Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Sức Khỏe - Y Tế
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Khoa Học - Kỷ Thuật :Sức Khỏe - Y Tế  
Message Icon Chủ đề: CÁC THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE Gởi trả lời Gởi bài mới
Trang  of 146 phần sau >>
Người gởi Nội dung
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Chủ đề: CÁC THÔNG TIN VỀ SỨC KHỎE
    Gởi ngày: 12/Jul/2009 lúc 9:00am

Nước bọt cũng chữa được bệnh

 
Súc miệng sáng bằng trà sẽ cho nước bọt tốt để dưỡng sinh

 - Từ xa xưa, cổ nhân đã biết đến công dụng của nước bọt đối với sức khoẻ và bệnh tật.


Theo dược học cổ truyền, nước bọt có vị mặn, tính bình, không độc, là một loại tân dịch hình thành bởi sự kết hợp tinh tuý nhất giữa nước và ngũ cốc, có công dụng nhuận ngũ tạng, bổ não ích tuỷ, làm tăng nguyên khí, giải độc, làm sáng mắt, mềm da và kéo dài tuổi thọ. Thường được dùng để bồi bổ tạng phủ, chữa mụn nhọt sưng đau, ghẻ lở, phỏng da, giải độc...

Y thư cổ viết: “Nước bọt nhiều, ngậm trong miệng và nuốt đi có thể nhuận ngũ tạng, làm đẹp da, làm con người trường sinh bất lão”.

 

Nhiều dưỡng sinh gia đời xưa đã rất quan tâm đến công dụng của nước bọt và chú trọng vận dụng phương pháp dưỡng sinh nước bọt để làm tăng tuổi thọ như Hoàng Phổ Long đời Tam Quốc, Lưu Kinh đời tiền Hán, Vương Chất đời Tấn (Trung Quốc)... mà nhờ đó đều sống đến hơn trăm tuổi.

 

Các vị này đều coi “nước bọt là một dòng suối của dưỡng sinh”. Bởi vậy, khi tạo ra chữ “sống”, người Trung Quốc đã ghép bộ “thuỷ” với bộ “thiệt” với ý nghĩa là nước ở bên lưỡi (nước bọt) với tác dụng quan trọng là tạo ra sự sống. Cũng với ý nghĩa đó mà nước bọt còn được gọi là thần thuỷ (nước thần), quỳnh dịch, ngọc tương (nước ngọc)...

 

Theo nghiên cứu hiện đại, mỗi ngày mỗi người tiết ra khoảng 1.000 – 1.500ml nước bọt. Thứ dịch thể này có vai trò làm hàng rào diệt vi khuẩn và virút xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng bởi chất bacteriolysin có tác dụng phân giải và hoà tan các vi khuẩn và virus. Ngoài ra, nước bọt còn có tác dụng cầm máu, làm lành vết thương, tăng khả năng hấp thụ và tiêu hoá thức ăn.

 

Theo giáo sư Tây Đồng (Nhật Bản), nước bọt còn có chức năng ức chế các tế bào ung thư, bởi vậy, để đề phòng ung thư đường tiêu hoá, khi ăn phải nhai kỹ, nuốt chậm để nước bọt hoà lẫn vào trong thức ăn một cách đầy đủ.

 

Các nhà nghiên cứu Pháp còn phát hiện trong nước bọt người có chất giảm đau mạnh hơn morphin nhiều lần được đặt tên là opiophin. Các nhà sinh học thuộc viện Sức khoẻ Mỹ cũng xác định trong nước bọt người và động vật có chứa một loại protein giúp mau lành vết thương và chống nhiễm khuẩn, được đặt tên là SLPI.

 

Nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy, trong nước bọt có nhiều IgA và các hormon có tác dụng thúc đẩy quá trình phân chia và sinh trưởng của tế bào, kéo dài tuổi thọ và làm giảm sự suy thoái của tổ chức cơ thể. Có nhiều phương pháp dưỡng sinh nước bọt, ở đây chỉ xin giới thiệu hai phương pháp dễ thực hiện nhất để bạn áp dụng:

 
Luyện công súc miệng : miệng mím, răng nghiến, dùng hai má lưỡi làm động tác như súc miệng, súc 36 lần. Khi trong miệng có nhiều nước bọt thì chia làm ba lần nuốt từ từ, trong khi nuốt tưởng tượng nước bọt được đưa tới đan điền (vùng dưới rốn). Thông thường, lúc mới tập nước bọt còn ít, luyện nhiều thì lượng nước bọt sẽ tăng lên.

Bài tập này có thể trừ bệnh thận, huyết mạch lưu thông, thọ niên trường.

 
Ngọc dịch dưỡng sinh : trước khi đi ngủ làm vệ sinh răng miệng cho sạch sẽ. Sáng dậy, đảo lưỡi từ bên phải sang trái ít nhất 10 lần rồi súc miệng cho ra nước bọt và nuốt dần. Người xưa cho rằng, nếu thực hiện đều đặn phương pháp này sẽ có công dụng làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ. 

Để có nước bọt tốt thì sáng sớm khi thức dậy chưa ăn uống gì cần phải chải răng và súc miệng thật sạch, tốt nhất là dùng nước chè đặc hoặc nước muối 0,9% để súc họng. 

Trị mụn nhọt, muỗi đốt bằng nước bọt

Theo kinh nghiệm dân gian, có thể dùng nước bọt buổi sáng để chữa mụn hạt cơm bằng cách bôi liên tục nước bọt vào buổi sáng từ 5 – 10 ngày, mụn hạt cơm sẽ tự teo và rụng đi mà không để lại dấu vết gì.

Ngoài tác dụng chữa mụn nhọt sưng đau, bỏng da nông, người ta còn dùng nước bọt chữa muỗi đốt rất hiệu quả bằng cách dùng nước bọt bôi liên tục 30 phút/lần sẽ có tác dụng làm hết ngứa và sưng đau.



Chỉnh sửa lại bởi ranvuive - 12/Jul/2009 lúc 9:17am
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 13/Jul/2009 lúc 8:19am
 
Hãy thuộc lòng 8 điều sau về cúm A(H1N1)
 
Bệnh có thể dự phòng được !
 
1. Cúm A (H1N1) là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi-rút cúm A (H1N1) gây ra. Bệnh có khả năng lây nhiễm cao từ người sang người, có khả năng gây đại dịch và biến chứng hô hấp, có thể gây tử vong. Hiện tại chưa có vắc-xin phòng, chống.
2. Bệnh lây qua đường hô hấp do tiếp xúc với vi-rút từ người bệnh thông qua dịch hắt hơi, sổ mũi trong thời gian một ngày trước đến bảy ngày sau kể từ khi có triệu chứng.
 3. Bệnh có các triệu chứng giống cúm mùa như sốt (trên 38oC), viêm đường hô hấp, đau họng, ho khan hoặc có đờm, đau đầu hoặc đau cơ, mệt mỏi, nôn, tiêu chảy...
4. Bệnh có thể diễn biến nặng gây viêm phổi, suy hô hấp, suy đa phủ  tạng và dẫn đến tử vong.
5. Bệnh có thể dự phòng thông qua rửa tay thường xuyên bằng xà-phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; súc miệng bằng nước sát khuẩn; đeo khẩu trang nơi đông người; làm thông thoáng nơi ở, sinh hoạt; hạn chế sử dụng điều hòa.
6. Nếu có các dấu hiệu như sốt, đau họng, cần hạn chế tiếp xúc với mọi người, đeo khẩu trang để phòng lây nhiễm và liên hệ với cơ quan  y tế gần nhất để được tư vấn và chăm sóc sức khỏe kịp thời.
7. Hành khách nhập cảnh từ vùng có dịch trong thời gian bảy ngày cần tự theo dõi sức khỏe và nếu có các dấu hiệu như sốt, đau họng, hắt hơi, sổ mũi cần hạn chế tiếp xúc với mọi người, đeo khẩu trang để phòng lây nhiễm, liên hệ với cơ quan y tế gần nhất để được tư vấn và chăm sóc sức khỏe kịp thời.
8. Ðường dây nóng thông báo trường hợp nhiễm cúm hoặc viêm phổi nặng
ÐT: 0989 617 115
Fax: 04 37366241
 


Chỉnh sửa lại bởi ranvuive - 13/Jul/2009 lúc 8:22am
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 13/Jul/2009 lúc 8:26am

Rau má có thể trị phỏng, ngộ độc

 Rau má có thể dùng làm rau luộc, nấu canh ăn rất tốt cho sức khoẻ.

Ngày hè nắng nóng, xay rau má tươi lấy nước uống giải khát, hoặc nấu nước uống. Có tác dụng giải nhiệt, tiêu độc, lợi tiểu. Mụn nhọt, chấn thương, bong gân: rau má lượng vừa đủ, giã nát đắp lên vết thương.

 Phỏng lửa, nước sôi : rau má nấu cô thành cao bôi vết bỏng. Không để sẹo khi lành.

Táo bón, kiết lỵ : rau má tươi 30 – 40g. Sắc uống hoặc giã vắt nước cốt, thêm một ít nước chanh, uống.

Bị ngộ độc lá ngón, nấm, thạch tín: rau má 250g, rễ rau muống biển 250g, giã nát, hoà nước sôi uống.

Ho lâu ngày : rau má 30g, ép lấy nước uống hoặc sắc uống.

Trẻ sốt cao, co giật : rau má 60g, cỏ nhọ nồi 60g. Giã vắt lấy nước cốt uống. Bã đắp lên trán và phía trong cổ tay.



Chỉnh sửa lại bởi ranvuive - 13/Jul/2009 lúc 10:21am
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 13/Jul/2009 lúc 9:03am

Những món ăn ngon, vị thuốc tốt từ hạt sen

Hạt sen có chứa các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, protein, chất béo, canxi, phốt pho, sắt... là thức ăn bổ dưỡng tâm, ích thận, kiện tỳ, những người lao động trí óc quá căng thẳng, tâm thần bất ổn, hay sợ sệt, hay quên nên ăn. Dưới đây xin giới thiệu một số món ăn thông dụng sử dụng hạt sen vừa làm thức ăn lại có tác dụng chữa bệnh.

 

Canh nhân sâm hạt sen

Nguyên liệu : 3g nhân sâm, 30 hạt sen, đường phèn vừa đủ.
 
Cách làm : đem nhân sâm bỏ vào bát nhỏ, đặt vào nồi hấp mềm rồi thái miếng mỏng. Lấy 10 hạt sen, bỏ vào bát đựng miếng nhân sâm, đổ nước vào ngâm, rồi cho nước đường phèn vào đậy nắp hấp cách thủy 1 giờ, ăn hạt sen, uống nước canh.
 
 Ngày hôm sau cho 10 hạt sen vào bát đựng miếng nhân sâm còn hôm trước, đổ thêm nước đường phèn vào đậy kín, hấp cách thủy 1 giờ, lấy ra ăn hạt sen uống nước canh. Ngày thứ ba cũng làm như vậy với 10 hạt sen còn lại.
 
Nhân sâm có thể điều tiết chức năng của hệ thống thần kinh, chủ yếu là tăng cường quá trình hưng phấn ở vỏ ngoài đại não đối với hệ thống trung khu thần kinh, đồng thời cũng có thể tăng cường quá trình ức chế, từ đó cải thiện hoạt động linh hoạt của hệ thống thần kinh.
 
Hạt sen và nhân sâm đều là đồ ăn ngon, đem hấp cùng đường phèn, tác dụng của nó càng rõ rệt hơn, có thể nâng cao hiệu suất công tác của những người lao động trí óc.
 
 Do hạt sen, nhân sâm có rất nhiều chất bổ, nên những người bị bệnh thấp nhiệt, nóng trong hoặc có ứ trệ bên trong cơ thể không nên ăn, người bị cảm chưa khỏe hẳn cũng không nên ăn.


Chỉnh sửa lại bởi ranvuive - 13/Jul/2009 lúc 10:34am
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 15/Jul/2009 lúc 9:14am

Bữa ăn trưa nhiều nước giúp giảm cân

 
Ăn những thực phẩm, món ăn có nhiều nước như súp sẽ giúp có cảm giác no lâu hơn và được coi là chìa khóa để giảm cân.

Các chuyên gia  dinh dưỡng tin rằng các món ăn như cơm, súp sẽ giúp người ăn có cảm giác no lâu hơn. Tuy nhiên, việc uống 1 cốc nước lớn khi ăn lại không cho hiệu quả như mong đợi, Quỹ Dinh dưỡng Anh cho biết.

Phương pháp này dựa trên các nghiên cứu  mà đã chỉ rõ rằng mặc dù người nào đó sẽ ăn nhiều loại thực phẩm  khác nhau và những ngày khác nhau thì lượng thực phẩm  tiêu thụ sẽ rất ít khi biến đổi. Tức là nếu chúng ta ăn rất nhiều nhưng năng lượng trong các món ăn đó lại thấp thì chúng ta sẽ chỉ có cảm giác no còn thực thế thì lại không có nhiều năng lượng đưa vào cơ thể.

Các loại thực phẩm  nhiều nước có xu hướng chứa ít năng lượng.

Phát ngôn viên của Quỹ cho rằng: “Các nghiên cứu  đã cho thấy những người có xu hướng ăn cùng 1 lượng thực phẩm  mỗi ngày nhưng không nhất thiết là có cùng lượng calo. Vì vậy chúng ta có thể xoa dịu cơ thể, tránh được cơn đói cồn cào nhưng năng lượng nạp vào lại rất thấp bằng cách ăn các thực phẩm  có ít calo”.

TS Elisabeth Weichselbaum, chuyên gia  dinh dưỡng của Quỹ khuyên: “Nên áp dụng nguyên tắc ngược với bảng phân chia năng lượng, tức là ăn nhiều thực phẩm  ít năng lượng, “nạp” vừa phải loại thực phẩm  “đứng” giữa bảng năng lượng và thật ít loại thực phẩm  cao năng lượng”.

Còn Hiệp hội  Dinh dưỡng Anh (BDA) khuyên: ăn nhiều rau quả nhưng thịt, cá và các thực phẩm  giàu tinh bột cũng nên có trong mỗi bữa ăn tối. 

Các nhóm thực phẩm  phân chia theo bảng năng lượng:

- Thực phẩm  đứng cuối bảng năng lượng: hầu hết các loại rau, quả cũng như súp rau, sữa chua ít béo, đỗ nướng, khoai tây nướng.

- Thực phẩm  “đứng” giữa bảng gồm: các loại dâu và kem, pizza, bít tết…

- Thực phẩm  “đứng” đầu bảng gồm: các loại snack, phô mai, sô cô la, mayonnaise và bơ

IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 15/Jul/2009 lúc 9:22am

“Ăn nhiều mà không béo” là nhờ... nghệ

 Một bữa ăn có nghệ sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ tăng cân hơn là một bữa ăn y hệt nhưng thay nghệ bằng phẩm màu vàng.

Nghệ có chứa một hoạt chất cơ bản là curcumin mà cơ thể rất dễ hấp thụ, theo một nghiên cứu  của ĐH Tufts (Boston, Anh).

 

Đăng tải trên tạp chí Dinh dưỡng, các nhà nghiên cứu  cho biết curcumin có khả năng ngăn cản sự tích luỹ chất béo trong cơ thể. Đặc biệt, nghệ sẽ phát huy tác dụng này khi cho vào một bữa ăn có nhiều chất béo vì nghệ ngăn chặn sự hình thành các mạch mới đi nuôi các “tảng” chất béo được bồi đắp trong cơ thể.

 

Các thí nghiệm cho thấy số chuột cho ăn chế độ dinh dưỡng giàu chất béo trong 12 tuần liên tục và 1 nhóm chuột khác ăn cùng chế độ này nhưng thêm 500mg nghệ trong mỗi bữa ăn. Sau 12 tuần, những con chuột được cho ăn thêm nghệ lên cân ít hơn nhóm không ăn nghệ.

 

Các nhà nghiên cứu  phát hiện ra rằng các vi mạch máu mới vốn có tác dụng nuôi các mảng mỡ mới hình thành ở nhóm chuột ăn nghệ đã không thể “vươn xa” như nhóm không ăn nghệ và mức cholesterol trong máu cũng thấp hơn.

 

Nhà nghiên cứu  Mohsen Meydani cho biết: “Tăng cân là kết quả của sự phát triển và xâm lấn của các mảng mỡ và quá trình này không thể xảy ra nếu không có sự xuất hiện của các vi mạch máu mới. Với các dữ liệu  thu được từ nghiên cứu, nghệ đã ngăn không cho các vi mạch mới hình thành”.

 

“Bước tiếp theo lúc này là nghiên cứu  tác dụng của nghệ trên cơ thể người”, các nhà nghiên cứu  cho biết.

 

Minh Thu

IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 16/Jul/2009 lúc 9:05am
3 THỜI ĐIỂM KHÔNG NÊN ĂN TRỨNG GÀ
 
 
Các chuyên gia sức khỏe khuyên không nên bồi bổ bằng trứng gà khi đang bị sốt, bởi nó sẽ làm cho cơn sốt kéo dài thêm.
Trứng gà là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, giúp bồi bổ sức khoẻ, tăng chiều cao và trí thông minh, giúp da đẹp mịn màng. Tuy nhiên, không phải lúc nào ăn trứng gà cũng có lợi như vậy, nhất là đối với người đang mắc một số bệnh.
Bạn không nên ăn trứng gà trong 3 trường hợp sau:

Khi bị sốt
Trong trứng gà có rất nhiều protein, sau khi ăn sẽ tạo ra một nhiệt lượng lớn. Những người bị sốt, nhất là trẻ em, ăn trứng gà lúc này thì nhiệt lượng trong cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và lâu khỏi.Vì vậy, khi bị sốt, nên hạn chế ăn trứng gà và những thực phẩm giàu đạm, thay vào là uống nhiều nước, ăn rau quả tươi.



Khi bị tiêu chảy
Rất nhiều người nghĩ rằng bệnh nhân tiêu chảy do mất nhiều chất dinh dưỡng nên cần được bồi dưỡng bằng những thứ thật bổ như trứng gà. Thực ra, ở các bệnh nhân này, dịch tiêu hoá tiết ra ít hơn, tính năng men tiêu hoá bị giảm nên khả năng chuyển hoá đường, đạm, mỡ không được như trước. Chức năng tái hấp thụ nước và chất dinh dưỡng ở ruột non cũng gặp trở ngại, phần lớn bị thải ra ngoài qua đường tiêu hoá.
Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy bệnh nhân không nên ăn trứng gà và để cho đường ruột được nghỉ ngơi.



Bị sỏi mật
Các bác sĩ khuyên rằng bệnh nhân sỏi mật không nên ăn trứng gà, ăn vào sẽ phát bệnh. Do chức năng co bóp của túi mật trở nên yếu dần nên nếu ăn nhiều thực phẩm giàu protein như trứng, đường ruột sẽ tiết nhiều chất làm co bóp túi mật, sinh ra các triệu trứng như đau, nôn mửa... và nhiều hậu quả nặng hơn.


Tuy nhiên, không phải vì thế mà bệnh nhân sỏi mật phải kiêng hẳn trứng gà. Họ vẫn có thể ăn một chút ít để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng, vừa đủ để không gây đau.


Chỉnh sửa lại bởi ranvuive - 16/Jul/2009 lúc 9:06am
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 16/Jul/2009 lúc 9:14am
 
 
 
10 LOẠI THỨC ĂN NÊN HẠN CHẾ
 
 
Bạn thấy mì ăn liền thật tiện lợi, trứng muối, hạt hướng dương rất ngon miệng, nhưng bạn có biết những ảnh hưởng xấu của chúng đối với cơ thể? Dưới đây là 10 loại thức ăn mà các nhà nghiên cứu cho rằng chúng không có lợi cho sức khỏe.

Mì ăn liền:

Trong loại thức ăn mang tính tiện lợi này có chứa màu thực phẩm và chất bảo quản, các chất này rất không có lợi cho sức khỏe. Mì ăn liền lại nghèo nàn về chất dinh dưỡng, nếu ăn nhiều trong thời gian dài sẽ mắc chứng bệnh thiếu dinh dưỡng.

Trứng muối:
Để làm trứng muối người ta phải dùng một lượng chì nhất định. Nếu thường xuyên ăn trứng muối cơ thể chúng ta sẽ tích chì dẫn đến hiện tượng trúng độc. Ngoài ra, chì còn phá hủy canxi gây ra hiện tượng thiếu canxi trong cơ thể.

Đậu phụ chao:

Trong quá trình ủ lên men, đậu phụ chao dễ bị những vi sinh vật xâm nhập, ăn vào sẽ có hại cho sức khỏe.

Mì chính (bột ngọt):

Chắc chắn mỗi ngày không nên dùng quá 6 gram mì, nếu quá lạm dụng mì chính sẽ làm lượng sunphua hyđrô trong máu tăng cao, hạn chế việc lợi dụng canxi và magiê cần thiết gây ra triệu chứng đau đầu, tim đập nhanh, nôn oẹ trong suốt thời gian ngắn, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh thực vật của con người.

Hạt hướng dương:

Trong hạt hướng dương có chứa axit chưa no và axit béo, ăn nhiều hạt hướng dương sẽ làm tiêu hao chất kiềm trong cơ thể, và làm cho việc thay thế mỡ trong cơ thể gặp khó khăn. Phần lớn lượng mỡ sẽ đọng lại trong gan và làm ảnh hưởng đến chức năng của tế bào gan.

Rau chân vịt:
Loại rau này có nhiều dinh dưỡng nhưng cũng chứa axit oxalic, các nguyên tố vi lượng như kẽm, canxi chứa trong thức ăn sẽ kết hợp với axit oxalic đi ra ngoài cơ thể khiến cơ thể thiếu canxi và kẽm.

Gan lợn:
Bạn có biết, một lạng gan lợn có chứa tới 400 mg cholesterol, nếu nồng độ này quá nhiều sẽ làm xơ cứng động mạch.

Thịt bò, thịt dê nướng:

Đây là món ăn khoái khẩu của nhiều người. Nhưng trong quá trình nướng các loại thịt này sẽ sản sinh ra chất độc hại, đây chính là những chất dẫn đến bệnh ung thư.
Dưa muối:

Ăn dưa muối trong thời gian dài, sẽ làm natri và nước đọng trong cơ thể tăng gánh nặng cho tim, dễ dẫn đến các chứng bệnh về tim. Ngoài ra, nếu dưa muối bị khú sẽ chứa nitrat amôni - chất này cũng là tác nhân gây ung thư.

Bánh quẩy (giò cháo quẩy):
Trong bánh quẩy có chứa nhôm, nếu ăn nhiều thì nhôm vào cơ thể sẽ khó thải ra ngoài qua thận. Chất nhôm đọng lại trong cơ thể rất có hại cho não và tế bào thần kinh, thậm chí gây ra bệnh lú lẫn.

IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 18/Jul/2009 lúc 5:31pm
Những lý do nên uống cafe
 
 
Cà phê ngon, thơm và hương vị đặc trưng gợi nhớ, đến mức nhiều người nếu sáng ra mà chưa “chạm môi” vào ly cà phê thì cứ vẩn vơ như thiếu một điều gì. Thế nhưng nó còn là một thứ đồ uống mà các nhà khoa học hết sức khách quan đã nêu ra 8 lý do để lựa chọn

1. Cà phê làm cho chúng ta thoải mái và dễ tính hơn

Hoạt chất trong cà phê là caffeine - một chất tác động vào hệ thần kinh trung ương, gây hưng phấn. Điều này chắc ai cũng nhận thấy sau 10-15 phút uống chút cà phê. Sự sảng khoái ấy tác động đến cả tâm lý, khiến người ta dễ tính, sẵn sàng bỏ qua những chuyện vặt vãnh, sẵn sàng gật đầu.

Trong cuộc khảo sát của các nhà khoa học Úc, ĐH Queensland trên 400 người tình nguyện vốn có quan điểm chống lại việc nạo thai và “chết êm ái”. Cùng uống một cốc nước giống như nhau, rồi đọc một bài báo của phe chống đối hai quan điểm ấy. Sau đó hỏi ý kiến họ, đa số người uống nước cam pha chút caffeine thay đổi quan điểm, đồng tình với bài báo vừa xem.

Còn những người uống nước cam đơn thuần vẫn “giữ vững lập trường”. Chẳng phải cà phê là loại nước uống mang đầy tính hòa giải và thuyết phục sao?

2. Cà phê làm tiêu mỡ

Một bí mật: Cindy Crawford thoa bã cà phê lên người để... giữ được một cơ thể săn chắc với những đường cong tuyệt mỹ. Đó là lý do vì sao trong các loại kem thoa để tiêu lớp mỡ dưới da đều có chứa caffeine.

Chuyên gia thẩm mỹ Tiến sĩ Elisabeth Dancey cho biết: “Khi chúng ta dùng một chế phẩm caffeine hòa trong rượu cồn, caffeine sẽ thấm qua da và kích thích các tế bào giải phóng axit béo, nhờ vậy giảm được lớp mỡ đọng. Uống trà và cà phê dưới 2 ly mỗi ngày sẽ giúp bạn đẩy mạnh được sự chuyển hóa chất béo”.

Nhưng cà phê cũng là một con dao hai lưỡi tại chính nơi đọng mỡ. “Nếu bạn dùng trên 2 ly, nó thúc đẩy sự tuần hoàn cục bộ làm tích tụ các chất độc ở đây”. TS Dancey nói thêm.

3. Cà phê làm giảm nguy cơ mắc bệnh hen và chữa được dị ứng

Nhiều tài liệu y học nói đến tác dụng của caffeine làm những người bị hen thở dễ dàng hơn và giảm nguy cơ bị lên cơn hen. Từ cuối thế kỷ 19, nhà văn Pháp Marcel Proust, bị bệnh hen, đã viết “Khi còn nhỏ, chính caffeine đã giúp tôi thở được”. Nhiều công trình nghiên cứu hiện nay đã khẳng định điều này.

Một công trình ở Ý, theo dõi trên 70.000 người đã khẳng định caffeine là “khắc tinh” của bệnh hen. Nếu uống từ 2 đến 3 ly cà phê mỗi ngày, nguy cơ bị các cơn hen tấn công giảm được 28%.

Cà phê rất có ích trong việc chế ngự các phản ứng dị ứng của những người hay bị triệu chứng này. Vì nó có tác dụng làm giảm sự giải phóng histamin vào trong máu, vốn là nguyên nhân gây dị ứng.

4. Cà phê giúp giảm đau

Những loại thuốc giảm đau thường chứa caffeine. Bởi cà phê đẩy nhanh tác dụng của các chất làm giảm cơn đau bằng cách giúp cho chúng được hấp thụ nhanh chóng.

Một tách trà hoặc cà phê nóng có thể làm bạn khỏi đau đầu là điều mà ai cũng biết. Quả vậy, nếu những chất làm giãn mạch thường gây đau đầu thì caffeine lại làm cho mạch máu co lại. Những thuốc giảm đau chứa caffeine thường giảm được liều lượng sử dụng và như vậy có nghĩa là giảm sự phụ thuộc vào thuốc (vì thuốc là hóa chất, chẳng bao giờ nên dùng nhiều).

Tại Mỹ, một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ĐH Georgia cho biết rằng uống java (một loại giải khát chứa caffeine) có tác dụng làm giảm đau cho cơ bắp của các vận động viên trong những bài tập nặng tốt hơn uống aspirin.

5. Cà phê bảo vệ khỏi các bệnh về gan

Một công trình nghiên cứu năm 2005 trên 10.000 người tình nguyện do Viện Nghiên cứu Quốc gia về bệnh gan, thận và tiêu hóa đã chứng minh rằng caffeine trong cà phê và trà giảm được nguy cơ tổn thương gan do các đồ uống “nặng” và hiện tượng béo phì gây ra.

Một nghiên cứu trước đó ở Na Uy đã kết luận ba ly cà phê mỗi ngày có thể giảm tỷ lệ tử vong do xơ gan.

6. Cà phê kích thích hoạt động trí óc

Cà phê có tốt cho não không? Nhóm nghiên cứu của GS Andrew Scholey, Trung tâm Nghiên cứu Nhận thức và Khoa học nơ ron thuộc ĐH Northrumbia (Anh), khẳng định là rất tốt.

Những người tình nguyện chia thành nhóm uống cà phê hằng ngày và nhóm không hề uống cà phê. Mỗi nhóm dùng một lượng caffeine như nhau và trắc nghiệm về nhận thức. Kết quả đều tốt như nhau.

GS Scholey nói: “Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng caffeine trong một ly cà phê làm tăng được sự tỉnh táo, minh mẫn và tập trung trong các hoạt động về trí tuệ, làm tăng được tốc độ tư duy.

Nó còn tăng được khả năng sáng tạo. Nhà văn Pháp Honoré de Balzac, tác giả bộ “Tấn trò đời” khổng lồ đã uống cà phê đặc để sáng tác thâu đêm. Ông thường bảo ông uống cả một ao cà phê không đường để làm nên tác phẩm để đời này.

7. Cà phê làm tăng sức mạnh của cơ bắp

Cà phê làm tăng sức mạnh khiến người ta có thể nhảy cao hơn, xa hơn, chạy nhanh hơn. Đó là lý do tại các Thế vận hội quốc tế có quy định giới hạn hàm lượng caffeine trong máu các vận động viên trong thi đấu.

Năm 2003 một nhóm nghiên cứu tại Viện Thể dục Thể thao Úc tại Canberra nhận thấy các vận động viên uống một chút caffeine trước khi luyện tập có thể tăng thành tích từ 3 đến 30% so với người không uống.

Các nhà nghiên cứu giải thích rằng caffeine kích thích sự đốt cháy chất béo chứ không phải chất đường trong bắp thịt để sinh năng lượng. Các nghiên cứu khác chứng minh caffeine làm giảm sự mệt mỏi.

8. Cà phê chống lại bệnh tiểu đường type II

Từ lâu người ta đã nghi ngờ có một sự liên quan nào đó giữa caffeine và đường glucoze. Một công trình nghiên cứu trên 160.000 cả nam lẫn nữ đăng trên tạp chí Annals of Internal Medicine xuất bản tại Mỹ cho rằng những ai uống nhiều caffeine (tất nhiên không lạm dụng) thường mắc ít bệnh tiểu đường type II hơn những người uống ít hoặc không uống.

Ngay trong số những người “ghiền cà phê”, ai uống cà phê đã khử caffeine có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type II cao hơn người uống cà phê thường. Một công trình nghiên cứu tại Nhật năm 2005 có cùng kết luận này.

Cái hại của cà phê

Sẽ không công bằng nếu chỉ nói đến cái lợi của cà phê. Nó cũng có hại chứ! Nói cho đúng, chỉ là một trong hơn 300 hợp chất thiên nhiên có trong cà phê, nhưng lại là hợp chất chính – caffeine - là đáng kể.

Caffeine là tinh thể trắng, vị đắng, có trong hạt, lá và quả của một số cây (dĩ nhiên phải kể đến cây cà phê trước tiên). Nó có thể làm người ta dùng luôn như một thói quen khó bỏ giống như một chất gây nghiện. Liều lượng cao, nó gây nhức đầu, mất ngủ, nôn mửa, run chân tay...

Dùng lâu dài, caffeine gây táo bón và phụ nữ có thai có thể sinh con nhẹ cân, thậm chí sảy thai.

Tuy cà phê không gây nghiện trầm trọng, nhưng chữa nghiện cà phê cũng khó chịu, làm người ta lo âu, trầm cảm một thời gian. Đối với một số người, thật lạ lùng, cà phê lại là chất gây ngủ. Càng uống nhiều, càng buồn ngủ.

Vậy đấy. 8 cái lợi và 1 cái hại của cà phê (mà chủ yếu là của caffeine khi dùng quá liều). Uống hay không, tùy bạn, nhưng những cái lợi quả thật là diệu kỳ. Vấn đề là nếu biết khống chế liều lượng thì chỉ có lợi.
IP IP Logged
ranvuive
Senior Member
Senior Member
Avatar

Tham gia ngày: 02/May/2009
Đến từ: Vietnam
Thành viên: OffLine
Số bài: 1151
Quote ranvuive Replybullet Gởi ngày: 28/Jul/2009 lúc 10:59am

Ngáp và sức khỏe


 
Theo các nhà nghiên cứu thì ngáp báo trước một sự gia tăng hoạt động, hoặc là mong muốn chuyển sang việc khác. Ngáp cũng có thể lan truyền, nhưng không gây hại cho sức khỏe.

Không chỉ con người biết ngáp

Người ta cho rằng mọi động vật có xương sống đều ngáp. Từ năm 390 trước Công nguyên, Hippocrate (người cha sinh của nền y học phương Tây) cũng đã thắc mắc về ngáp, và ông cho rằng ngáp để tống chất khí hại trong phổi, điều hòa sự tuần hoàn máu lên não. Darwin (1809-1892) nhà sinh học nổi tiếng người Anh, năm 1873 cũng đã nhận xét là khi săn đón nhau, hoặc ở tình trạng dễ bị đụng độ, những con khỉ bắt đầu ngáp hết cỡ.

Theo nhà linh trưởng học Bertrand Deputte, ở loài khỉ Mangabey, ngáp đóng vai trò liên lạc phi ngôn ngữ. Nơi các loài khác, ngáp biểu thị trò chơi, sự phô trương để quyến dụ, hay thậm chí một tín hiệu hòa bình.

Còn với con người, ngay từ khi nhỏ tuổi cũng đã ngáp, thậm chí siêu âm cho thấy từ tháng thứ 3 trở đi bào thai cũng đã ngáp.

Đặc điểm của ngáp

Ngáp là một hoạt động vô thức, một động tác ngoài sự chỉ huy của thần kinh trung ương (ngoài ý muốn con người), làm thành một chu kỳ hô hấp cực điểm mà yết hầu mở rộng hơn 4 lần so với khi nghỉ ngơi, mũi cũng giãn nở rộng. Như vậy theo logic, ngáp là để tăng cung cấp ôxy cho não, tạo cho nó một kích thích. Người ta chia ngáp ra làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 là hít vào, gồm mở rộng miệng, gốc lưỡi hạ xuống, hầu, thanh quản, lồng ngực và cơ hoành giãn ra, hít vào hết mức.

Giai đoạn 2, khi miệng đã mở rộng hết cỡ, chuyển sang co thắt một loạt cơ mặt, đồng thời mũi giãn nở, mắt nhắm lại. Do cơ mặt, lưỡi và họng co mạnh, làm tăng áp lực trong khoang miệng, áp lực này ảnh hưởng đến khoang mũi, tạm thời ngăn đường thoát của nước mắt xuống mũi, do đó nước từ tuyến lệ tràn ngược vào trong mắt khiến nước mắt chảy ra nhiều. Trong khoảnh khắc này những thông tin về giác quan như thị giác, thính giác tạm thời bị tê liệt.

Giai đoạn 3 là thở ra, kèm theo là giãn các cơ đã tham gia vào quá trình ngáp.

Ngáp trong những hoàn cảnh nào?

Có rất nhiều hoàn cảnh gây ngáp. Ngày nay các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy có rất nhiều trường hợp gây ngáp:

- Nhiều người thường ngáp vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, kèm theo vươn vai co duỗi chân tay.

- Ngáp vì uể oải buồn ngủ, lượng không khí đưa vào phổi tăng lên, giúp cơ thể tỉnh táo giảm cơn buồn ngủ.

- Khi dạ dày lép, đói bụng cũng hay ngáp, kèm theo một số chuyển động ở ổ bụng và cơ hoành.

- Ngáp vì ưu tư chán chường.

- Có nhà nghiên cứu còn cho rằng khi quá xúc động cũng ngáp. Người ta nhận thấy một số sinh viên trước khi bước vào phòng thi, những vận động viên trước khi thi đấu... cũng ngáp.

- Ngáp để cơ thể thích ứng với hoàn cảnh. Nhiều nhà khoa học nhận thấy ngáp là một biện pháp để cho cơ thể giữ được tỉnh táo trong những trường hợp do tính đơn điệu của tình thế, của các tác động bên ngoài mà cơ thể vẫn phải luôn luôn sẵn sàng. Người ta theo dõi và thấy có những người lái xe ô tô thường ngáp nhiều khi đi trên đường tốt, chứ không phải đường xấu đòi hỏi phải luôn xử lý tình huống. Khi dự hội thảo về tính toán tích phân ở một trường đại học Mỹ, người ta thấy rất nhiều người ngáp. Cũng những người ấy khi xem xiếc thì không ai ngáp cả.

- Ngoài ra, ngáp còn có thể gây kích ứng lan truyền, chẳng hạn ở nơi công cộng hoặc trong cuộc họp, nếu có một người ngáp mà người khác nhìn thấy cũng có thể bị ngáp theo. Giáo sư tâm lý học Rober Provine ở Đại học Maryland đã làm thí nghiệm bằng cách cho các sinh viên xem băng video về cái ngáp, nói về cái ngáp... và nhận xét: Một người ngáp có thể kéo theo 5-7 người khác làm thế.

Trẻ em dưới 2 tuổi không bị ảnh hưởng khi thấy người khác ngáp. Lý do là vì sự lây lan đi qua thuỳ trước trán vẫn chưa phát triển.

Người ta còn cho rằng ngoài loài người, chỉ có loài linh trưởng bậc cao mới bị ảnh hưởng lây lan ngáp.

Ngáp, lợi và hại?

Cơ chế sinh hóa và thần kinh của hiện tượng ngáp chưa hoàn toàn được biết rõ. Có nhiều giả thuyết về nguyên nhân: Chẳng hạn, khi cơ thể tích tụ nhiều CO2 làm ta uể oải, não sẽ điều khiển để ta ngáp loại trừ nó đi. Ngáp là cách để cơ thể tự điều chỉnh nhiệt độ máu một cách tức thời. Hoặc cho rằng các trạng thái tình cảm, tâm lý... tiêu cực làm xuất hiện trong não hàng loạt hóa chất dẫn truyền thần kinh, muốn giải phóng các chất này không gì tốt bằng ngáp.

Theo công trình nghiên cứu của chuyên gia y học Olivier Walusinski, thì 90% số người khẳng định ngáp mỗi ngày từ 1 đến 15 lần. Nếu hơn 20 lần chứng tỏ có thể là một trở ngại, tất nhiên không phải về mặt thể chất hay y học, mà là xã hội. Trong vài trường hợp quá mức ngáp có thể liên tục từng đợt, cứ mỗi phút 5-6 lần, nếu vượt quá một chu kỳ nào đó ngáp lại là vấn đề về thần kinh, hay rối loạn ám ảnh không dừng được.

Cũng theo Walusinski: Ngáp là một phản xạ được kích hoạt bởi sự giảm trương lực cơ. Phản xạ này huy động nhiều chất dẫn truyền thần kinh dopamine, serotonine... Các bệnh nhân Parkinson vốn thiếu dopamine nên không hề ngáp. Những chất an thần cũng gây tác dụng tương tự. Ngược lại, một số người trầm cảm được điều trị bằng thuốc làm tăng serotonine lại liên tục ngáp không cưỡng được.

Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận: dù ngáp do nguyên nhân gì bản thân nó không gây hại cho sức khoẻ. Ngược lại, nó còn tốt cho cơ thể vì một cái ngáp thường không kéo dài quá 6 giây nhưng lượng không khí được đưa vào phổi tăng lên đáng kể, giúp lưu thông và làm sạch đường hô hấp. Về thuốc men, người ta cũng đã nghiên cứu thấy cho súc vật uống oxytocin (một hormon peptit do vùng dưới đồi sản xuất) cũng làm cho chúng vừa ngáp, vừa duỗi thân ra. Còn thuốc uống chống ngáp (để giữ lịch sự nơi công cộng, hoặc trong cuộc họp buồn tẻ kéo dài đơn điệu, và trong những trường hợp cần phòng ngừa dịch bệnh đường hô hấp...) thì hiện nay chưa có.
 
 
Theo SK&ĐS
IP IP Logged
Trang  of 146 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 4.094 seconds.