăn đa dạng, hấp dẫn, nhiều dinh dưỡng.
Chất đạm của trứng có đủ các loại amino acid cần thiết cho cơ thể mà theo một số nghiên cứu, còn tốt hơn đạm của thịt, rau hoặc sữa. Chất đạm này hoàn hảo đến mức mà nhiều khoa học gia dùng làm tiêu chuẩn để đo lường giá trị dinh dưỡng chất đạm trong các thực phẩm khác.

Trứng không có carbohydrat.
Lòng đỏ có một lượng chất béo đáng kể mà cholesterol là thành phần chính. Mục đích của trứng là tạo ra một sinh vật mới, đó là con gà con. Cholesterol rất cần thiết cho sự tạo sinh này.
Cholesterol giữ một vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Nó cần thiết cho sự dẫn truyền các tín hiệu thần kinh, chế tạo các loại kích thích tố.

Thường thường thực phẩm chỉ cung cấp khoảng 30% cholesterol, phần còn lại là do cơ thể sản xuất. Ngoài nguồn cung cấp từ chất béo, mức độ cholesterol trong máu còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác như sự vận động cơ thể, căng thẳng, gene di truyền, thực phẩm ít chất xơ, thiếu các loại sinh tố… Nhưng khi cholesterol trong máu lên quá cao thì lại có hại vì khoa học đã xác nhận đó là một trong nhiều nguy cơ đưa tới các bệnh về tim.
Lòng đỏ có nhiều chất sắt và sinh tố A. Lượng sinh tố A này nhiều ít tùy theo thực phẩm dùng để nuôi gà mái.
Trứng là nguồn cung cấp sinh tố D nhiều thứ nhì sau dầu gan cá. Sinh tố D thay đổi tùy theo mùa, vì khi gà mái tiếp cận với nhiều ánh nắng mặt trời thì đẻ ra trứng có nhiều sinh tố D hơn khi chúng ở trong nhà.
Lòng trắng trứng không có chất béo và cholesterol nhưng có nhiều loại chất đạm như ovalbumin, ovomucin, livetin.

Khi ăn sống, lòng trắng sẽ dẫn vào cơ thể một chất đạm độc gọi là avidin. Chất này gây ra bệnh khiếm khuyết sinh tố, được  gọi là bệnh “lòng trắng trứng.” Avidin thường bám vào sinh tố B Biotin, tạo thành một hợp chất không hòa tan khiến cho cơ thể không hấp thụ được sinh tố này.

Trung bình mỗi quả trứng có 6 gr đạm, 5 gr chất béo, 600 unit sinh tố A, 250 mg cholesterol, 3 mg sắt, các loại sinh tố B (nhất là B12), sinh tố E và một ít đồng, kẽm và cung cấp 80 calorie mà hầu hết từ chất béo của lòng đỏ. Trứng không có sinh tố C.
Trứng cũng có nhiều chất choline, cần thiết cho tế bào thần kinh và cấu trúc của các loại tế bào.

Trứng trong y học
Ngoài giá trị dinh dưỡng, trứng còn được nghiên cứu để trị bệnh.
-Bác Sĩ Robert Yolken của Trung Tâm Y Khoa John Hopkins, nhận thấy trứng gà thường hay nhiễm loại siêu trùng rotavirus, một trong nhiều nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy trẻ em. Do đó lòng đỏ trứng có nhiều kháng thể với virus  này. Bác Sĩ Yolken và cộng tác viên đã chế biến immunoglobulin (Ig) trị tiêu chảy trẻ em bằng cách cấy rotavirus vào gà. Khi gà đẻ ra trứng thì lấy lòng đỏ của loại trứng này để chế tạo immunoglobulin.
-Lòng trắng trứng đánh nhuyễn, thoa trên mặt làm da mềm, nhẵn vì khi lớp trứng này khô đi, chất đạm sẽ lấy hết các tế bào chết trên da. Khi pha với thuốc gội đầu, chất đạm trong trứng làm tóc óng mượt.
-Đã có một thời kỳ trứng được coi là không tốt vì có nhiều cholesterol, một nguy cơ gây bệnh cho động mạch vành.
Một nghiên cứu dài ngày vào (năm 1913 do khoa học gia người Nga Nicolai Anichkov thực hiện vào những con thỏ, được nuôi với 60 quả trứng một ngày. Kết quả là trong động mạch của thỏ có nhiều cholesterol bám vào.

Rồi tới năm 1984, tuần báo Time công bố kết quả một cuộc nghiên cứu cho thấy cholesterol cao đưa tới bệnh tim và khi uống thuốc hạ cholesterol thì bệnh tim giảm đi. Bài báo khuyên dân chúng không nên ăn bơ và trứng vì hai thứ này gây ra bệnh tim mạch. Thực ra nghiên cứu này không đả động gì tới ảnh hưởng của thực phẩm với cholesterol nên lời khuyên không ăn trứng là thiếu căn bản khoa học. Mặc dù vậy, bài báo đã có tác động đến tâm lý quần chúng khiến cho rất nhiều người giới hạn việc ăn trứng, nhất là lòng đỏ.

Không cần rửa trứng trước khi xếp vào tủ lạnh. (Hình: foodandnutrition.org)

Kết quả nghiên cứu công bố năm 1999 của khoa học gia Frank B. Hu cho thấy là không có bằng chứng nào về sự liên hệ giữa việc ăn một quả trứng mỗi ngày với nguy cơ gây bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim. Tác giả kết luận việc loại bỏ trứng trong khẩu phần dinh dưỡng là điều không cần thiết.

Theo Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (American Heart ***ociation), ta có thể ăn mỗi tuần bốn lòng đỏ trứng.
Tuy nhiên, trứng là một trong 12 loại thực phẩm dễ gây ra dị ứng cho cơ thể của một số người: làm sưng môi và mắt, làm nổi ngứa mề đay, làm bao tử khó chịu. Do đó, những ai bị dị ứng với trứng đều không được dùng thuốc chủng ngừa sống phòng bệnh sởi, bệnh quai bị, hoặc thuốc ngừa bệnh cúm vì các thuốc này được nuôi dưỡng bằng dung dịch trứng.

Trứng dễ bị nhiễm trùng Salmonella Enteritis, gây ra bệnh tiêu chảy trầm trọng có thể chết người, nhất là đối với quý vị cao tuổi và trẻ em, đàn bà có thai, người suy yếu hệ thống miễn dịch như ung thư hoặc đang đau yếu.

Năm 1994, tại  Hoa Kỳ, có hơn 200,000 người trúng độc khi ăn kem được chuyên chở trong một xe vận tải trước đó mới chở trứng. Điều đó chứng tỏ rằng chỉ cần một chút trứng nhiễm trùng cũng đủ gây bệnh. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có trên 600 người chết và gần 700,000 người bị bệnh vì ăn trứng nhiễm Salmonella. Dó đó, nên tránh ăn trứng sống hay trứng ngâm nước sôi.

Vài điều về trứng
1-Phân loại: Tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, trứng được phân chia theo cỡ lớn nhỏ và loại hạng (size và grade).
a-Cỡ lớn nhỏ khác nhau tùy theo sức nặng của một tá trứng. Trứng càng to thì càng đắt nhưng lại nhiều chất liệu hơn, tuy nhiên phẩm chất đều giống nhau. Trứng lớn (large) là loại thường dùng trong việc nấu nướng.
b-Hạng. Trứng cũng được chia ra hạng AA, A và B vì mục đích khác nhau khi nấu nướng chứ không phải vì tốt xấu.
Khi đập vỏ, thả vào chảo hay trên mặt bằng, trứng loại AA nằm thu gọn trong phạm vi nhỏ của chảo, lòng trắng trứng dày, lòng đỏ săn chắc, không xẹp, nằm ngay giữa và giữ nguyên hình dạng này sau khi chiên hoặc chần. Khi cắt đôi quả trứng luộc chín, lòng đỏ nằm gọn ở giữa lòng trắng.
Trứng loại A thì lòng trắng trải mỏng hơn, lòng đỏ rắn chắc.
Trứng loại B khi đập trong chảo thì trải rộng ra, lòng trắng lỏng, lòng đỏ xẹp mỏng. Cắt đôi quả trứng chín, lòng đỏ nằm lệch sang một bên.
Thành ra khi muốn trứng có hình thù đẹp sau khi tráng thì dùng trứng loại AA, còn khi làm món ăn với trứng đánh tan thì trứng nào cũng được. Trứng cũ, lòng trắng cũng loãng hơn, nên khi đập ra chảo, trứng lan rộng ra và nom như lớn hơn.

2-Màu sắc: Nhiều người thích trứng có vỏ màu nâu hoặc màu trắng. Nhưng theo các nhà chuyên môn thì giá trị dinh dưỡng của hai loại trứng đều như nhau.
Màu của vỏ trứng không liên quan gì tới phẩm chất cũng như sự mới hay cũ của trứng mà tùy thuộc loại gà: gà mái lông và tai trắng đẻ trứng màu trắng, gà lông và tai màu đỏ đẻ trứng màu nâu. Nhưng trứng màu trắng vẫn thông dụng hơn và lại rẻ hơn. Còn trứng do gà nuôi bằng thực phẩm không pha hóa chất (organic eggs) lại đắt hơn trứng thường nhưng giá trị dinh dưỡng cũng như nhau.

Đôi khi ta thấy một vết máu nhỏ trên lòng đỏ mà nhiều người cho là trứng đã ấp hoặc hư. Thực ra đó chỉ là một mạch máu nhỏ bị vỡ trong khi trứng thành hình, nên trứng đó không hư và vẫn ăn được. Lòng đỏ trứng có thể đậm hay nhạt tùy theo chất màu thiên nhiên trong thực phẩm nuôi gà vịt.

Đôi khi luộc trứng xong thấy chung quanh lòng đỏ có một vòng màu đen. Đó là do luộc quá lâu hoặc do chất sắt trong lòng đỏ tác dụng với hơi hydrogen sulfite trong lòng trắng trứng gây ra. Thật ra thì  chứ trứng này vẫn tốt, chỉ  mất đẹp một chút. Muốn tránh hiện tượng này, có thể luộc trứng đúng thời hạn rồi ngâm ngay vào nước lạnh.

Mua và cất giữ trứng
Tại nhiều quốc gia, trước khi mang ra bán, trứng đều được các cơ quan canh nông hoặc y tế kiểm tra để bảo đảm sự an toàn cho người tiêu thụ. Từ cách thu lượm trứng, lau rửa, giữ ở nhiệt độ thích hợp, phân loại tới đóng hộp, đóng dấu nhãn hiệu đều được quan sát kỹ lưỡng.

Trứng được đặt vào những dụng cụ điện tử đặc biệt để soi nhìn xem lòng đỏ và lòng trắng có toàn vẹn không. Đôi khi nhân viên kiểm tra còn đập bất cứ một quả trứng nào đó để kiểm soát.
Nhiều người sành ăn nhận thấy rằng trứng có mùi vị khác nhau, đó là tùy theo thực phẩm nuôi gà và môi trường sống của gà.
Khi chọn mua trứng, chỉ mua trứng còn nguyên vẹn, vỏ không nứt và sạch.
Nên để ý tới ngày trứng hết hạn được bán, và chỉ mua trứng được bày trong ngăn tủ lạnh vì để ở ngoài không khí, nhiệt độ trong phòng làm cho trứng rất mau hư và dễ nhiễm độc.
-Mang trứng về nhà, nên cất ngay vào tủ lạnh, xếp đầu nhọn xuống dưới, đầu to quay lên trên. Đầu to vỏ cứng hơn, khó vỡ, đồng thời cũng để cho lòng đỏ nằm gọn trong sự che chở của chất kháng sinh ở lòng trắng. Tốt hơn hết là giữ trứng trong hộp nguyên thủy từ tiệm hoặc trong hộp có nắp đậy. Giữ như vậy, trứng vẫn còn tốt, an toàn tới ba tuần lễ. Đôi khi nếu cất giữ ở nhiệt độ thấp và nơi khô ráo, trứng có thể vẫn còn tốt tới sáu tháng.

Tránh để trứng gần thực phẩm có mùi như hành, tỏi vì trứng dễ hút mùi của các thực phẩm này.
-Không cần rửa trứng trước khi xếp vào tủ lạnh. Trên vỏ trứng, có một lớp màng mỏng tự nhiên hay do nông trại nhúng trứng vào một loại dầu không mùi, vô hại để che chở cho trứng khỏi bị vi khuẩn xâm nhập cũng như tránh thất thoát độ ẩm và khí carbon dioxide trong trứng. Vỏ trứng rất xốp để trứng có thể thở. Nhưng đây cũng là nhược điểm vì trứng cũ sẽ mất bớt carbon dioxide khiến hương vị trứng giảm bớt, khoảng không khí ở đầu quả trứng tăng, lòng trắng đổi sang vị kiềm.

-Trứng còn tươi khi đập khỏi vỏ thì lòng đỏ tròn đầy với lòng trắng đặc quánh bao chung quanh. Trứng hư, lòng đỏ xẹp, lòng trắng vữa loãng. Trứng mới thì lòng trắng đục mờ như sữa, đôi khi còn dính vào vỏ khi ta đập trứng ra; trứng cũ thì lòng trắng nom trong hơn.
Trứng đã nứt vỏ rất mau hư nên cần nấu ngay. Ra khỏi vỏ, trứng có thể giữ trong hộp đậy kín, cất trong tủ lạnh vài ngày. Lòng trắng trứng có thể giữ được một tuần trong tủ lạnh hoặc dăm tháng trong tủ đông lạnh, nhưng lòng đỏ thì chỉ giữ trong tủ lạnh độ vài ngày là hư. Nên thả lòng đỏ trong một bình nước lạnh đậy kín để giữ được lâu hơn.

Nhiều người tò mò thấy hai đầu lòng đỏ có hai sợi lòng trắng đặc hơn, đó là cách tự nhiên để giữ cho lòng đỏ nằm ở trung tâm trứng.
Ngoài trứng nguyên trái, còn có các loại trứng chế biến như bột, trứng nước, trứng sấy khô hoặc trứng đông lạnh mà giá trị dinh dưỡng cũng giống như trứng tươi. Trứng chế biến thường phải mua trực tiếp từ nhà sản xuất và được dùng rất nhiều trong kỹ nghệ làm bánh ngọt, mì, kem…

Thử trứng
Để thử xem trứng mới hay cũ, có thể làm như sau: trứng mới khi thả vào nước lã hoặc nước pha muối thì chìm xuống đáy. Trứng để lâu, không khí vào nhiều, túi hơi trong trứng lớn, trứng sẽ nổi trên mặt nước. Khi mới đẻ ra, trứng còn ấm, lòng trắng lòng đỏ tràn ngập trứng. Khi nguội lạnh, ruột trứng teo, tạo ra túi không khí. Trứng mới túi nhỏ, trứng càng cũ túi càng lớn.

Luộc trứng
Vì vỏ xốp, vi khuẩn Salmonella dễ xâm nhập trứng nên cần luộc lâu khoảng mươi phút ở nhiệt độ ít nhất là 70 độ C đến 80 độ C để tiêu diệt vi khuẩn này. Không nên luộc lâu quá vì trứng sẽ cứng, mất ngon.

Sau khi luộc, ngâm trứng ngay vào trong nước lạnh chứ đừng để trứng nằm trong nồi chờ nguội. Lý do là vì trong khi luộc, vỏ trứng thay đổi cấu tạo, vi khuẩn dễ đi qua. Ngâm trong nước lạnh cũng làm bóc vỏ dễ dàng hơn. Dễ hơn nữa là sau khi ngâm nước đá lạnh, bỏ trứng vào nước nóng mươi giây đồng hồ rồi bóc.

Đôi khi ta thấy một vệt mầu xám nằm giữa lòng trắng và lòng đỏ quả trứng luộc. Đó chỉ là chất ferrous sulfit do tác dụng của sắt trong lòng đỏ và sulfur trong lòng trắng, ăn không nguy hại gì.

Trứng chiên
Trứng chiên thường được dùng trong bữa điểm tâm, có thể làm theo hai cách. Cách thứ nhất là trứng được chiên chậm rãi với lượng mỡ phủ kín mặt trứng. Cách thứ hai là chỉ dùng một lớp mỏng chất béo để trứng không dính vào chảo, còn mặt trên của trứng thì phủ với một chút nước để bao che trứng.
Trứng ngon khi lòng trắng trở nên hơi dày, có màu trắng, còn lòng đỏ thì không vỡ, bao phủ với một lớp lòng trắng. Khi chiên, nên giữ nhiệt độ thấp.
Làm trứng ốp la hay tráng trứng khuấy đều, nấu lâu chừng 3 phút, cho trứng săn chắc, không còn chảy nước.

Thay đổi khi nấu nướng
Nấu nướng đưa tới một số thay đổi như:
-Thường thường sau khi nấu, chất dinh dưỡng của trứng giảm đi chút ít.
-Sau khi nấu, trứng cho màu sắc, hương vị đặc biệt.
-Trứng cũng có công dụng tập hợp các gia vị khác với nhau.
-Chất đạm ở lòng đỏ và lòng trắng đông lại khi đun nóng. Lòng đỏ lại giữ không khí nên khi làm bánh ngọt thì bánh nở to.
Cấu trúc của trứng thay đổi sau khi nấu. Nhỏ lửa, lòng trắng săn lại và mềm, lòng đỏ mịn. Nấu quá lâu ở nhiệt độ cao thì lòng trắng săn, cứng còn lòng đỏ lại khô như bột.

BS Nguyễn Ý Đức
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 117 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 11.375 seconds.