Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Thơ Văn
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Văn Học - Nghệ thuật :Thơ Văn  
Message Icon Chủ đề: TRUYỆN HAY CHỌN LỌC Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 188 phần sau >>
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 26/Oct/2023 lúc 12:16pm

Hỏi Áng Mây Chiều _ tập 1 _ truyện hay nổi tiếng _

Tác giả Quỳnh Dao _ Que Huong Channel

<<<<<<

Hỏi%20Áng%20Mây%20Chiều%20_%20tập%202%20_%20truyện%20hay%20nổi%20tiếng%20_%20Tác%20giả%20Quỳnh%20Dao%20_%20Que%20%20Huong%20Channel%20-%20YouTube



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 26/Oct/2023 lúc 2:14pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 31/Oct/2023 lúc 10:28am

Lộng giả thành chơn


]"]WordPress.com

Sau hơn ba mươi năm bôn ba nơi xứ người, tôi trở về quê thăm lại cái xóm cũ nơi mình đã một thời khôn lớn. Gặp lại người quen ai cũng hỏi sao tôi đi lâu quá không thấy về. Có người thì nói tôi bây giờ thấy lạ quá nhìn không ra, nhớ hồi xưa đẹp trai lắm mà… sao giờ già quá vậy. Có người thì nói tôi ở Mỹ lâu quá mà vẫn còn ốm nhách đen thui. Tôi cười trừ. Nghĩ trong bụng đã đành dân Mỹ có vấn nạn ngày một béo phì, nhưng đâu phải ai ở Mỹ lâu ngày rồi cũng mập. Đã đành người ở xứ nhiệt đới sang Mỹ lâu ngày thì da trắng ra, nhưng đâu phải ai cũng vậy, có nhiều người ở Mỹ hàng trăm năm mà da vẫn còn… đen thui.

Tôi đến thăm Nhung, người bạn gái thân mến của tôi ngày nào mà có lúc bạn bè đồn đoán là tôi sắp cưới nàng. Nhung nhỏ hơn tôi mấy tuổi, ngày ấy nàng là gái mới lớn xinh đẹp con nhà giàu. Ba nàng làm trưởng ty Tài chánh trong toà hành chánh tỉnh. Nhà có xe riêng và tài xế, mỗi khi chị em nàng đi ra đường ai nhìn cũng trầm trồ, con trai thì bảnh bao mà con gái thì xinh đẹp. Đến thăm Nhung, nàng vui lộ ra mặt.

– Tưởng anh chê em nghèo không thèm đến.

Nhung vẫn vậy, vẫn như ngày nào ăn nói xởi lởi, miệng bằng tay tay bằng miệng. “Ông xã em chết hai năm rồi, đụng xe chết không kịp trối. Thằng con trai có vợ, đứa con gái thôi chồng, hiện tụi nó ở chung với em, chưa có tiền ra riêng. Cha con vợ chồng tối giăng mùng nằm sắp lớp dưới gạch. Ở chung chật chội nhưng tiết kiệm được tiền, em sẵn dịp coi chừng cháu ngoại cháu nội cũng tiện”.

Nhìn căn nhà nhỏ tí đồ đạc chất lung tung thấy cũng tội cho cô nàng một thời con nhà giàu. Ngày trước má nàng có lần than với tôi. “Tiền bạc có bao nhiêu bác trai đều mua công khố phiếu, lúc lộn xộn chưa kịp lấy ra thì mấy ổng tới. Mất trắng. Vàng có bao nhiêu lo cho mấy đứa đi vượt biên, đi năm lần bảy lượt không đứa nào đi thoát, giờ trắng tay đành cam chịu chết”.

Rất nhiều năm đã qua, tôi vẫn không quên được vẻ mặt buồn bã của bác gái mẹ Nhung lúc đó. “Thôi đành chịu chết!”. Không còn lời than van nào thê thảm hơn.

– Nghe đồn anh vẫn chưa vợ?

Nhung vừa nói vừa cười hóm hỉnh. Không hiểu nụ cười của cô nàng có ngụ ý gì.

– Hồi trước ai cũng đồn anh với em. Nếu mà “giải phóng” chưa vô thì mình đã thành vợ chồng rồi phải không anh. Trong nhà em ai cũng mến anh. Lúc “đổi đời” anh thân sơ thất sở cù bơ cù bất nhưng ba má em đâu có chê, anh mà tới ngỏ lời thì ba má em cũng chịu. Vậy mà anh không tới, rồi anh đi vượt biên qua tới Mỹ mấy năm trời không một lời hỏi thăm.

Lời cô nàng như có vẻ hờn trách. Tôi hỏi thăm tình cảnh mấy anh em của nàng.

– Lúc tài sản tiêu tan mà trong nhà không đứa nào đi được ba em buồn lắm, ổng sanh bịnh rồi qua đời. Má em bươn chải kiếm tiền nuôi gia đình, phần buồn phần cực khổ nên cũng chết sớm. Căn nhà ba má em để lại bán chia mỗi đứa một ít làm vốn. Anh Đông lên Sài Gòn sống lâu rồi, nhà ở miệt Quang Trung Gò Vấp, ở trên đó coi vậy cũng dễ sống, chớ còn ở đây không biết làm gì ăn. Con Thi ở bên chồng trong Rạch Giá, nhà có ghe đánh cá. Thằng Phú mở quán cơm bình dân bên phường hai sống đắp đỗi qua ngày.

Nghe nàng nói tôi cũng động lòng, muốn giúp đỡ nhưng tôi nghèo quá. Tôi là một người không nên thân.

– Anh về đây chơi rồi có định tìm vợ không?

Tôi bật cười. “Còn trẻ không lấy, tuổi này lấy vợ làm gì? Mà cũng ngộ, đi đâu ai cũng đòi làm mai, có người giới thiệu cho mấy cô trẻ măng chưa tới bốn chục”.

– Anh chọn được cô nào chưa?

– Thôi! Ở vậy cho nó lành.

Mấy ngày sau Nhung gọi điện thoại cho tôi, nàng có một chuyện rất quan trọng muốn nói với tôi trước khi tôi về Mỹ. Nhung có đứa con gái thôi chồng có hai con, thằng con trai mười bốn, đứa con gái mười hai tuổi. Nhung nói thẳng không cần vòng vo. “Hay là anh cưới con gái em đi, nó nết na thuỳ mỵ, lanh lợi giỏi giang lo cho chồng cho con, nó cũng đẹp gái. Anh lấy nó để có người chăm sóc cho anh lúc tuổi già”.

Tôi thật bất ngờ với lời đề nghị của Nhung. Tôi cũng hiểu không phải nàng lợi dụng. Tôi không nghĩ nàng mượn đường. Hôm trước nghe nàng kể làm tôi xúc động mấy ngày. “Lúc nghe hàng xóm nay người này đi mai người kia đi được, ba em nôn nóng lắm mà không biết làm sao. Má em tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện hàng giờ, má cầu xin ơn trên cho có đứa nào đi được. Ngày qua ngày mình thì chẳng thấy một cơ hội nào, mà người ta thì đi rần rần… người này đi theo diện con lai, người kia đi diện H.O. Người nọ đi diện bảo lãnh. Người ta đi rần rần mà mình thì đành cam chịu chết ôm nỗi buồn xin nhận nơi này làm quê hương”.

Tôi thật bối rối không biết tính sao. Thôi thì, người ta thật lòng với mình thì mình cũng hãy thật lòng với người ta.

– Em à, nếu anh lấy vợ được anh đã lấy từ lâu rồi.

Tiếng Nhung cười khúc khích bên kia đầu giây. “Em nói cái này anh đừng giận nhe!”.

Tôi thường “kỵ” mấy người ăn nói rào trước đón sau. Nếu sợ người ta giận thì đừng nói.

– Mấy đứa bạn tụi nó đồn anh pê đê.

– Trời đất! Biểu đừng nói mà cũng nói. Em biết anh như vậy mà cũng nói thương anh, muốn gả cho anh.

– Em thấy mấy “người gay” cũng lấy vợ đẻ con được vậy anh. Em thương anh thiệt tình chớ! Người anh toát ra một vẻ gì rất thu hút!

– Thiệt hả? Thu hút ở cái vẻ “dẹo dẹo” phải không?

Cô nàng cười ngất. “Em thích cái lối nói chuyện tưng tửng của anh. Nghe tin anh vẫn còn độc thân, em cứ ngày tưởng đêm mơ một ngày nào đó anh sẽ về đây…”

– Em ơi em! Em làm ơn cho anh xin hai chữ bình an.

***

Tôi có người bà con trong Rạch Giá, nghe tôi về nhắn tôi vô đó chơi sẵn dịp anh ta dẫn tôi đi Hà Tiên Phú Quốc. Tôi tình cờ gặp lại thằng Tứ hôm đi ăn “bún Kiên Giang” trong nhà lồng chợ Rạch Giá. Nó cũng ở San Jose, tôi quen nó hơn hai mươi năm về trước khi hai đứa đi làm trong hãng điện tử. Nó giống tôi ở chỗ ưa cờ bạc với lại cá độ football. Nó đi ăn với một người đàn bà trẻ, tôi hỏi nó “vợ mày hả”. Nó kề tai tôi nói nhỏ “không phải, bồ”. Thằng này vui, lấc xấc như con nít. “Mày không sợ vợ mày ghen à?”. “Tui đâu có vợ đâu cha!”. Vậy mà tôi tưởng nó có vợ con đùm đề.

– Mày mấy tuổi?

– Tui sanh năm 68 Mậu Thân. Ông biết mà.

– Sao mày không lấy vợ? Đi chơi tòn teng như vầy hoài sao?

Nó bước tới kề tai tôi nói nhỏ. “Tui gặp gì đâu không! Người mình thích thì nó không chịu, người thích mình thì mình không muốn. Tui mới quen con nhỏ này, cặp bồ đi chơi thôi chớ không tính chuyện tiến tới. Nó cũng ham vui, không muốn ràng buộc”.

Ngày hôm sau thằng Tứ điện thoại rủ tôi đi qua Campuchia chơi casino.

– Mày ở Mỹ chơi casino không đã sao về đây còn đi? Mà chơi ở Campuchia có an ninh không? Tao không dám đâu.

– Con nhỏ bồ của tui nó thích đi, tui dẫn nó đi chơi chừng vài ba tiếng rồi về.

– Mày đi qua đó bằng cách nào?

– Tui mướn xe lái đi.

– Mày dám lái xe?

– Lúc đầu không dám, sau lái đại, mà đường ở đây vắng vẻ dễ đi lắm.

– Từ đây qua đó đi bao lâu?

– Hơn hai tiếng, qua khỏi Hà Tiên đậu xe nơi biên giới có người dẫn mình qua.

– Thôi! Tao không dám đâu!

– Vậy ra quán cà phê ngồi chơi.

– Okay.

Tôi ra quán cà phê gặp thằng Tứ. Nó nói nhà ba má nó trước kia ở đây (Rạch Giá), căn nhà vẫn còn giờ để trống không ai ở. “Bà chị lớn tui còn ở đây, nhưng bả có nhà riêng, mỗi lần tui về đây chơi ở nhà của bả, chỗ đó khu thị tứ, gần chợ đi ăn uống gì cũng tiện”.

– Mày về đây chơi thường lắm hả?

– Từ lúc má tui bịnh tui nghỉ làm ở nhà săn sóc bả. Má tui chết hai năm rồi, lúc gần chết bả chỉ chỗ bả dấu tiền cho tui biết. Má tui để dành tiền hay lắm, trong nhà đâu ai biết bả có mấy chục ngàn tiền mặt. Mấy bửa đám ma lu bu không ai để ý, tui nín luôn. Mà tui nghĩ tiền đó má tui cho tui, mà anh chị tui người nào cũng khá đâu ai cần.

– Rồi mày lấy tiền đó về đây chơi cho đã.

– Ừa, chừng nào hết về bển đi cày tiếp. Thầy bói nói số tui tuy không giàu nhưng có tiền xài hoài, hết này có khác.

– Thầy bói nào ở đâu mày chỉ tao tới đó xin một quẻ.

– Căn nhà của ba má tui để lại giao chị tui đứng tên, má tui trăn trối phải chia phần cho tui. Má tui thương tui nhứt nhà, bả nói tui khờ sợ tui khổ. Chị tui chồng tiền cho tui 500 triệu, dứt khoát tui không được tranh chấp về căn nhà đó nữa.

– Bởi vậy mày đâu cần đi làm.

– Căn nhà ông anh tui đang ở, má tui có phần hùn “tiền down”, bả nói với anh tui khi nào bả chết tiền đó cho tui. Anh tui dứt khoát đưa tui 30 ngàn, tui không có quyền gì trong căn nhà đó nữa. Nhưng ổng nói tui hơi khờ lại mê cờ bạc, mày về Việt Nam gái nó dụ ăn hết. Ổng giao bà chị bên Việt Nam cất dùm, bỏ nhà băng một tỷ, tui chỉ được lấy tiền lời không được lấy tiền vốn.

– Công nhận số mày sướng, cả nhà xúm lại lo cho mầy.

Bỗng tôi chợt có ý nghĩ… chắc là do trời xui đất khiến, tôi nói với nó:

– Người bạn gái hồi xưa của tao có đứa con gái chừng 36 tuổi, thôi chồng có hai đứa con. Về sắc đẹp thì khỏi nói, trên trung bình xa một khúc, tánh tình hiền hậu một lòng lo cho chồng cho con. Nấu ăn ngon hơn đầu bếp nhà hàng. Tao thấy chỗ này cũng được, bữa nào mày ra nhà tao chơi, tao dẫn mày tới coi mắt, nếu thấy được tiến tới luôn.

Thằng này bỗng chu chu cái mỏ thấy ghét.

– Ba mươi sáu có hai con! Biểu con nhỏ đó kiếm người già cở như ông thì họa may. Ở đây người ta giới thiệu cho tui thiếu gì, gái hai mươi còn nguyên xi chưa bóc tem.

– Mày 50 bộ còn trẻ hả? Lấy gái hai mươi cho nó bỏ mày cho lẹ, nếu không thì cũng đi ra ngoài ăn vụng. Cưới vợ thì người ta kiếm chỗ đàng hoàng tính chuyện ăn đời ở kiếp.

– Mà con nhỏ đó làm gì? Có tài sản tiền bạc gì không? Tui không thích lấy vợ nghèo, tui đã dở kiếm tiền, lấy con vợ nghèo về nhà hai đứa cạp đất ăn.

Thằng này về Việt Nam chơi hoài hèn gì nó cũng biết câu nói để đời của nữ hoàng đồ lót.

– Mày đâu có nghèo mà kiếm vợ giàu, gặp mặt người ta rồi tính sau. Okay?

Tôi cắt ngắn buổi đi chơi Phú Quốc, lẹ lẹ về thu xếp cho một cuộc hôn nhân mà trước đây mình chưa bao giờ nghĩ tới. Thằng Tứ đúng hẹn thuê xe ra nhà tôi chơi sẵn dịp coi mắt vợ. Tôi dẫn mọi ngựời ra nhà hàng ăn cho tiện. Về nhà tôi hỏi nó:

– Mày thấy sao? Ngày xưa người ta là con nhà quan đó nhe.

– Thấy cũng được, ăn nói vui vẻ, tướng ngon.

Khi nào tôi nhìn đàn bà, tôi chú ý gương mặt trước nhất. Mà cái sóng mũi hàng đầu, đàn bà mà có cái mũi xẹp, nhan sắc giảm một nửa. Thứ nhì hàm răng, không hiểu sao tôi có cảm tình với đứa con gái có hàm răng trắng đều như hạt bắp. Còn cái thằng này nhìn gái, “tướng ngon”.

– Nhưng tui chưa tính lấy vợ, đi chơi cho đã khi nào hết đường rồi mới tính. Có mấy mối biểu tui làm giấy tờ họ trả tui 50 ngàn mà tui chưa chịu, có thể tui sẽ làm khi nào tui hết tiền.

Vậy mà anh chị nó nói nó khờ! Được rồi, được rồi, mày khôn thì tao cũng có cách.

Tôi suy nghĩ mấy hôm liền. Mình thuộc loại nhà nghèo ở Mỹ. Tiền để dành dưỡng già trong 401k có chút xíu, giờ lấy ra chung cho nó 50 ngàn, mai mốt về già mình có nước cạp đất ăn. Nhưng quan trọng hơn hết, tôi không dám làm giả, làm cái gì gian dối tôi hơi bị run. Tôi gọi điện thoại cho thằng Tứ, uốn lưỡi năm bảy lần, dùng đủ mọi cách dụ dỗ nó cho nó chịu cưới con nhỏ đó. Nhưng chắc tại tôi không có tài “làm thuyết khách”, nó vẫn khăng khăng nhất quyết 50 ngàn. Vậy mà anh chị nó nói nó khờ. “Người ta đi có một mình, đằng này con nhỏ đó đi với hai đứa con. Lời thấy mẹ. Tui hy sinh đời trai có 50 ngàn đâu có nhiều”. Thằng này mê tiền hơn mê gái. Nghe nó nói hy sinh đời trai… nghe mắc ói.

Mấy ngày sau tôi gọi điện thoại cho nó “mặc cả” cho cuộc hôn nhân… theo hợp đồng này. Tôi nói thiếu điều gảy lưỡi nó mới chịu điều khoản lấy trước hai chục ngàn, ba chục ngàn khi nào mọi việc xong xuôi trả góp. Điều thứ nhì, rất quan trọng, cái hợp đồng này chỉ có tôi và nó biết. Tuyệt đối không nói cho ai nghe chuyện tiền bạc. Nó đồng ý nói okay vậy đi.

Tôi lật đật đến nhà Nhung báo tin mừng, người ta đồng ý… cưới. Nhung không có nhà chỉ có Ngọc, là người sắp sửa làm cô dâu.

– Chào cậu Ba, cậu Ba Phải có khỏe không?

Tôi tên Phải, thứ ba. Suốt mấy năm đi học tôi chưa từng thấy đứa bạn nào tên Phải, còn người tên Phải thứ ba, chắc chỉ mình tôi. Cậu Ba Phải.

– Má con không có nhà hả? Thôi cậu nói chuyện với con cũng được.

Đây là một cuộc hôn nhân theo hợp đồng, nhưng ác một chỗ là cô dâu và nhà gái không biết. Mai mốt chàng rể mà có lòng nào thì đừng buồn. Tôi lựa lời nói vòng vo.

– Lúc con thôi chồng con có buồn không?

– Dạ không, hai đứa con chia tay trong êm đẹp, giờ coi như bạn, ảnh thỉnh thoảng đến thăm mấy đứa nhỏ, tháng nào cũng phụ tiền cho con nuôi tụi nó.

– Cậu thấy anh Tứ này cũng được, tuy ham vui nhưng cũng là người đàng hoàng, nhưng cuộc đời mình đâu biết trước, có nhiều điều không ngờ được. Cậu hỏi vậy để sau này mà rủi có ly dị thì con đừng bị sốc.

– Ảnh bỏ con? Ông này tự tin dữ! Không chừng con là người bỏ ảnh trước.

Con nhỏ này ngon, có chí khí! Đâu phải nghèo rồi mình không có quyền ăn nói sang chảnh.

***

Mọi việc diễn tiến thuận lợi êm xui hơn tôi tưởng. Đám cưới chừng một năm thì cô dâu có hẹn phỏng vấn. Thằng Tứ bay về Việt Nam sẵn dịp đi chơi, vợ đậu phỏng vấn thì dẫn vợ con qua Mỹ luôn một lượt.

Tới ngày hẹn tôi hồi hộp còn hơn người được đi phỏng vấn. Vái trời cho đừng có gì trục trặc. Chờ lâu quá không thấy tụi nó gọi phone, tôi nghĩ chắc không xong. Sáng sớm còn nằm trên giường có tiếng điện thoại reo vang “Con báo tin cậu mừng, đậu phỏng vấn rồi cậu ơi!”.

Tin vui khiến tôi mất ngủ, hết ngủ luôn! Không cách gì ngủ lại cho được. Rồi đây tôi sẽ còn mất ngủ dài dài, biết bao nhiêu chuyện phải lo. Nhung nhắn gởi, nó như con anh, mọi sự mong anh giúp đỡ buổi đầu cháu bơ vơ nơi quê người.

Thiệt đúng y chang, thằng Tứ vịn cớ bận đi làm, mọi việc giấy tờ nhờ cậu Ba Phải giúp. Bởi vì tôi đã nghỉ hưu có nhiều thì giờ rỗi rãnh.

Tôi vẽ cho tụi nó đến nhà ông Ngọc mướn phòng, ông có xây thêm hai phòng phía sau nhà có lối đi riêng rất tiện. Chồng ở một phòng, vợ và hai con thì ở phòng kế bên. Hơi bị lạ nhưng không ai thắc mắc chuyện người ta. Chỉ có tôi và thằng chồng biết.

Một hôm giữa khuya có tiếng điện thoại reo vang, Nhung bên Việt Nam gọi. (Mấy người này vô tư không biết giờ này … khuya).

– Có gì không em mà sao gọi giờ này?

– Vậy hả? Xin lỗi, em tưởng ở bển sáng rồi. Con Ngọc có bầu, nó hỏi em tính sao?

Trời đất! Thật là rắc rối cái sự đời, vợ chồng trên giấy tờ, vợ chồng ngủ riêng phòng ai nấy ngủ, nay vợ mang bầu. Thiệt là tình! Con nhỏ này là con tôi chắc tôi tức chết được. Sao mày không đợi ly dị rồi hãy có bầu. Trên danh nghĩa thằng Tứ là chồng, đẻ con người ta bắt nó cấp dưỡng nó đâu có chịu.

Tôi tức mình ngủ không được, thức luôn tới sáng chờ con Ngọc thức dậy chửi nó một trận.

Tôi gọi phone lúc con Ngọc đang sửa soạn đi làm. Nó lật đật vừa lái xe vừa nói chuyện hối tôi nói ngắn gọn. Tôi vô đề thẳng (giọng giả bộ có hơi giận)

– Con có bầu.

– Vậy mà cậu làm như chuyện gì quan trọng lắm. Con có bầu chồng con chưa biết cậu biết.

– Hai đứa ngủ riêng sao có bầu? Con thằng Tứ hay con ai?

– Cậu ơi là cậu! cậu có câu hỏi nào lịch sự hơn chút xíu được không cậu.

Tôi có hơi nóng, nói chuyện có hơi không được bình tĩnh, tật lâu đời khó chữa.

– Má con nửa khuya gọi điện thoại cho cậu, nói con có bầu giờ tính sao, giữ hay bỏ, nghe vậy cậu tưởng con có bầu với người nào khác.

– Bà già thiệt là mau mồm mau miệng, mới đó gọi cho cậu biết. Bởi vì anh Tứ nói với con cậu với ảnh dàn xếp cho cuộc hôn nhân này, giả chớ không phải thiệt, ảnh đâu có tính ăn đời ở kiếp với con, con đâu phải là vợ ảnh, giờ lỡ mang bầu con chưa cho ảnh biết, định hỏi má con cho ý kiến.

– Thằng mắc dịch, nó hứa với cậu là giữ kín chuyện này vậy mà cũng đi nói cho con biết.

– Để con nói hết cho cậu nghe. Anh Tứ có cái tật, tối nào có chút bia rượu là ảnh mò vô phòng con bốc hốt. Mấy đứa nhỏ còn thức nó dòm. Con đi qua phòng ảnh cho ảnh trả bài, mà cậu ơi! Cái ông này 50 tuổi chớ trai 20 sợ còn thua ổng.

– Được được rồi con, cậu hiểu, không cần phải nói chi tiết.

– Ảnh đòi hoài con không cho, ảnh khai thiệt, nói cậu còn thiếu 30 ngàn, nếu không cho ảnh… vậy phải trả tiền cho ảnh. Con bật ngữa. Thì ra là vậy. Nếu ảnh lấy tiền của cậu, con phải tìm cách lấy lại, với lại cũng là để giảm bớt cái tần suất “bốc hốt” của ảnh, con nói mỗi lần em qua phòng anh tính năm trăm. Ảnh nói đi chơi gái trên San Fran, gái Tàu, gái Phi, gái Đại Hàn đẹp không có chỗ chê, mỗi lần tốn có hai trăm. Em gái hai con đòi năm trăm. Kỳ kèo bớt một thêm hai, cuối cùng con chốt giá ba trăm, mỗi lần qua phòng ảnh cho ảnh làm phận sự một người chồng, ba trăm.

Tôi tính nhẩm, thiếu nó ba chục ngàn, mỗi lần trừ ba trăm. Trả xong món nợ chắc con nhỏ này đẻ được ba đứa con.

– Con ơi! Như vậy là ý trời. Con cho chồng con biết, nhứt định là phải giữ nhe không. Cậu có lời chúc phúc cho con đó.

Tháng sau thằng Tứ gọi phone cho tôi, mời cậu đi ăn buffet với tụi con, mừng con vừa được lên chức. Chà thằng này bữa nay gọi tôi bằng cậu. Tưởng nó lên chức “làm cha” nhè đâu nó được lên chức làm leader trong hãng.

– Trong hãng mày làm khâu nào, mày làm xếp được mấy người.

– Tui làm khâu shipping, gói hàng đóng gói gởi đi cho khách hàng. Vừa mới đổi qua ca chiều, làm từ hai giờ chiều tới mười giờ rưởi đêm. Bận rộn buổi trưa làm cho kịp hàng đi gởi, từ sáu giờ chiều thì khỏe, xếp lớn xếp nhỏ đi về, mình làm tà tà.

– Mày làm xếp mấy người, lên chức có lên lương không?

– Chỗ tui có ba người, tui với hai bà già người Phi. Khi nào hãng có đợt review mới lên lương, giờ chưa.

– Tao tưởng mày hôm nay ăn mừng sắp lên chức “làm cha”, thôi ráng đi ông con, mai mốt cho mày xếp quần xếp áo mệt nghỉ.

Cái mặt thằng này bữa nay kênh kênh thấy ghét, tôi khều nó lại hỏi nhỏ.

– Mày làm hợp đồng với tao, vợ chồng giả, sao bây giờ mang bầu.

– Thì… lộng giả thành chơn.

Nó cười hê hê bỏ đi lấy đồ ăn. Bữa nay bày đặt xổ nhỏ. Vậy mà anh chị nó nói nó khờ.

Nguyễn Thạch Giang
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 11/Nov/2023 lúc 2:50pm

Chợt Buồn

  

Hôm nay trời đã vào Thu, nắng thật dịu, trải nhẹ trên mấy ngọn cây cao. Vài cơn gió hơi lành lạnh lướt qua như muốn đuổi theo những chiếc lá vàng đang nhẩy múa trên mặt đường.
Tôi cố rảo bước đi bộ thật nhanh, cho đủ một vòng hết khu phố tôi đang ở. Bác sĩ về tim khuyên tôi nên đi bộ mỗi ngày nửa giờ cho khỏe.

Mấy tuần qua, tôi bận có khách ở xa đến chơi, lại thêm thời tiết quá nóng nên tôi lười không đi bộ.
Mỗi lần đi qua ngôi nhà có giàn hoa tím thật đẹp, tôi thấy bà cụ già người Mỹ với mái tóc bạc phơ hay ngồi ở cái ghế xích đu trước cửa. Cụ luôn mỉm cười nói “Hi” với tôi.Thỉnh thoảng tôi ngừng lại, nói vài câu xã giao thăm hỏi Hôm nay, cái ghế xích đu đã biến đâu mất. Cửa đi vào nhà mở toang, đồ đạc trống trơn, có vài người Mễ đang lau chùi dọn dẹp.

Tim tôi bỗng đập nhanh như trống chầu, tôi linh cảm đã có gì xảy ra cho bà cụ
Người hàng xóm của cụ đang đứng coi hai đứa bé chừng bốn năm tuổi chạy tung tăng ở trước cửa nhà.
Tôi ngừng lại hỏi thăm, người hàng xóm cho biết cụ đã chết cách đây hai tuần vì bệnh tim. người con trai duy nhất ở xa về đang lo dọn dẹp để bán nhà.
Tôi bước vội đi thật nhanh, để người hàng xóm của cụ không nhìn thấy khóe mắt tôi đã long lanh ướt.

Cụ là một hình ảnh quá thân thuộc với tôi. Mỗi ngày tôi đi bộ qua nhà cụ, cụ đều ngồi trên ghế xích đu, chào tôi bằng tiếng “Hi” thật ngắn, nhưng kèm theo nụ cười và ánh mắt thân thiện, nồng ấm, trải dài theo những bước đi của tôi .
Bao nhiêu năm tháng qua, tôi đã trót yêu giàn hoa tím, yêu nụ cười và ánh mắt thật dễ thương của cụ.
Những hình ảnh mà những ngày đông giá rét, không đi bộ được, tôi thấy nhớ vô cùng.
Tôi vẫn tự hỏi, những ngày đông lạnh phải ngồi trong nhà, cụ có nhớ tới tôi, như tôi đang nhớ cụ không?
Đã bao nhiêu lần tôi tự nhủ, hôm nào tôi phải dừng lại, nói chuyện với cụ thật lâu, cho cụ biết những ngày mùa đông tôi đã nhớ cụ đến thế nào.Hẳn là cụ sẽ vui lắm.
Cứ định như vậy, rồi quên, rồi ngày tháng qua. Cho tới bây giờ, không còn cơ hội nói nữa vì cụ đã đi mất rồi.
Mãi nghĩ ngợi lan man, tôi đã đi đến cái sân banh trên con dốc cao, có những bụi hoa cúc dại màu vàng đang ngả nghiêng trong gió.

Tôi yêu hoa cúc dại màu vàng từ một hình ảnh quá đẹp của những ngày mới đặt chân lên đất Mỹ
Ở lớp học Anh văn mới ra, tôi đang đứng đợi xe cậu em đến đón, ngày ấy nhà cửa còn thưa thớt, bên kia đường trước trường học là một khoảng đất trống đầy hoa cúc dại màu vàng.

Bất chợt có một cái xe đậu lại gần chỗ tôi đứng.Trên xe là một đôi nam nữ còn trẻ. Người đàn ông mở cửa xe bước ra, anh ta cao lớn, dáng dấp thư sinh. Anh chạy băng qua đường, ngắt vội mấy cành hoa cúc dại, trở lại xe, trao cho người con gái và ghé môi hôn thật nồng nàn.

Tôi đứng phía sau, nên chỉ nhìn thấy mái tóc người con gái ngả nhẹ vào vai người đàn ông, tay phải anh ta choàng qua vai nàng như muốn kéo người yêu sát lại gần hơn. Chiếc xe từ từ lăn bánh, rồi mất hút.
Tôi đứng ngơ ngẩn nhìn theo, đến nỗi xe cậu em đậu ngay trước mặt mà tôi cũng không hay.

Lên xe, tôi vẫn còn nhớ mãi đến nét mặt rạng rỡ của người đàn ông, trên tay cầm mấy nhánh cúc dại màu vàng đang băng qua đường, miệng cười mím chi thật có duyên, đôi mắt tình tứ nhìn về phía người con gái đang nhoài người, ló đầu ra khỏi xe nhìn về phía người yêu.
Hình ảnh của ngày hôm ấy, khiến tôi thấy những bông cúc dại màu vàng sao đáng yêu quá.

Sau này, cứ mỗi lần thấy những bông cúc dại màu vàng, tôi lại nhớ đến hình ảnh thật đẹp của bức tranh tình yêu ngày đó . Tôi thầm mong họ vẫn còn hạnh phúc bên nhau và lẩm cẩm tự hỏi chẳng hiểu hai người, có ai còn nhớ đến kỷ niệm với những bông cúc dại màu vàng của thuở nào không?


Riêng người ngoại cuộc như tôi, thì lại chẳng bao giờ quên được.

Những bông hoa vàng mang đến cho tôi bao nhiêu là kỷ niệm ở quê nhà. Thành phố Đà Lạt thơ mộng với những bông hoa Mimosa vàng rực ở góc Biệt thự Tĩnh tâm, nơi tôi theo mẹ cùng phái đoàn nhà Thờ lần đầu tiên đặt chân đến Thành phố sương mù. Ngày ấy tôi còn là con bé ngu ngơ 15 tuổi, chưa biết điệu đà son phấn, nghịch ngợm hồn nhiên như con trai. Vậy mà cũng làm được một anh chàng trong phái đoàn nhà thờ ngơ ngẩn. Những câu tán tỉnh đầy ẩn ý thật hay mà tôi cứ ngẩn tò te chả hiểu gì cả. Bây giờ tóc đã bạc gặp lại nhau trong một chuyến đi chơi qua Canada, chàng ta, không, phải nói là “cụ ta” mới đúng, vui vẻ nhắc lại và thành thật khai báo là lúc đó mặt mũi tôi trông sáng sủa mà chả thông minh tí nào.Nghe kép tán mà mặt cứ ngơ ngơ như vịt nghe sấm. Cũng may còn có dịp gặp lại nhau để kể chuyện thuở ấu thơ . Sau khi lập gia đình với ông chồng Hải quân phải thuyên chuyển nay đây mai đó. Những ngôi nhà tôi ở từ Nha Trang, Vũng Tàu và cuối cùng là Cam Ranh. Nơi nào cũng có những bông hoa vàng với cả một trời nhung nhớ.

Đi bộ khá xa, thấy trời trở gió mạnh và có vẻ muốn mưa, tôi vòng trở lại. Qua nhà bà cụ tôi thấy mấy cái thùng đầy giấy tờ sách báo ngả nghiêng trước cửa. Có cả mấy tấm hình rơi lả tả xung quanh. Cơn gió thổi mạnh mang theo một tấm hình bay dạt vào gốc cây bên đường, thấy hình bà cụ ôm con chó tôi nhặt cho vào túi áo

và chạy vội về nhà vì trời đã chuyển mưa. Tôi nâng niu ngắm nghía tấm hình bà cụ và thầm nghĩ , có phải cụ biết tôi đang nhớ cụ nên cụ cho tôi được giữ tấm ảnh này không? Tôi chợt nghĩ đến cả đống hình của tôi trong mấy cái hộp giấy ở dưới basement . Một ngày nào đó tôi sẽ ra đi như cụ, các con tôi sẽ làm gì với quá nhiều hình ảnh của tôi? Có thể chúng cũng phải vứt bớt đi chứ. Rồi cơn gió vô tình nào sẽ thổi cho những tấm hình của tôi lưu lạc tới đâu. Chỉ nghĩ thôi cũng đã cảm thấy thật buồn.

Hồng Thủy


Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Nov/2023 lúc 11:33am

Chiều Hôm, Một Người Khách Lạ 

Người Việt ở Biển Hồ ( Campuchia)


Chiều hôm, một người khách lạ tới bên kia đường.

Đó là đoạn Lê Đại Hành chạy qua Bình Thới, giữa hai hàng phượng cao rợp mát. Trong ngõ hẻm đối diện có dãy hàng hoa nằm khuất sau những hàng quán khác. Người đàn ông trung niên tiêu biểu cho thời đại mình: gầy gò, đen đúa, sẵn sàng biến mất vào đám đông. Ông ta băng qua dòng xe cộ, bước vào hẻm, bắt chuyện với một thằng bé đang bày trò chơi với hai đứa nhỏ chừng như em nó. Bọn trẻ đã quen, đưa mắt tò mò nhưng không ác cảm, nhìn người đàn ông. Cuộc trò chuyện dăm bảy phút, có khi ông ta lôi từ trong túi ra một thứ gì như bánh kẹo. Con hẻm lụp xụp, mái bạt đầy nước mưa trĩu xuống, trẻ con cười đùa khắp nơi, đuổi nhau, bụi bay mù những kệ quần áo sida, những bó hoa tươi. Nhìn người lạ vui vẻ đi ngược ra đường, bạn nghĩ, những cuộc gặp ấy sẽ không dừng lại.


Khi tôi trở về nhiều năm sau, ngõ hẻm không có nhiều thay đổi, dù hàng quán tấp nập hơn và ngôi nhà dì Ba tôi có phần khang trang hơn trước. Trên bậc hiên thấp nơi những đứa trẻ ngồi nghỉ mệt giữa hai cuộc chơi, tôi lắng nghe câu chuyện của dì, trong tiếng chim hót râm ran trên hàng me, sấu, trứng cá trái chín mọng. Dì Ba tôi thời trẻ không đẹp nhưng xinh xắn, học giỏi. Ra trường sư phạm Quy nhơn, lấy chồng sĩ quan, sinh con đầu lòng chưa đầy năm khi miền Nam sụp đổ. Dượng Hiền, chồng dì, trình diện, lập tức bị chuyển ra Bắc xa tít, khó thăm nuôi. Không ai hiểu tại sao, cấp bậc dượng chỉ là thiếu úy không quân. Thiếu úy Nguyễn S. Hiền không phải phi công mà chuyên về kỹ thuật, gọi là sĩ quan an phi. Đến trại tập trung, bị hỏi cung lên hỏi cung xuống, chuyển thẳng tới trại khác trên Sơn La, vài tháng sau dượng mới biết nguyên nhân. Thì ra viên cán bộ thẩm vấn khi đọc chức vụ, không chịu hỏi lại. Có lẽ anh ta đoán mò chữ an phi gần với an ninh, công an chi đây, vì vậy xếp dượng vào diện nguy hiểm. Dượng biết chuyện nhờ gặp một người cùng hoàn cảnh, cũng thuộc loại sĩ quan an phi như dượng. Bất mãn với cái án, bị hành hạ, dượng tôi cùng vài người trốn trại. Đêm vượt rào, bị bắn, chết gần hết, chỉ một chạy thoát, dượng bị bắt lại. Chuyển trại. Đòn thù. Biệt giam. Bỏ đói. Gãy xương ống chân. Sốt rét. Chuyển trại khi quân Tàu đánh qua biên giới. Nhiều người cải tạo đã chết, không bia mộ, rải rác biên cương, nhưng dượng không chết, như có phép lạ, ở trong trại cho đến khi mãn hạn tù mười năm sau.


Ở nhà, dì Ba nghe phong thanh vụ vượt ngục, tất tả lên biên giới tìm chồng. Hai ngày đi tàu, hai ngày bám càng xe đò chạy than, khói lửa mù mịt, như ngày trước người Sài gòn bám càng trực thăng chen nhau di tản qua Mỹ, một ngày đi bộ từ ngoài ga xe lửa qua đường rừng nổi tiếng cọp dữ, vừa đi tim vừa đập thình thịch. Dì nhận được câu trả lời của cán bộ quản giáo. Chồng chị bị bắn chết vì tội vượt ngục, xác chôn giữa rừng sâu, không vào được. Chị hãy trở về, an tâm sản xuất, nuôi con. Dì tôi không khóc, quay mặt đi, im lặng. Người cán bộ tỏ ra ái ngại, muốn nói một điều gì, lại thôi. Dì cắp nón đứng lên, không chào, đi thẳng một mạch xuống núi. Đó là tính cách của dì. Đi suốt đêm, đi một mình, không sợ cọp, sợ rắn, không sợ hãi gì nữa. Ra hết núi, tới bìa rừng, gặp con suối nước chảy rì rào, rì rào, trong vắt. Dì cúi xuống đưa tay vốc nước uống, nhìn thấy một khuôn mặt dưới làn nước trong biếc như gương. Khuôn mặt còn quá trẻ, làn da sáng như ngọc, của một cuộc đời tuyệt đẹp đã xa tít mù, thuộc một xứ sở đã mất, dì tôi khóc òa lên, khóc như mưa, chưa bao giờ được khóc. Rồi dì ngất đi.


Khi tỉnh lại, người phụ nữ ngẩng đầu, gặp vành trăng sơ huyền buổi sớm treo lơ lửng trước mặt, giữa mấy điểm nhấp nháy tinh đẩu. Mùi cỏ tươi, mùi lá rừng rã mục, tiếng ve kêu xuyên qua tảng đá vôi, sương mù tụ lại tan đi, mặt trời lên. Tất cả làm dì hồi tỉnh. Lấy lại sức lực. Những chuyện bất hạnh, bạn nghĩ, có thể xảy ra cho một người nào đó, đáng thương, ở một nơi nào đó, nhưng không thể xảy ra cho mình, cũng như lịch sử có thể xảy ra một nơi nào đó, ở Bắc cực chẳng hạn, nhưng không thể xảy ra cho quê hương mình, cuối cùng đã xảy ra. Tất cả nước mắt của dì lặn hết vào lòng đất gần biên giới Sơn La. Trở lại nhà ga, đáp chuyến tàu sớm nhất về quê.

Buôn bán xuôi ngược không khấm khá, bên ngoại bên nội lưu lạc không nhờ vả ai được, dì tôi một mình bồng con nhỏ mới hơn tuổi vào Biên Hòa, rồi qua Biển Hồ, rồi tới Siem Riep. Một mẹ một con, dầm sương dãi nắng, tạo cơ nghiệp là cái quán tạp hóa, ít bánh kẹo, ít quần áo. Chẳng bao lâu, chính quyền Khơ – me đỏ xua đuổi Việt kiều, quét sạch thành phố, thảm sát trẻ con, cướp tài sản nhà giàu nhưng không chia cho người nghèo mà chia cho nhau, mùa mưa tới, mẹ con dì Ba bị lùa vào nơi tập trung. Mỗi người được phát khẩu phần một chén cháo trộn khoai sắn mỗi buổi, làm việc trên đồng mười mấy giờ một ngày, nắng như lửa đốt, mưa như dao cắt, không áo tơi áo ấm. Những đứa nhỏ gầy rộc nắm xương, bụng ỏng giun sán, thiếu máu xanh mét. Nhưng bọn chỉ huy vẫn chờ chúng lớn lên, hy vọng chỉ năm mười năm nữa có thể bổ sung vào đạo quân cách mạng, mười một mười hai tuổi biết ném lựu đạn ào ào, theo lời kêu gọi của Mao đi làm chiến tranh giải phóng nhân loại.


Ở giữa những bức tượng bằng đá thời Angkor, khắc hoa văn tỉ mỉ xinh đẹp, giữa những cánh đồng khi ngập nước khi khô hạn, giữa những chiếc sọ người lăn long lóc, chúng không còn làm ai giật mình sợ hãi, vì cái chết không đáng sợ bằng sự sống, đã có lúc dì toan thắt cổ bằng sợi dây vải gai. Nghĩ đến đứa con trai duy nhất của người chồng xấu số qua đời, dì lấy lại can đảm, cất sợi dây đi, để dành. Nỗi khổ đau, nỗi nhục nhã của dân tộc Kampuchia, của đồng bào Việt kiều tha hương lớn hơn hạn hán, lớn hơn mưa bão, đủ sức bào mòn những tượng đá trong các đền thờ. Cái đói ác liệt từ từ quật ngã họ. Dưới mắt dì, hàng trăm người, hàng ngàn người chết đói, đến lượt hai mẹ con. Bọn angka quyết định tàn sát những người đã mất sức lao động, gồm dân Kamphuchia và người Việt, chúng chuẩn bị đào sẵn những cái hố, cạn cợt. Thì bộ đội Việt Nam tới. Người đích thân cứu dì và đưa hai mẹ con về phía sau là một chỉ huy trẻ tuổi, nói giọng Bắc.


Nhiều năm trời lăn lộn trên chiến trường, thẻ đảng viên, vài ba vết thương thành sẹo lồi rải rác, trở trời đau nhức, vẫn không cứu được dượng Ba tôi, một tình nhân trẻ tuổi, trước cánh cung giương lên của thần Vệ nữ. Có lẽ vì nhan sắc? Nhưng dì tôi không đẹp, chỉ thùy mị, lại lớn hơn dượng ba tuổi. Mà dượng không phải người xấu xa, một chàng trai độc thân khỏe mạnh. Mặc kệ cấp trên ngăn cản, dượng phải lòng dì. Bộ đội chiến đấu ở Kampuchia thời ấy bị cấm yêu đương và kết hôn với dân địa phương. Là người gan dạ, dượng tôi bướng bỉnh. Dượng vẫn cầu hôn. Vì vậy bị kỷ luật, tước thẻ đảng, lột lon, xuất ngũ sớm. Dì Ba nhận lời, phần cảm động, phần mang ơn, rồi hai người dắt díu nhau trở lại Việt Nam. Dượng vốn lính đặc công, bề ngoài lầm lì, khắc khổ, nhưng bên trong hiền, vui tính, thật bụng, có lẽ vì mang trong người dòng máu nông dân chân lấm tay bùn từ một làng nghèo ở Thái Bình nhiều ruộng lúa, quê của thằng Vũ thằng Côn của Duyên Anh. Khi về làm rể nhà tôi, với giọng Bắc khó nghe, thói quen lính chiến, hàm răng sún nặng mùi thuốc lào, dượng gặp vài rắc rối, nhưng mau chóng phá vỡ hàng rào thành kiến, nghi ngại trong mắt mọi người, chẳng bao lâu chinh phục cảm tình của chúng tôi. Bọn trẻ mê nghe dượng kể chuyện ngoài Thái bình, chuyện chiến trường, Polpot. Dượng suốt ngày ngồi ở cửa, vừa coi hàng cho vợ, canh chừng bọn trẻ, vừa rủ bạn đánh cờ tướng. Không nhậu nhẹt, nhưng thích uống trà Tân Cương, hút thuốc lào, miệng hát ư ử con đường gánh gạo muỗi bay rừng già cùng với con đường xưa em đi vàng lên mái tóc thề dù hai con đường ấy khó mà gặp nhau.


Khi nhận lời cầu hôn, dì Ba có một điều kiện, phải cho dì thờ phụng người chồng quá cố. Dượng chấp nhận. Tưởng đâu qua chuyện, ai ngờ dượng là người chấp hành nghiêm chỉnh, ngày nào cũng thắp hương trên chiếc bàn thờ kín đáo trên gác xép, ngày rằm còn có huệ hay glaieul đỏ, trắng. Dì gượng dậy từ những chấn thương, gạt bỏ nỗi buồn góa phụ, nuôi con. Cảm động vì sự săn sóc của người lính, quả thực mới đầu dì không cảm thấy tình yêu là thứ tưởng đã chết. Bắt đầu cuộc sống mới, hai vợ chồng long đong giữa Sài Gòn. Vốn giỏi tảo tần, có sở thích cắm hoa từ nhỏ, dì học nghề bán hàng hoa, mới đầu phụ việc cho gian hàng ở chợ hoa Hồ Thị Kỷ, cuối cùng về an cư lạc nghiệp giữa xóm bình dân lao động quanh Bình Thới. Đồng bào miền Bắc di cư được dân địa phương kính trọng, họ vốn yêu Chúa kính Phật. Bốn mùa những bông hoa sắp tàn được dượng mang đi, thay vào những cành hoa mới, thơm mùi mặt trời phương Nam, như cuộc sống dân dã nay đã quen thuộc. Yêu nghề vực dậy một tâm hồn tưởng đã chết. Rồi năm tháng qua, hạnh phúc mới đầu mong manh ngày càng vun đắp. Dượng Ba tính vui vẻ, chinh phục cảm tình hàng xóm. Hai đứa con một gái một trai ra đời liên tiếp, ba đứa trẻ thương yêu nhau, làm sợi dây ràng buộc vợ chồng thắt chặt. Chẳng biết từ bao giờ mọi người quên mất tên tục của dượng, và gọi dượng theo tên người vợ. Nhờ lý lịch đi bộ đội nhiều năm, tuy không còn sinh hoạt chính thức, dượng Ba vẫn có cái mác làm chính quyền phường xã kính nể. Vì vậy việc buôn bán làm ăn của họ cũng thuận lợi.


Có hai con đường để đi đến nhà dì Ba, một là từ con hẻm lớn nơi những đứa trẻ chơi đùa, và lối đi khác vòng quanh sau các dãy nhà, len lỏi giữa những bức tường gạch xám xịt, bong nhiều mảng, chật hẹp, rất ít người biết. Một buổi chiều như thế, dượng Ba tôi đã dùng lối ấy mà xuất hiện, bất ngờ.

– Anh kia lại đây.

Giọng ra lệnh nhưng nhỏ vừa đủ hai người nghe. Người đàn ông giật mình quay lại, dượng đứng ngay sau lưng. Một thoáng tái mặt, ông ta lấy lại bình tĩnh, gượng cười.

– Anh hỏi gì tôi?

– Anh cứ đi theo.

Người đàn ông im lặng, ngẫm nghĩ.

– Tôi không đi. Tôi chẳng có tội gì. Mà anh là ai?

Dượng Ba lấy bàn tay phải đập khẽ lên ngực trái, tôi là chính quyền ở đây, bộ anh đui à. Mà quả thật nhìn bộ điệu dượng cũng rõ, ông mặc đồ bộ đội xanh đã cũ. Nhiều người sau khi giải ngũ vẫn mặc đồng phục, nhưng dượng tôi không có thói quen ấy. Ra mắt bên nhà vợ xong, dượng cởi phăng bộ quân phục, không phải vì ông ghét bỏ nó mà vì ngại. Ngày ngày ngồi tỉa hoa, cắt nhánh, lăn lộn với cư dân lao động Sài Gòn, dượng biết bộ quân phục gây nghi ngại, không có lợi cho việc buôn bán. Trừ vài trường hợp đặc biệt, như hôm nay. Vì lâu không mặc, dượng Ba quên mất trên ngực áo không còn huy chương nào cả. Những tấm huy chương về thành tích chiến đấu, hy sinh ở chiến trường bị lột sạch vì kỷ luật. Nhưng người đàn ông kia không biết. Chỉ riêng bộ quân phục xanh và giọng nói Thái Bình đủ làm ông ta tin tưởng.

– Tốt nhất anh đi theo tôi.

– Nhưng tôi có tội gì?

– Nhìn tướng anh là biết tù cải tạo vượt ngục. Lại còn tìm cách dụ dỗ con nít để bắt cóc.

– Oan cho tôi. Tôi có giấy ra trại.

– Nhưng trên giấy ghi trả anh về quê cũ. Đúng không? Quê quán của anh không phải ở đây. Nếu anh không đi theo, tôi sẽ bắt anh về trụ sở phường.

Hai người đàn ông đứng im nhìn nhau. Dò xét, sợ hãi, nghi ngại. Những đứa trẻ chơi đùa xung quanh bị dượng Ba xua tay đuổi đi. Người lạ hơi nghiêng người, trong một động tác gần như muốn bỏ chạy, thật ra chỉ để liếc nhìn mấy đứa bé lần nữa. Không khí căng thẳng, im lìm. Một tờ báo dưới chân hai người bị gió lật lên, xoay vòng. Ông ta đảo mắt nhanh, thu cái nhìn lại, dừng đăm đăm trên mặt dượng Ba. Khuôn mặt sạm nắng ấy trông khắc khổ nhưng không bần tiện hay nham hiểm, một biểu hiện kỳ bí, không có câu trả lời.

Dượng Ba quan sát đối phương, nói nhỏ nhưng cứng rắn.

-Anh không được bỏ chạy, không có lợi cho anh đâu.

Ông ta không phản đối, ra dấu sẽ nghe lời. Dượng Ba quay người đi thẳng, không nhìn lại. Ông ta bám theo, đưa mắt tò mò nhìn cái khuỷu tay trái của dượng, thỉnh thoảng lại co giật. Họ đi vòng qua ngõ hẻm thứ hai, vắng, kín đáo, bằng lối ấy dượng tôi đã xuất hiện. Người đàn ông không hỏi gì thêm.


Bên tường gạch, gần cửa sau có cái bến rửa, dượng Ba dừng lại mở vòi nước, bảo người đàn ông bước tới rửa chân tay, rửa mặt. Ông ta làm theo. Dượng lặng lẽ tra chìa khóa. Đi trước dẫn đường, rút từ trên vách xuống một chiếc đèn pin, thật ra dượng chẳng cần đèn, chỉ là thói quen, nhưng ngọn đèn ấy giúp người lạ vào nhà an tâm hơn. Hai người leo lên căn gác hẹp, thang gác bẻ góc ba lần. Chui khỏi cầu thang, ánh sáng hắt lên, dượng dẫn người khách lạ đến một góc khuất. Hai người đàn ông đứng im một lúc, không nhìn nhau, trước một bức rèm nhựa xanh cũ, in hình con chim phụng màu vàng có cái đuôi cong vút.

Chậm chạp, dượng Ba tiến lại, đưa tay vén rèm lên. Phía sau, lộ ra một cái bàn thờ nhỏ. Trên bàn, bát hương cắm đầy nhang, chứng tỏ được thắp đều, sau bát nhang là bức ảnh trắng đen trong khung kính, một chàng trai trẻ, mặt trắng trẻo, mặc quân phục. Bức ảnh trắng đen chụp đã lâu, nhạt màu, nhưng vẫn nhìn rõ cặp mắt tinh anh của người trong ảnh. Người đàn ông bưới tới gần, sững người, lùi lại, không giấu được vẻ bối rối, xúc động.

-Anh có biết ảnh của ai không?

-Tôi biết.

-Vậy anh có thể tin được lời tôi. Bao nhiêu năm nay, Ba và tôi vẫn chưng tấm ảnh này, vì cô ấy nghĩ rằng anh đã mất. Còn tôi thì không có bằng chứng nào khác, cũng phải tin vậy. Nhưng đôi khi tôi có linh cảm kỳ lạ, linh cảm của lính đặc công, là anh vẫn sống, người chồng cũ của vợ tôi vẫn còn sống đâu đó.

Có một bức ảnh khác của hai vợ chồng dì Ba, tôi  từng được thấy, chụp lúc họ mới cưới nhau. Trong ảnh, dựa đầu lên vai chồng, một người phụ nữ trẻ mảnh mai, mặt bầu bĩnh, miệng như cười, có hai răng khểnh cả hai bên, da mặt hơi sạm nắng, tóc uốn phi dê thời trang kiểu bà Trần Lệ Xuân những năm sáu mươi. Sau năm 1975 tôi chỉ gặp dì một lần, lúc dượng Hiền đã đi học tập cải tạo, mà gặp vội vã ở trạm xe lam gần ngã ba chợ Sặt, Biên hòa, phía trước quán bún mộc ngon nổi tiếng, tay xách nách mang, đi buôn trà từ Bảo lộc về Sài gòn. Tôi nhớ ánh mắt của dì đẹp, mở to mỗi khi ngạc nhiên, mà nụ cười thì héo hắt. Tuổi còn trẻ mà tóc rụng xác xơ, khớp cổ tay, đầu gối, cổ chân đau nhức khi trời trở lạnh.


Nhiều năm sau nữa tôi gặp lại, dì đã có hai con với dượng Ba, tôi tưởng dì đã quên chuyện cũ, nhưng không, trong đáy sâu thẳm của tâm hồn người đàn bà, căn gác thuê của hai vợ chồng mới cưới ngày trước, trên bán đảo Sơn trà, vẫn còn đó, tiếng sóng từ vũng Tiên sa đêm đêm vẫn vỗ về gềnh đá, vầng trăng lưỡi liềm xanh biếc của tuần trăng mật vẫn chiếu sáng. Hôn nhân đầu và mối tình đầu ở Đà nẵng ở lại trong ký ức, trong một góc khuất kín đáo như chiếc bàn thờ nhỏ kia, ẩn sau bức rèm nhựa xanh có in hình con chim phụng xòe cái đuôi kim tuyến. Tấm ảnh thờ trắng đen mờ ảo, tuy có nhòa đi sau hương khói được thắp những ngày rằm, vẫn còn đó, đăm đăm, nghiêm nghị, nửa thắc mắc nghi ngờ, nửa dịu dàng, an ủi.


Dượng Ba lục đục xuống bếp mang lên nồi cơm nóng, bát canh, dĩa cá kho đặt xuống giữa sàn nhà, so đũa. Không khách sáo, người đàn ông, tức dượng Hiền chồng cũ của dì tôi, ngồi xuống, lặng lẽ ăn. Dượng Ba ngồi đối diện, khẽ rít thuốc lào. Trong ngõ hẻm, ngoài đường, ba đứa trẻ chơi đùa với nhau, đứa con trai lớn nhất, con của dượng Hiền và dì tôi, khi dượng khăn gói lên đường vào trại cải tạo hãy còn bú mẹ, đang bầy trò nghịch cho mấy đứa em và trẻ con hàng xóm. Dượng Ba, nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, cử động thong thả, thỉnh thoảng khuỷu tay trái co giật nhẹ, như người bị động kinh do thương tật cũ, trên má phải có nốt ruồi với sợi râu, khi cười phô hết hàm răng vàng sún của người hút thuốc lâu năm, lại ra ngồi ở bậc cửa, phụ giúp vợ.


Trước mặt dượng có chiếc bàn trà nhỏ, bày bộ cờ tướng bằng gỗ mun đen nhánh, thiếu một con mã phải thay bằng quân cờ nhựa trắng đục, xấu xí. Mỗi khi có khách đánh cờ, dượng giành lấy bên khuyết, tức bên có quân cờ bằng nhựa. Riết rồi mọi người đều biết và ai cũng đòi đổi phía, tin đó là may mắn. Phía sau lưng, chất những kệ hàng tạp hóa, kẹo bánh, vì dì tôi tranh thủ bán thêm lặt vặt. Trên sàn nhà lót gỗ trải những chiếc chiếu dày trông như thảm Ba Tư, đến bữa cả nhà lại quây quần bên mâm cơm, nồi canh chua, soạn ngay giữa nhà, khói nghi ngút. Nhà chật, mọi người đều ăn ngủ sinh hoạt chung. Dì tôi kém dượng Hiền một tuổi, và lớn hơn người chồng mới ba tuổi, nhưng mưa nắng tảo tần, già quá sớm. Dượng Hiền gốc gác con nhà giàu, dì thường tự an ủi thế, có khi dượng mất đi lại đỡ khổ hơn so với cảnh sống hiện tại. Dì xuất thân nhà nghèo nên quen với cảnh cơ cực, vì vậy sau ngày đổi đời, đối phó với hoàn cảnh cũng dễ hơn. Khi cả một xã hội đói khát, khi tiếng súng vẫn còn vang rền biên giới những năm bảy mươi, tám mươi, hạnh phúc lứa đôi đâm ra nhỏ mọn. Dì Ba nhớ người chồng cũ nhưng cũng yêu thương dượng Ba, cảm phục vì đức độ, nhớ ơn cứu sống, hợp tính hợp tình, nên vết thương cũ nguôi ngoai. Đám cưới của hai người đơn sơ, chỉ có một chỉ vàng chia đôi làm nhẫn cưới, không khăn voan, không đầm trắng, không lễ rước dâu, không confetti bay rợp đất, một phần vì quê chồng ngoài Bắc xa xôi, phần nữa cuộc hôn nhân mới đầu chẳng được bao người tán đồng.


Lấy nhau xong, dì tế nhị cất biệt những hình ảnh cũ. Ảnh đám cưới xưa rực rỡ của họ, căn gác nghèo nhưng xinh xắn bên bờ biển Tiên sa, bức ảnh ra trường sĩ quan, bộ đồng phục không quân đứng bên máy bay, những hình ảnh ấy dì giấu tận đáy va li, vì bất tiện trong xã hội mới. Không ai biết có khi nào người đàn bà ấy mang chúng ra ngồi coi lại một mình, hay chẳng bao giờ làm thế nữa? Liệu những người mất đi quá khứ, đã trải qua thời vàng son không quay lại, có còn tha thiết lưu giữ ký ức? Mà để làm gì? Ký ức nào có ích cho ai trong buổi hỗn loạn, cho tương lai, cho thế hệ khác. Những thế hệ trẻ sau này, trừ những người thực xuất sắc, chẳng mấy ai biết đẩy tung cánh cửa của lịch sử mà mở đường đi tới.

– Em đi lên đây với anh.

Nhìn vẻ mặt nghiêm trọng của chồng, dì tôi lật bật đi thẳng từ ngoài cửa băng qua sàn nhà tới thang gác. Dượng Ba không nói thêm, dì không hỏi, hai người đứng im một lúc, dượng đứng phía trên, dì phía dưới, ở chân cầu thang.

– Em đã khóa chặt cửa chưa?

– Em thấy anh khóa rồi mà, dì tôi hỏi lại.

– Đã bảo đừng nói lớn tiếng, dượng Ba nói nhỏ, nhưng gắt.

Dì ngạc nhiên, vì vốn quen với tính khí dịu dàng của chồng. Trong vùng nửa sáng nửa tối, hai vợ chồng đứng nhìn nhau một lúc, như họ chưa bao giờ thực sự nhìn nhau. Rồi dượng Ba quay người bước lên trước, có phần nặng nhọc, như một người tìm cách chen ra khỏi đám đông. Hết cầu thang, dượng đứng lại, để vợ đi một mình. Linh cảm người đàn bà báo cho dì tôi biết, khi lên gác sẽ gặp chuyện bất ngờ. Khuôn mặt người đàn ông lạ trong bóng tối quả nhiên mới đầu làm dì khiếp đảm, cuống lên, chân tay run lẩy bẩy. Người đàn ông bước chậm chạp tới gần, ra khỏi vùng tối.

Những cú đánh của số phận đã liên tiếp giáng lên đời người, ngoài Trung, trong Nam, ngoài Bắc, tận Kampuchia, chúng cứ chờ dì sau những cánh cửa, cứ nắm lấy bàn tay nhỏ bé của người phụ nữ mỏng manh mà kẹp chặt, vặn xoắn, làm dì chúi xuống, bật ngửa người, lăn đi. Nhưng dì không ngã hẳn sóng soài, mà gượng dậy được. Dì ít khóc có lẽ vì vậy. Khi gặp lại người chồng cũ, trước mặt người chồng mới, dì im lặng nhiều hơn nói, và đã nói những lời thận trọng, dành lấy sự xúc động cho mình, để khóc một mình thật kỹ trong chăn, như con trăng giấu sau vầng mây đục, như những nụ chồi của cây thược dược tím mà dì thương, ủ trong tàn tro bên bếp, âm thầm chờ hết mùa đông.


Những điều dì Ba kể lại cho tôi nghe, có bao nhiêu là sự thực, bao nhiêu là nỗi niềm riêng của người đàn bà, những hồi ức nào bị xuyên lệch đi qua lăng kính phân kỳ của thời gian, tôi không biết. Tối hôm đó, họ có cuộc trò chuyện, khi những đứa trẻ đã buông mùng ngủ ngáy vang trong chăn. Đèn trần lơ lửng một ngọn, ngoài đường vẳng tiếng xe thưa, họ ngồi đó, đầu cúi xuống. Ba người, người vợ, người chồng cũ, cưới dì ngoài hai mươi lúc xuân thì, người chồng mới, lấy khi đã có con, chồng chết, lưu lạc xứ người hang hùm miệng cọp. Tôi không biết đêm ngủ trong ngôi nhà lạ, dưới bàn thờ của chính mình, dượng Hiền có chợp mắt không. Sau buổi gặp đầu tiên, dượng Ba nằng nặc bắt vợ vào ngồi trò chuyện với chồng cũ và ngủ lại qua đêm chỗ ấy. Dượng khóa cửa không cho vợ trở về phòng ngủ, có ý để hai người tự do tâm sự. Dì tôi, mặc dù một đời rông dài chợ búa, có con với hai đời chồng, vẫn giữ vẻ e thẹn gia phong, ngượng nghịu, ngồi thấp tha thấp thỏm một đầu góc chiếu. Hai người rì rầm trò chuyện một lúc thì im lặng. Cảm giác tự do của một người độc thân, không gia đình, không bè bạn, cảm giác ấy làm người ta vừa đau khổ tự thương thân, vừa nâng người ta lên trên đôi cánh của sự kiêu hãnh ngấm ngầm. Người ta sống với thực tại mà người ta cũng sống như giấc mơ. Mỗi buổi sáng khi mặt trời lên trên thành phố mới, nơi dượng Hiền không được phép sống, kỷ niệm ngày càng thưa vắng, lớp trẻ lớn lên ngày càng bị chặt đứt với gia tộc, cũng như đám sương mù tụ lại rồi tan đi ở bìa rừng Sơn La ngày nọ, tiếng ve kêu sau tảng đá, khuôn mặt đẹp như ngọc trong lòng suối trong vắt, tất cả sẽ mờ đi, sẽ tan đi. Thế thì cái gì còn lại, không ai biết. Sự thức giấc của một cuộc đời cũng tựa như sự thức giấc của một thành phố lúc rạng đông, mới đầu bạn nghe tiếng lọc cọc ngoài đường của xe ba gác, xe xích lô, xe thổ mộ, rồi bạn tưởng như nghe tiếng của mặt trời lên, rồi bạn nghe tiếng chim hót đâu đó, tiếng rao hàng ngoài đường dưới cửa sổ, những thứ tiếng động ấy lúc xa lúc gần, nhưng lúc nào cũng tới vào một giờ nhất định, lúc nào cũng làm dượng nghĩ đến một ngày mới, bận rộn, làm việc, đi lại, và lúc nào cũng làm người ta nghĩ tới một ngày đã qua, lúc trẻ. Ở xứ sở của mất mát, sự khởi đầu bao giờ cũng từ quá khứ, một ngày bao giờ cũng ra đi từ bóng tối, rất lâu trước khi mặt trời lên. Dượng Hiền nửa đêm đứng dậy khêu bấc sáng ngọn đèn trên bàn thờ, vì thuở ấy thành phố hay mất điện. Dượng thao thức hết nhìn căn gác nhỏ đơn sơ lại nhìn xuống chiếc chiếu hoa đang nằm, những ngăn tủ khép hờ, lối đi chật chội, thang gác sâu và tối, không ngớt pha trà vào ấm nước, chế trà ra chén. Dượng không hút thuốc, dù trong trại nhiều người quen hút thuốc lào, nhưng cũng đâm ghiền món trà Tân Cương của người chủ nhà. Đêm chậm chạp trôi, chỉ chòm sao ngoài cửa sổ và cây me lá đầy bụi, cây trứng cá trái tròn mọng nghe được cuộc chuyện trò của hai vợ chồng cũ. Đêm yên tĩnh, không thư loãng mà nén chặt. Dì Ba thỉnh thoảng hỏi nhỏ một câu, lúng túng, cân nhắc cảnh khó xử. Cuộc sống với quá nhiều lo toan chật vật, vết thương dù đã lành thỉnh thoảng trở trời đau nhức. Trong tâm hồn người đàn bà, sự đầu hàng, thất vọng, buồn rầu, sự thua cuộc, sự thỏa hiệp với cuộc đời, những nhục nhã và chịu đựng, nỗi hy vọng mơ hồ vào tương lai, nỗi nhớ thương vui vui buồn buồn đã trở thành một phần của đời sống.


Có lúc dì cúi đầu úp mặt lên hai lòng bàn tay, giữa hai đầu gối, tiếng tim đập rộn trong ngực. Hai người đàn ông khẽ trò chuyện. Bữa cơm chiều dọn sẵn ít ai đụng đũa. Họ ngồi với nhau vài ngày vài đêm như thế. Rồi dì tôi lại tất tả ra vào, vì khách hàng gõ cửa, vì trẻ con khóc đòi ăn, chuyện ngày thường tấp nập, nhưng có lẽ cũng vì dì lấy công việc để nén xuống nỗi xúc động. Dượng Ba tôi cố giữ dượng Hiền ở lại thêm nhiều ngày, tìm dịp chơi với bọn trẻ. Hai cha con được gặp nhau. Thằng bé nằm ngủ qua đêm với người cha ruột vài lần. Nhưng đến ngày thứ năm, người khách nằng nặc đòi đi. Suốt ngày dượng ngủ trên gác nhỏ, cửa đóng, bọn trẻ lẩn quẩn quanh bếp. Dượng Hiền bảo: tôi mới được tha, trả về quê cũ, không đăng ký tạm trú ở Sài gòn được, không thể ở lâu trong nhà anh. Dượng Ba trả lời: anh an tâm, tôi là bộ đội phục viên, địa phương không mấy khi khó dễ, miễn không ai nói ra ngoài. Người đàn ông kia phản đối: không được anh à. Im lặng một lát, thêm: chúng ta không thể như thế này mãi. Dượng Ba không biết trả lời thế nào, lại đem ống thuốc lào ra, hút liền một hơi say ngất. Thời gian trôi chậm, trong mấy ngày con nhện đã kịp giăng xong tấm mạng của nó từ bên cửa sổ này qua bên cửa sổ kia, tấm mạng chắc, dày, rải ngang phòng, bắt giữ được một con ruồi, như dòng thời gian dừng lại, cố tình bắt giữ cái giây phút rối bời của số phận.


Một ngày, dượng Ba bảo, anh ăn uống xong cứ đi nghỉ trước, vì tôi có việc đi đây một lát. Dượng Hiền ngồi một mình, lặng lẽ nhìn bức ảnh của người đàn ông trẻ tuổi tuy mới chụp mười mấy năm mà tươi tỉnh sáng láng như cậu học trò tạm thời khoác áo lính, rồi một ngày sẽ cắp sách tới trường trở lại khi hòa bình, đã thuộc một thế giới nào khác, xa vĩnh viễn. Sau lưng anh ta ngày ấy, trên phi trường, bãi cỏ xanh rờn, không biết trong mỗi cọng lá hạnh phúc có một hạt giống hủy diệt. Tối hôm ấy dượng Ba về muộn, có phần mệt vì đi đường, không ăn uống gì ngoài một bánh đường đen, ngọt lịm, gói trong rơm, mua ở bến xe, những sợi rơm dính chặt vào đường, dượng ngồi nhai với cốc nước trà bốc khói, mời người kia một miếng, rồi ra ngồi ở cửa hút thuốc một mình. Sau một ngày đi và về mệt mỏi, dượng Ba nằm ngửa ra chiếu, đánh luôn một giấc, để nguyên quần áo không kịp thay.

Ban ngày thằng bé được phép lên gác chơi suốt buổi với cha nó. Hai người nói gì với nhau, dì không biết. Duy một lần tình cờ mang thức ăn lên gác, thấy hai cha con nằm ôm nhau lim dim ngủ, dì đã gạt nước mắt quay người đi xuống. Cũng trên căn gác nhỏ ấy, hai vợ chồng cũ đã trải qua đêm, nhưng mỗi người một góc chiếu. Khi mắt đã quen với bóng tối, dượng Hiền nằm im tò mò nhìn những vách tường ám khói, bức tranh đám cưới mộc mạc lần thứ hai của người phụ nữ, những cái móc áo cong lại dưới mái tôn hâm hấp nóng, bàn ghế lau chùi sạch sẽ như còn hơi ấm của người ngồi, chiếc chiếu ấm áp của một thứ tình vợ chồng tuy không lãng mạn nhưng ý vị và êm ấm. Có khi nào sự thèm muốn, sự ghen tuông, nỗi giận dữ, đã vang lên trong trái tim của dượng, không ai biết.

Dì Ba ngồi co đầu gối lại, ngủ gật. Chỉ một lần, choàng tỉnh khỏi giấc mơ, nhìn qua chiếc chiếu hoa, dì Ba kêu khẽ:

– Mình ơi. Nhưng chỉ một lần đó thôi. Trong giây phút chập chờn của dì, có lẽ hình ảnh bất động của người đàn ông nằm kia chỉ còn là hình ảnh, là quá khứ đã chết, hay ở đó vẫn còn rừng rực hơi nóng của sự sống, của bầu ngực ấm lại, trái tim hồi sinh?

Trong những giờ khắc như thế, những điều đúng đắn nhất không bao giờ hiện ra trong ánh sáng, chúng chập chờn đâu đó ở ranh giới nửa tối nửa sáng, bay lơ lửng đâu đó giữa sàn nhà và trần nhà, đậu xuống tay bạn khi bạn vừa quay đi, có khi hiện ra như tia chớp, có khi dịu dàng như cánh bướm. Đời sống là chuỗi những phép thử bạn không được quyền chọn lựa, những phép thử ấy làm bạn mê đắm, nhưng đó là chuyện về sau. Cứ như thế ba người sống chung trong ngôi nhà, bề ngoài lặng lẽ, để tránh sự nghi ngờ, hàng ngày dì dượng tôi vẫn cố gắng mở cửa đón khách. Dì tôi có khi đi đâu vắng vài giờ, dượng Ba ngồi đánh cờ trông chừng, những đứa trẻ vẫn chạy nhảy ngoài đường chỉ đến bữa ăn mới về. Bạn không thể nhìn thấy đầu nguồn hay cuối nguồn của dòng sông, bạn chỉ nhìn thấy một khúc gợn sóng. Thế giới gồm những mảnh vỡ xếp chồng nhau, những tấm vải dệt đứt đoạn, giữa chúng là khe hở của ký ức, bao nhiêu sự thật đã được ghi chép lại và bao nhiêu đã bị quên lãng. Thế thì tại sao chúng ta vẫn tin vào những câu chuyện kể, sự làm chứng, vào thứ văn học dối trá của những người tạo ra lịch sử? Dì Ba không bao giờ ngủ, chỉ chập chờn nửa thức, sống như cơn mộng. Thật ra có ai trong chúng ta chưa từng sống như cơn mộng, đi ngang qua cuộc đời như một ngày mưa, tầm nhìn tù mù, tai nghe tiếng động hỗn tạp, bước đi theo thói quen, đời sống là mớ chỉ rối, tấm mạng nhện không gỡ ra được, không biết bắt đầu từ đâu. Trong một ngõ hẻm được bao bọc bởi hai dãy nhà kín bưng, gió lọt vào không ra được, bạn có thể nghĩ số phận mỗi người đã được sắp đặt xong từ trước, nhưng thật ra mọi chuyện rắc rối hơn. Đôi vợ chồng cũ xa nhau, lặng lẽ, buồn bã, không phải qua những hàng rào thép gai của cuộc chiến tranh, mà qua một khung cửa nhỏ, ít ánh sáng vì ngày chưa tới, bảng lảng sương mù, dưới tàn một cây me và một cây trứng cá. Cuộc chia tay ấy sẽ còn lặp lại nhiều lần nơi khác. Tất cả cuộc đời, lớp sóng phế hưng đã xô dì Ba tôi tới đây, bên rìa mép chiếc chiếu cũ này. Dì khóc, hơn mười năm trước đã khóc một lần như thế trước ngọn suối rì rào gần biên giới. Sau đó, không còn nước mắt nữa.  Thế rồi cuộc đời khác như con sóng khác dạt tới, đẩy ta đi, va đập, bẻ gãy, nối kết, xóa đi, làm lại. Như thể những người đàn ông rồi sẽ trở về,  những người đàn bà sẽ mãi đứng chờ bên cửa. Nhưng nếu vặn ngược đồng hồ, bạn thấy họ không làm được, ngày sẽ rạng, mặt trời lên, gió sẽ thổi vàng những mùa xuân cũ, chiều hôm sẽ có người khách lạ. Và khi trời chạng vạng, người đàn bà kia sẽ đóng cửa sạp, cất gánh hàng hoa, gọi trẻ con, la mắng chúng, chuẩn bị bữa ăn tối. Không một người đàn bà nào muốn nồi cơm cháy khét vì quá lửa, soong canh khổ qua cạn nước, dĩa thịt kho để ăn với dưa giá trở nên khô rông rốc, hay bữa cơm dọn ra cho chồng con trên chiếc chiếu giữa nhà nguội lạnh. Họ muốn bữa ăn ấy ngon miệng và ấm nóng mãi.

Gần sáng khi mọi người ngủ say, dượng Ba choàng tỉnh. Linh tính xui dượng chạy lên gác, gác vắng lặng, không bóng người. Trên bàn thờ có  cây đèn dầu ngày trước dượng vẫn thắp, cháy tù mù, nay lạnh tanh, một tờ giấy học trò, gấp lại, đặt trên bàn. Dượng mở ra, cúi thấp đầu xuống, đọc. Thư viết: Anh Ba, tôi xin lỗi anh. Tôi ra đi không báo cho anh biết. Tôi thiệt biết ơn anh vì nhiều ngày qua cất giấu tôi, mặc dù đã được lệnh tha, nhưng tôi không có tạm trú hay hộ khẩu, ở lâu nguy hiểm cho anh chị. Với lại tôi với Ba có tình nghĩa vợ chồng, nhưng nay người cũ đã có hạnh phúc mới, lại có hai con với anh. Tôi nghĩ mãi thấy số phận đã an bài. Tôi quyết định ra đi, cũng có chút bất ngờ nên không kịp thưa gởi, lấy làm ái ngại. Nhờ anh nói với Ba rằng tôi suốt đời ghi nhớ tấm lòng chân thật. Nhờ anh từ nay nuôi nấng chăm sóc thằng Hiệp, con trai tôi, đứa con duy nhứt của hai chúng tôi. Tôi xin ghi lòng tạc dạ ơn nghĩa nầy. Mấy hôm nay tôi được gặp nó lòng vui sướng như sống lại. Mỗi khi nhắm mắt, tôi nhìn thấy khuôn mặt thơ ngây của con trai. Thế là đủ. Đúng rồi, tôi đã sống lại. Vì tôi đã chết. Tôi đã chết một lần. Thì nay cuộc đời này đối với tôi như một thế giới khác. Tôi biết anh chuẩn bị bỏ nhà, về lại Thái bình. Tôi biết anh giữ kín việc ấy, không cho Ba biết, nhưng anh đừng. Nếu Phật Chúa phù hộ, tôi sẽ đến bến bờ tự do mới. Dù có gian lao nguy hiểm cũng phải đi, vì đó là con đường sống duy nhất của tôi. Còn hơn việc anh từ bỏ vợ con, mà về quê cũ, anh sống làm sao được. Anh đã bỏ tất cả để đi theo cô ấy, nhờ thế mà vợ con tôi được bảo bọc. Anh ra đi làm sao được, quê hương không còn che chở chúng ta. Nhưng đã là quê hương thì chúng mãi nằm trong đáy lòng tụi mình đây. Phải không, thưa anh. Dượng Ba thẫn thờ quay đi, nhìn ra cửa sổ, nơi có tàn cây me che phủ. Vầng trăng còn nấn ná thêm một lúc trên nền trời lam phớt hồng. Dượng bồi hồi nhớ lại ngày mới dọn về nhà này, gốc me ấy ai trồng hãy còn nhỏ, mà nay đã cao bằng mái nhà, lá xanh mướt, như một đứa trẻ ngày nào còn bồng ẵm trên tay mà nay đã lớn khôn. Ở gần cửa sổ, dượng nhìn kỹ, thấy một nhành cây mới gãy ngang, chỗ gãy hãy còn tươi, ra nhựa trắng, chùm lá xanh non lay động trong gió sớm.


Nguyễn Đức Tùng
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 18/Nov/2023 lúc 1:52pm
Mùa%20đông%20trên%20rẻo%20cao%20-%20Tạp%20chí%20Kinh%20tế%20Sài%20Gòn


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 18/Nov/2023 lúc 2:05pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 20/Nov/2023 lúc 4:23pm

Con Chim Nhỏ Trong Lồng

Photo courtesy of ehepruce.com

Ngồi lên cạnh giường, đôi mắt tôi hết nhìn bàn tay khẳng khiu đặt trước bụng đến nhìn chiếc va li nhỏ mà trong đó phải bỏ vào tất cả đời mình.

- Má chọn những thứ cần đem theo, còn việc khác cứ để con lo! 

Trong tai tôi còn lùng bùng giọng nói thiếu thân thiện, ngạo mạn và không chút kính nể của đứa con dâu lúc mang chiếc vali để tôi thu xếp những thứ cần thiết trước khi dời đến nhà mới.

Vậy là tôi phải vĩnh viễn rời bỏ căn nhà rộng rãi và thoáng mát, nơi mà tôi từng sống như một người vợ được yêu thương và hạnh phúc. Được yêu thương... cho tới lúc chồng còn sống... Còn sau đó... thì tôi sống mà như đã chết... sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình vì đứa con dâu mới thật là bà chủ, là người quyết định, và bằng thủ đoạn tàn nhẫn và nham hiểm nó còn cướp mất lòng yêu thương của đứa con trai rồi từng ngày, từng ngày nó còn xéo nát từng mảnh tim tôi.

Khó nhọc đứng lên, tôi bước đến chiếc tủ quần áo, cảm giác như vừa mở ra cuốn album với những tấm ảnh vàng vọt bởi thời gian. Bao nhiêu là quần áo! Treo, móc đó mà bấy lâu nay tôi chưa bao giờ đụng tới! Đây rồi, hai chiếc áo sơ mi, hai chiếc quần, một bộ đồ, vài mảnh đồ lót... chỉ có thế mà chiếc vali đã đầy ứ rồi, tôi còn có thể bỏ thêm gì vào nữa?

Nhưng thực ra tôi có cần gì những thứ áo quần! Cái mà tôi cần chính là chiếc khung hình đặt trên chiếc bàn nhỏ bên giường. Bao năm rồi tôi chưng khung hình lên đó để nó là hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy trước khi ngủ và cũng là hình ảnh đầu tiên khi tôi vừa tỉnh dậy. Đứa con dâu khốn nạn có thể lấy đi hết thảy, nhà cửa, quần áo, vàng bạc, con trai... nhưng không thể cướp đoạt những giây phút hạnh phúc của tôi và chồng đứng ôm nhau quay lưng về phía biển trong một buổi sáng rực rỡ ánh mặt trời. Một khoảnh khắc tuyệt vời đã được giữ lại, mãi mãi, và gợi nhớ biết bao kỷ niệm.

Bao nhiêu say mê, bao nhiêu tình yêu đã từng có trong đời tôi! Tôi nhìn tôi trong tấm kiếng khi đóng lại cửa tủ, tuổi trẻ đã đi qua và mái tóc bồng bềnh như mây của tôi cũng đã điểm bạc hồi nào không hay. Trên khuôn mặt nhăn nheo chỉ còn lại đôi chút dấu vết của thời gian đó, màu biển trong mắt, nhưng khi mở ra trước sự thật tôi chỉ thấy bóng tối của nỗi cô đơn.

Hai hốc mắt của tôi vẫn còn xanh nhưng không có chút ánh sáng. Sự thiếu thốn tình cảm đã và đang dồn ép tôi vào giữa những bức tường quen biết ở nhà mình. Không ai đoái hoài gì đến tôi, chẳng ai thèm hỏi ý kiến và chẳng có ai bận tâm là tôi sẽ khổ sở biết bao khi phải sống trong căn hộ của một chung cư mà chỉ vừa nghĩ đến tôi đã thấy mình ngộp thở.


******

Và đúng như vậy, chỉ sau một tháng tôi đã thấy đời sống ở căn hộ ở tầng thứ 15 thật ngột ngạt. Với tôi, đời sống chỉ có ở bên ngoài cửa sổ, dưới đó tôi được nhìn những con người và đồ vật liên tục chuyển động giống đàn kiến hấp tấp, vội vã trước cơn mưa chiều.

Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước những nỗi đau của tôi.

Chẳng biết có chuyện gì xảy ra mà tôi thấy khó thở và không ngủ được. Nhiều đêm tôi mò mẫm đi dọc theo tường nhà, như muốn tìm một lối thoát không hề có. Sự khiếp đảm và kinh hoàng đẩy tôi qua lại giữa những chồng gạch xây cao, như con chim bị nhốt trong lồng đang tuyệt vọng tìm cách vượt qua những chấn song để tìm tự do.

Cũng như chim, ý thức về sự bất lực của mình, tôi đành phải qui hàng, rồi thẫn thờ và mệt nhọc quay lại giường ngủ. Mở to mắt, tôi trừng trừng nhìn bóng đêm rồi nước mắt cứ trào ra, ướt gối. Bằng những ngón tay run rẩy tôi siết chặt cái kho tàng của mình, phút giây chớp nhoáng của niềm hạnh phúc, như thể nó sẽ giúp tôi thoát khỏi nơi đây, giải phóng khỏi những niềm đau.

Bởi tôi chẳng còn gì khác. Đứa con dâu đã vứt bỏ tất cả những gì còn lại trong căn nhà, quần áo, vật dụng, cuộc đời... và sự phiền hà duy nhất mà tôi mang lại cho cô ấy chỉ là một bát cơm... nhưng tôi cũng chẳng còn muốn nuốt... Rồi mọi ngày đều trở nên nhọc mệt, hơi thở mỗi ngày mỗi ngắn, như có ai hay có cái gì đang thít họng, may mà có một ngụm không khí từ cửa sổ tràn vào, tôi nhìn thấy những con người và mọi vật chuyển động như đàn kiến cuồng nhiệt trước cơn mưa, hơi thở mới thoát trong một cơn khò khè.

- Đủ rồi! Con không thể nào sống như thế này được! Con còn phải đi làm và cần phải ngủ! Má phải bỏ cái tật đi lung tung khắp nhà như một mụ điên!

Thằng con trai của tôi đã hét lên như thế.

Giống tiếng kẽo kẹt từ mấy khúc xương sắp xụm, tôi ngã xệp lên chiếc ghế, toàn thân như bị băm vằm vì lời lẽ nhọn hoắc như những nhát dao. Biết bao đau đớn tôi đã sinh ra nó, một đời thương yêu và chăm sóc... thế mà giờ nó không chịu được tôi, xem như một sự phiền hà cần phải loại bỏ. Đó là lỗi tại tôi cưng chiều quá, và giờ thì tôi hiểu là mình vẫn còn có thể làm thêm một điều nữa cho nó. Và có lẽ cũng là làm cho chính mình.

Từ vài ngày qua tôi cảm thấy mình vui, đi đứng bình thường hơn giữa những bức tường và chiếc giường. Thỉnh thoảng trên môi tôi còn nở một nụ cười, nhất là lúc tôi nhớ lại những giai điệu của một bài hát tình yêu cũ... Lâu lắm rồi, tôi không còn nhớ trọn lời ca, chỉ mang máng nhớ điệp khúc nói là mùa xuân đang trở lại... và tôi cũng ước muốn có một mùa xuân mới.

Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường. Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây.

Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười, thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác.


Elena Pucillo Truong
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 28/Nov/2023 lúc 10:42am

Tiếng Vĩ Cầm


Tôi trở về thăm quê hương sau ngót nửa thế kỷ xa cách. Quê tôi là một tỉnh lỵ nhỏ phía Nam Hà nội, có trường thi Hương cuối cùng của Nho học ở Bắc Hà. Mục đích chính kỳ trở về này là thăm bà chị ruột và ông anh rể đã trên dưới tám mươi. Cả hai chị em đều lớn tuổi, khó mà biết được ai sẽ "ra đi" trước, nên tôi sợ nếu không về bây giờ, sẽ không có dịp nào nữa. Ngoài mục đích đó, tôi cũng muốn gặp lại một số bạn bè thân từ thuở còn thơ ấu mà chúng tôi phải chia tay kể từ khi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào tháng 12 năm 1946.

Mục đích phụ của tôi không đạt được trọn vẹn. Bạn bè tan tác mỗi người một phương trời, kẻ còn người mất. Những ai còn, phần lớn không trở về sinh sống tại quê nhà sau khi hòa bình được tái lập. Lác đác chỉ còn một vài người quen cũ, không thân thiết, ở đâu đó trong cái tỉnh lỵ nhỏ bé này mà tôi chưa hỏi được địa chỉ hiện tại của ho. Cái khó là người nào cũng đã lớn tuổi, đều trên cái mức "cổ lai hy" nên rất ít xuất hiện ngoài đường phố, nếu không có việc thật cần thiết. Còn con cháu họ thì tôi không biết một ai. Suốt ngày quanh quẩn với gia đình và con cháu của bà chị, tôi cũng bắt đầu thấy buồn. Trong khi đó, ngày trở lại Saigon để lên máy bay về Mỹ còn xa.

 

Vào một buổi sáng, đang lang thang đi quanh những phố phường cũ chứa đầy kỷ niệm của thời thơ ấu, tôi tình cờ trông thấy một lão già tóc bạc phơ, dáng đi hơi khòm khòm. Nhưng sau những nét già nua của lão tôi nhận ra một gương mặt quen. Tôi nghĩ với tuổi của lão, có thể đó là một người bạn cũ lâu không gặp. Tôi đánh bạo bước đến bên lão, khẽ hỏi :"Xin lỗi..." Nhưng tôi chưa kịp nói thêm thì lão đã quay lại. Tôi nhận ra ngay người bạn thân năm xưa. Đó là Phong mà hồi trẻ, tụi bạn tinh nghịch và tôi thường gọi đùa là "Phong violon".


Phong nhìn tôi với một vẻ rất ngạc nhiên và hơi lúng túng. Tôi vội vã xưng tên và nói cả họ. Hắn nheo mắt nhìn tôi rồi chậm rãi hỏi :

"Về bao giờ ?"

"Mới về chưa được nửa tháng", tôi đáp .

Hắn hỏi thêm :

"Về ở luôn hay lại còn ra đi ?"

"Việc về ở luôn còn phải tính toán kỹ lại. Vì thế, hai tuần nữa tôi sẽ lại ra đi."

           Tôi nắm lấy hai bàn tay gầy guộc của người bạn cũ, nói sơ qua về tôi. Bấy giờ hắn mới tỏ ra vui vẻ một cách dè dặt, nói :

           "Hình như cậu còn bà chị ở đây."

           "Đúng. Chính vì thế, tôi về thăm bà ấy. Nào, bây giờ cậu cho tôi biết nhà để đến thăm cậu."


Hắn có vẻ miễn cưỡng khi cho tôi biết địa chỉ. Tôi liền đòi hắn đưa về nhà. Hắn nhìn tôi đăm đăm rồi nhận xét  :

           "Cậu vẫn như ngày xưa."

           Tôi bèn cãi :

           "Sao lại vẫn như ngày xưa được. Cậu không thấy tôi đã da mồi, tóc bạc sao ?"

           Phong lắc đầu :

           "Không, tôi không bảo cậu vẫn trẻ như ngày xưa. Nhưng tính cậu vẫn nóng nảy và độc đoán."      

           

Phong đưa tôi về nhà hắn. Đó là một căn nhà cũ kỹ, ọp ẹp, hai tầng ở Bên Đồng. Vào đầu thế kỷ 20, tỉnh lỵ này phát triển mạnh nên nhiều nơi đang là đồng ruộng biến thành phố xá. Dân trong tỉnh vẫn quen gọi khu mới này là Bên Đồng, dù đã có tên phố hẳn hoi. Cái địa danh "Bên Đồng" làm tôi nhớ đến bốn câu thơ của Cụ Tú Vị Xuyên. Đó là bốn câu thơ rất tình cảm, rất "hoài cổ", chả có một chút trào phúng nào :

                                   "Sông kia rày đã nên đồng,

                                   "Nơi làm nhà cửa, nơi trồng ngô khoai.

                                   "Đêm nghe tiếng ếch bên tai,

                                   "Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò."


Tôi thầm tự hỏi tại sao căn nhà này có thể tồn tại sau kỳ "tiêu thổ kháng chiến" vào cuối năm 1946 và đầu năm 1947 và kỳ bom Mỹ năm 1972 ?  Phong cho biết mới dọn về lại tỉnh lỵ này ngót ba năm. Sau cuộc chiến tranh Việt Pháp, hắn đi học lại và làm nghề dạy học ở một tỉnh miền trung du Bắc Việt. Hắn về hưu đã ngót mười năm, nhưng còn quanh quẩn ở nơi dạy học cũ. Khi tôi hỏi hắn tại sao không ở luôn trên đó thì hắn giữ im lặng, vẻ mặt bỗng trầm xuống. 

Tôi đoán hắn có một tâm sự buồn nên không hỏi thêm. Hắn loay hoay mở cửa cho tôi vào nhà. Phòng ngoài trống rỗng và tối om. Hắn đưa tôi vào phòng trong. Nhờ có cái sân lộ thiên, lót gạch Bát tràng vuông, to, căn phòng sáng sủa hơn. Phòng chỉ có một cái bàn và hai cái ghế gỗ. Trên bàn có một ấm tích nước và bốn cái chén trên một cái đĩa cổ. Tất cả đều cũ kỹ, nhưng rất sạch. Hắn cho biết nhà hắn chỉ có chè tươi, không có nước gì khác để đãi khách. Nếu tôi chịu, hắn sẽ xuống bếp đun nước để pha ấm chè mới. Gian bếp ở trong cùng, cách cái sân lộ thiên. Tôi gạt đi vì không muốn làm phiền hắn, dù tôi rất thích uống nước chè tươi nóng. Vì nhà trống trơn, không có đồ đạc gì ngoài cái bàn nước và hai cái ghế, tôi đoán hắn ở một mình, nhưng lại thắc mắc về vợ con hắn nên hỏi :

           "Bà xã và các cháu không ở đây với cậu ?"

           Hắn cười buồn, đáp :

           "Mình chưa hề có gia đình bao giờ."

Tôi ngẩn người, đăm đăm nhìn hắn. Dĩ vãng của năm chục năm cũ bỗng trở về. 

Tôi nhớ khi còn trẻ, Phong có yêu một cô gái tên Nga. Hồi đó chúng tôi mới mười bảy, mười tám mà Nga còn kém chúng tôi ít ra ba, bốn tuổi. Nga ở bên kia đường, xế cửa hiệu buôn của bố mẹ tôi. Hàng ngày tôi vẫn thấy cô bé ngây thơ, nhí nhảnh chơi truyền, nhảy dây, chơi ô quan... với bạn gái cùng lứa. Tuy còn ít tuổi, Nga đã khá đẹp, được coi như đẹp nhất phố tôi. Người đẹp, dù còn nhỏ, cũng đã có nhiều cậu ngấp nghé, trong đó có Phong.

Hắn tìm cách làm quen với Nga mà chưa được, nhưng hỏi dò biết cô thích đàn vĩ cầm. Thế là hắn mua vĩ cầm về học. Bỗng thấy mất tăm hắn một thời gian khá lâu, mấy tên bạn và tôi mò đến nhà hắn. Thì ra hắn đóng cửa để ở nhà cố tập luyện đàn vĩ cầm.  Hắn suốt ngày ôm cây đàn đến nỗi cổ và cằm hắn xưng húp. Chúng tôi ngạc nhiên nhưng cũng phục sự quyết tâm của hắn. Từ đó hắn được chúng tôi đặt tên là "Phong violon". Rồi cho đến ngày chiến tranh bùng nổ, chúng tôi không rõ hắn có làm quen được với Nga không và đã trổ tài đàn cho cô bé thưởng thức chưa?  Chiến tranh làm chúng tôi xa cách nhau, mỗi người chạy một ngả. Mấy năm sau, khi chiến tranh lan rộng, tôi nghe tin Nga lấy chồng. Điều đáng buồn là chồng Nga không mang tên Phong. 

Dạo ấy, chúng tôi chỉ họa hoằn mới nghe tin tức của nhau, hầu như chả bao giờ được gặp nhau, vì sự liên lạc khó khăn và đường xá trắc trở. Những năm đầu kháng chiến, tôi đi theo một đơn vị bộ đội nên càng khó liên lạc với những người bạn cùng quê hương. Khi bỏ kháng chiến để trở về thành phố, nơi Pháp tạm chiếm, tôi ít có dịp trở lại quê cũ vì bận học ở Hà nội. Bạn bè thời thơ ấu hầu như chẳng có ai, đa số còn lạc lõng ngoài hậu phương. Khi có hiệp định Genève, hòa bình được tái lập, tôi vội vã di cư vào Nam. Bạn cũ nhiều người ở lại, do đó chúng tôi không có tin tức gì của nhau. Nhưng theo sự suy nghĩ thông thường thì tôi cho rằng bạn tôi, kể cả Phong, cũng sẽ có một cuộc sống như mọi người là tạo dựng một gia đình. Bây giờ, tôi mới biết Phong không nằm trong "sự thông thường" đó. Hắn sống độc thân suốt đời. Thì ra hắn đã yêu Nga đến độ không thể nghĩ đến người con gái nào khác.  

Tôi bảo hắn :

           "Mối tình cậu dành cho Nga là mối tình lớn, bất diệt. Có thể nói đó là mối tình rất hiếm có trên cái cõi đời luôn luôn thay đổi như chong chóng này."

Hắn lơ đãng nhìn ra ngoài sân, giữ im lặng. Rồi hắn bỗng đứng lên, ra hiệu cho tôi đi theo. Chúng tôi lên lầu. Đó là phòng ngủ của hắn. Trong phòng có một chiếc giường gỗ nhỏ và ngay cạnh giường là một bàn thờ, rất sơ sài. Một tấm hình lồng trong một cái khung gỗ đánh véc ni đặt trên một cái hộp và trước hình là một bát hương bằng sứ. Khi đến sát bàn thờ tôi nhận ra ngay hình Nga thuở mới  mười bốn, mười lăm.  Còn cái hộp là hộp đàn vĩ cầm. Vì bị bất ngờ, tôi sững sờ đến không thốt được nửa lời. Hắn cho biết Nga mất đã gần ba năm.  Sau cái chết của người tình trong mộng, hắn mới quyết định dọn về quê cũ.

Cây đàn bây giờ đã trở thành cây đàn thờ nên tôi biết tôi không có hy vọng được nghe hắn đàn, nhưng cứ hỏi :

"Lúc nào cậu có thể cho tôi thưởng thức tài nghệ của cậu ?"

Hắn cười :

"Cậu 'đao to búa lớn' quá. Thưởng thức tài nghệ ! Cậu làm như tôi là một đại danh cầm ấy. Cậu muốn nghe tôi đàn thì...tôi sẽ đàn cho cậu nghe, chỉ sợ lúc đó lại chê là...kéo nhị thôi."

Tôi mừng rỡ :

"Bao giờ ?  Ngay bây giờ có được không ?"

Lưỡng lự một vài giây, hắn hẹn :

"Một tuần nữa, cậu trở lại... Mỗi năm tôi chỉ đàn có một lần."


X                                                                                    

                                                                          

Tôi chờ đúng một tuần mới trở lại nhà Phong. Vì bà chị tôi đoán hôm ấy có thể là ngày giỗ của Nga, tôi đem theo hoa quả và một thẻ hương để cúng người đã khuất. Tôi phải đợi hơi lâu mới thấy Phong mở cửa. Hôm nay trông hắn có vẻ hơi khác la. Buồn bã, phờ phạc, ngơ ngác, như mất ng, như  trong cơn mộng mị. Hắn lặng lẽ mở cửa cho tôi, rồi đứng tránh sang một bên nhường lối cho tôi bước vào nhà. Rồi chúng tôi vào phòng trong sau khi hắn khép cửa và cài then cẩn thận. Tôi để đồ cúng lên bàn nước rồi nói vắn tắt :

           "Để cúng Nga !"

           "Sao cậu biết hôm nay là ngày giỗ Nga ?" Hắn ngạc nhiên hỏi.

Nhưng liền sau đó, không cần đợi tôi trả lời, hắn mang đồ cúng lên gác ngay. Tôi lên theo hắn. Bàn thờ Nga hôm nay hơi khác. Tấm ảnh của Nga không còn để trên hộp đàn nữa mà đặt trên một bệ gỗ phủ vải điều. Hai bên ảnh có hai cây nến đỏ chưa đốt. Cây đàn được dựng đứng cạnh cây nến bên tay phải. Bát hương có ba cây hương đang cháy. Hai bên có một đĩa gà luộc và một đĩa xôi đậu xanh. Hắn lấy thêm một đĩa lớn để bầy trái cây tôi mang tới. Có lẽ nhà không có bình nên hắn cắm hoa vào một cái ly thủy tinh. Nhờ bó hoa hồng, bàn thờ trở nên sáng sủa và trang nghiêm hơn. Nhìn bàn thờ có vẻ khác trước, hắn nói với một giọng vui vẻ, bằng lòng :

          "Ừ, cậu mua hoa khéo đấy...Năm ngoái, giỗ Nga, tôi chỉ đàn cho một mình Nga nghe thôi và định rằng cho đến ngày tôi chết, không ai được nghe tiếng đàn của tôi. Nhưng vì cậu không ở luôn đây và vài hôm nữa cậu lại ra đi, rồi chả bao giờ hai đứa mình có dịp gặp nhau, nên tôi đành chiều ý cậu."

 

Quả thật, tôi không tính trở về quê một lần nữa vì tuổi già, đi lại mệt mỏi, khó khăn. Bầy xong hoa và trái cây lên bàn thờ, hắn lại đưa tôi xuống dưới nhà. Lần này hắn mời tôi uống chè tươi nóng và ăn kẹo vừng. Chè tươi và kẹo vừng làm tôi nhớ lại những ngày thơ ấu xưa. Kẹo vừng, kẹo bột là món quà mà bọn "trẻ ranh" chúng tôi đều thích. Nơi chôn nhau cắt rốn của chúng tôi là một tỉnh lỵ quê mùa, nên quà bánh cũng đều là đặc sản mang phong vị quê hương. Sau này, khi sinh sống ở miền Nam, tôi ít có dịp được thưởng thức lại loại quà bánh đúng hương vị của thời thơ ấu. 

Đến quá trưa, tôi bắt đầu sốt ruột, không thấy Phong nhắc đến chuyện cúng giỗ. Nhưng vì lịch sự, tôi không dám hỏi han hoặc thúc giục, nghĩ rằng hắn phải có lý do  nên chưa bắt đầu. Chúng tôi uống hết một ấm chè tươi và ăn thêm đĩa kẹo vừng nữa. Tôi thực sự sốt ruột, lén nhìn đồng hồ tay nhiều lần. Khi thấy đã đúng 1 giờ, tôi toan lên tiếng thắc mắc thì Phong bỗng đứng lên, nói :

"Nào, mình lên cúng !"

Rồi hắn giải thích về sự chậm trễ :

"Nga mất lúc 1 giờ 7 phút."

Tôi lẳng lặng đi theo hắn. Đứng trước bàn thờ Nga, hắn có một vẻ nghiêm trang khác thường. Hắn thay một tuần hương khác và đốt nến. Ánh nến chập chờn trước ảnh Nga làm nàng như ẩn như hiện. Cái vẻ ngây thơ, nhí nhảnh dưới ánh nến lung linh trông càng quyến rũ hơn. Phong đứng thẳng người, chắp hai tay trước mặt, lẩm nhẩm khấn. Tôi đứng sau hắn, cách một khoảng ngắn, chắp tay trước ngực, nói nhỏ chỉ đủ tôi nghe :"Cô Nga, xin Cô về chứng giám cho mối tình chuyên nhất của Phong. Mối tình thầm lặng này không biết khi sống Cô có rõ không ?  Nhưng tôi tin rằng ở trên cõi đời này chỉ có Phong là người chung thủy như vậy...

Tôi chưa khấn xong thì đã nghe tiếng đàn của Phong. Tiếng đàn thoạt tiên nhẹ nhàng, dìu dặt, dần dần trở nên réo rắt, dồn dập. Tôi cảm thấy như có một luồng sóng âm thanh tràn vào đầy ắp tâm hồn tôi. Rồi luồng sóng đó như có sức mạnh xô đẩy tôi rơi vào một khoảng mơ hồ, mộng ảo, dẫn tôi lạc tới một thời điểm rất xa xôi trong dĩ vãng. Tôi bỗng thấy Nga mặc áo dài nâu nhạt. Cô bé ít khi mặc áo dài, trừ hai trường hợp  :  đi học và đi lễ chùa với mẹ, bà Phán Định. Thường thường cô mặc áo ngắn để dễ chạy nhảy, vui đùa với bạn. Hôm ấy cô đi chùa. Màu nâu làm nổi bật nước da trắng hồng. Cô khoan thai đi bên cạnh mẹ. Bà Phán mặc áo dài màu đậm (tôi không nhớ rõ là màu gì). Bà cũng là một người đẹp của tỉnh tôi. Hai mẹ con đi thong thả trên hè phố, khiến nhiều người hai bên đường ngừng tay làm việc để nhìn theo, để trầm trồ khen ngợi. Quả thật mẹ cũng đẹp mà con cũng xinh.

Dòng nhạc bỗng thay đổi, như cuồn cuộn, như ríu rít. Tôi bỗng nhớ tới một cô Nga bé nhỏ, tinh nghịch và duyên dáng. Nga chơi đùa với bạn gái cùng trang lứa một cách hồn nhiên, cười nói cởi mở, như không biết mình có một nhan sắc quyến rũ khiến nhiều cậu trai mơ tưởng. Những cô gái biết mình xinh đẹp thường làm ra vẻ yểu điệu, e thẹn. Hay Nga không biết mình đẹp, không biết mình quyến rũ ?  Nhưng chính cái vẻ tự nhiên của Nga càng làm cô xinh đẹp hơn. Tôi chỉ biết Nga khi cô mới mười bốn mười lăm, rồi chiến tranh làm chúng tôi tan tác mỗi người mỗi ngả. Sau này, khi trở thành một thiếu nữ xinh đẹp trong thời chiến, cô có thay đổi, có trở nên kênh kiệu không ?  Tôi đoán rằng tính hồn nhiên, vẻ giản dị vẫn là nét duyên dáng đặc biệt nơi cô, không thể thay đổi.

Tiếng đàn bỗng tắt. Dòng nhạc đang cuồn cuộn bỗng tắt ngấm. Một khoảng trống im lặng bao trùm cảnh vật chung quanh. Nhưng tôi có cảm giác mình vẫn đang bềnh bồng trôi trên một dòng nước êm đềm của dĩ vãng. Tôi vẫn nhìn thấy nụ cười tươi tắn của Nga, vẫn trông thấy đôi mắt sáng và tinh nghịch của cô bé. Cái khoảng im lặng ngắn ngủi ấy bỗng bị phá vỡ bởi một dòng nhạc mới . Tôi nhìn Phong, thấy hắn quỳ trước bàn thờ Nga. Tiếng đàn như nức nở, như than khóc. Tôi nghĩ tới một đám tang. Có những tiếng gào khóc ai oán xen với những tiếng thút thít, nghẹn ngào. Trước mắt tôi, nhiều bóng người qua lại như những bóng ma, vây quanh một chiếc quan tài chưa đậy ván thiên. Tôi không lại gần nên không biết người nằm trong đó già hay trẻ. Tôi mơ hồ đoán rằng đây là đám tang của Nga. Chính vì vậy tôi không dám lại gần áo quan vì tôi muốn giữ mãi hình ảnh một cô Nga bé nhỏ, hồn nhiên. Lòng tôi nao nao buồn, thổn thức.

Tiếng vĩ cầm mỗi lúc một trầm xuống, ngân dài như một tiếng thở não nuột, như một tiếng rên khóc bi ai. Có lúc lại như những tiếng nấc đau đớn. Mắt tôi nóng ran và đẫm ướt. Hơi thở như  vướng lại trong lồng ngực, không sao thoát ra ngoài được. Lòng tôi thắt lại, tim tôi như ngừng đập. Đúng lúc đó một tiếng động lớn làm tôi giật mình. Tôi nhìn Phong thì thấy hắn đã nằm phục xuống sàn gác, cây đàn văng sang một bên, sát đầu hắn. Có thể khi cơn xúc động lên cao độ hắn buông rơi cây đàn. Hai vai hắn rung nhè nhẹ. Sự việc trước mắt làm tôi ngỡ ngàng. Tôi không ngờ hắn vẫn yêu Nga tha thiết như vậy, yêu đến khổ đau, đến dại khờ.

Không muốn phá rối hắn trong cơn xúc động mạnh, tôi nhẹ nhàng bước xuống nhà dưới. Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều đổi thay, từ ngoại cảnh đến nội tâm, nên vẫn tin rằng chẳng có gì tồn tại vĩnh viễn dưới ánh mặt trời. Nhưng hôm nay, niềm tin tưởng đó bị lung lay. Mối tình của Phong - một mối tình thầm lặng, đơn phương - không tàn phai theo năm tháng. Phong vẫn yêu, dù không được yêu lại. Tôi không rõ trước khi Nga lấy chồng, hắn đã tỏ tình chưa ?  Suốt quãng đời độc thân, lẻ loi, hắn vẫn ôm ấp hình ảnh một cô Nga bé nhỏ ngày nào. Tình yêu như thế có lẽ chỉ có một trên cõi đời vô thường này.

      

                                                                           

TẠ QUANG KHÔI

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 30/Nov/2023 lúc 9:50am

Đêm Đen Thăm Thẳm 


Suốt mấy bữa nay ông bà Hương Sư Nhiêu nôn nóng với cái tin cậu ba Thạnh từ Pháp sắp về. Cậu đi du học đã năm năm, giờ vinh quy bái tổ với mảnh bằng Kỹ Sư cầu cống. Ôi tả làm sao hết nổi vui mừng của hai ông bà cũng như của cô hai Cúc Hương là cô con gái lớn. Nhờ có tấm nhan sắc lộng lẫy nên cô hai đã lọt vô mắt xanh của Trạng sư  Quang tại nhà người chị bà con bên Vĩnh Long. Quang là em chồng của cô này, học trường Luật ngoài Hà Nội. Bà Hương sư với con gái qua Vĩnh Long thăm cô cháu mới sanh, sẵn dịp sắm sửa cho cái Tết sắp tới. Chắc nhờ có ông Tơ bà Nguyệt xui khiến ông trạng sư về thăm đứa cháu trai đầu tiên của gia đình nên mới gặp cô hai.  

Cúc Hương năm đó vừa tròn mười bảy mà dung nhan đã lồ lộ. Mắt phượng mày ngài, thân hình yểu điệu, da trắng như ngó sen. Nói năng từ tốn nhỏ nhẹ. Gia tài có hai đứa con nên ông bà Hương sư cưng như vàng như ngọc. Từ năm Cúc Hương mới lên mười bốn là bà đã bắt học nữ công gia chánh. Cho nên từ thêu thùa tới bánh mứt, nấu nướng, món nào cô cũng khéo. Mới gặp người ngọc có một lần mà Quang cứ tơ tưởng mãi, nhưng không dám nói ra vì ngại tuổi tác chênh lệch quá. Rồi để tránh cái cảnh bà mẹ sốt ruột cứ nhờ mai mối hết đám này tới đám nọ, Quang đành thú thật với chị dâu là trái tim đã bị Cúc Hương tóm mất rồi!!! Cô mừng hết sức vội vàng trình lên bà má chồng. Bà lật đật biệt phái con dâu về Cao Lãnh trước thăm gia đình, sau dò ý ông bà Sư Nhiêu và Cúc Hương. Mới tưởng tượng là má vợ một ông trạng sư là bà Sư Nhiêu đã thấy muốn bay bổng tận mây xanh, nên cứ nói vô. Riêng ông còn ngần ngại vì Quang lớn hơn Cúc Hương tới một giáp. Bà cãi phăng cho rằng chồng già vợ trẻ là tiên, ông bà mình đã nói thì không bao giờ sai (!). Hơn nữa đàn bà sanh đẻ rồi mau già hơn đàn ông. Con gái bà sanh vài lần sẽ xứng đôi với chồng mấy hồi. Cúc Hương không phản đối. Quang tuy không đẹp trai như Phan An- Tống Ngọc nhưng dáng người tầm thước, khuôn mặt cương nghị, nói năng chững chạc khéo léo (nghề của chàng!) và nụ cười tươi dễ gây cảm tình. Ngó qua ngó lại ở cái quận nhỏ xíu này có ai sánh được với ông Trạng sư Quang? Thôi thì cha mẹ đặt đâu cô ngồi đó...  

          Đám cưới xong Cúc Hương theo chồng lên Sài gòn. Quang làm chung văn phòng với một Luật sư khác tọa lạc trên đường Bonard, nhưng nhà trong Gia Định gần Lăng Ông Bà Chiểu. Ông bà Sư Nhiêu tuy không phải tay cự phú, nhưng cũng có vài trăm mẫu ruộng cho tá điền canh tác. Thêm ít chục con trâu cho nuôi rẻ. Vì vậy ông bà tặng một chiếc xe hơi Peugeot màu đen láng cóng cho con gái làm của hồi môn lúc về nhà chồng.  

          Cậu ba Thạnh kém chị bốn tuổi. Sau khi học hết trung học đệ nhứt cấp dưới quê, cậu lên ở nhà chị học tiếp cho tới ngày lên đường sang Pháp du học. Trong thời gian này cô hai Cúc Hương sanh cho chồng một hơi bốn đứa con, hai trai hai gái. Càng sanh cô càng đẹp nõn nà nên ông chồng cưng như trứng mỏng.  

          

Nhận được dây thép của em, cô hai mừng quýnh cho người về quê báo cho cha mẹ hay liền. Bà Sư Nhiêu mừng đến nỗi mấy đêm liền không ngủ được. Ngoài chuyện mừng thằng con học thành tài, bà còn lo không biết nó về một mình, hay còn đèo thêm một con đầm mắt xanh tóc vàng? Nếu có chắc ông bà kêu trời hổng thấu!!!  

Hai ngày trước khi tàu cập bến, ông bà Sư Nhiêu lên nhà con gái. Như thường lệ, trái cây, gà vịt, tôm cá...không thiếu thứ gì. Mấy đứa nhỏ gặp ông bà ngoại mừng lắm. Đứa ôm cổ, đứa nắm tay, miệng hỏi tía lia. Thằng cu Tùng nhỏ quá dành không lại bèn lăn xuống gạch khóc bù lu bù loa, cô hai phải ẵm lên dỗ mãi mới nín. 

Hôm ra bến tàu đón cậu ba Thạnh, ngoài ông bà Sư Nhiêu, vợ chồng cô hai Cúc Hương còn có vợ chồng ông Trạng sư Tân là người hợp tác chung với Quang, chồng cô hai. Ông Tân sắp xỉ ngũ tuần. Hồi xưa học bên Toulouse . Qua sự quen lớn, ông nhận Quang vào làm văn phòng của ông lúc chàng mới ra hành nghề. Sau thấy hạp ý quá nên ông giữ Quang lại hợp tác luôn. Ông bà Tân có một trai hai gái. Con trai lớn còn đang du học. Cô gái kế đã lập gia đình. Cô út Huệ Khanh vẫn còn phòng không chiếc bóng. Tuy có biết bao vương tôn công tử ngắm nghé mà cô vẫn chưa vừa bụng chàng nào. Cậu này được người thì không được nết. Cậu nọ được nết thì cô lại chê xấu trai, cù lần! Cứ vậy mà cái đầu xinh đẹp của cô cứ lắc lia lắc lịa, trong khi bụng bà mẹ thì đánh lô tô. Chỉ sợ cô gái rượu lâm vào cảnh già kén chẹn hom! Cô út đẹp không thua cô hai Cúc Hương nhưng học hành cao hơn. Cô tốt nghiệp bằng Thành chung trường áo tím. Sau đó ở nhà học thêm về nữ công mà thôi. Con nhà giàu, đẹp gái lại học cao nên cô có phần hơi khó tánh trong sự kén chọn, tuy tánh tình và cách xử thế của cô rất khả ái tế nhị. Cô hai ngắm Huệ Khanh cho cậu em thân mến từ lâu, nên thường mời tới nhà ăn cơm. Ông bà Sư Nhiêu có gặp Huệ Khanh vài lần và rất vừa bụng. Hai gia đình thân lắm nên cô hai rủ ông bà Tân đi đón cậu em cho vui. Vả lại hai ông bà cũng từng gặp Thạnh lúc cậu còn học ở Sàigòn.  

          

Cậu ba Thạnh xuống tàu với mấy cái valy nặng trĩu. Bà Sư Nhiêu thấy con trai xuất hiện một mình, không có mái tóc vàng nào kèm một bên thì cảm thấy nhẹ nhõm trong bụng. Lúc thằng con yêu quí đứng trước mặt tức thì những giọt nước mắt vui mừng của bà thi nhau tuôn lai láng! Cô hai Cúc Hương cũng cảm động, miệng mếu máo, nắm chặt tay em nghẹn ngào. Thấy mẹ khóc cậu ba vội ôm vai bà vỗ nhè nhẹ miệng cười:  

- Má à nín đi. Thằng con của má còn y nguyên đây mà.  

Bà Sư Nhiêu cười qua màn lệ:  

- Tía mày. Còn chọc má!  

Phe đàn ông lên tiếng hỏi thăm chuyến đi của Thạnh ra sao. Cậu tươi cười trả lời là rất êm xuôi, may mắn không gặp cướp biển hoặc trận bão nào. Ông bà Trạng sư Tân lần này gặp lại Thạnh, thấy cậu đã trở nên một thanh niên tuấn tú, hoạt bát thì đâm ra có cảm tình chan chứa. Nhứt là bà Tân bỗng dưng lại nghĩ tới cô con gái khó tánh của mình và đâm ra ước ao...  

          

Thạnh ở Sàigòn mấy bữa rồi theo cha mẹ về quê. Suốt hai ngày cậu đừ câm vì họ hàng chòm xóm tới thăm. Kẻ mang vịt, người mang gà.Tôm cá ê hề. Ai cũng cổ võ cậu ăn cho bõ những ngày nhịn thèm bên xứ Phú Lãng Sa! Thạnh cảm động vô cùng trước cái nhiệt tình của xóm riềng. Chàng đem bánh Bisquit Lu, kẹo Nougat mời mấy bà mấy cô và đám con nít. Đem thuốc lá thơm mời các ông hút thử cho biết. Mấy ông già khen thuốc thơm thiệt, nhưng hút không đậm “gắt củ kiệu” như thuốc rê vô phân cá của xứ Cao Lãnh mình!  

          

Tuy tiếp đãi khách khứa suốt mấy ngày mà mặt mày ông bà Sư Nhiêu vẫn tươi rói. Hôm mới về quê, ông đã dẫn Thạnh tới nhà từ đường thắp nhang, cám ơn Trời Phật và ông bà tổ tiên đã phù hộ cho gia đình ông. Con gái có một tấm chồng xứng đáng. Con trai ăn học thành tài khiến ông bà nở mày nở mặt với đời.  

Thạnh ngủ vùi mấy ngày mới lấy lại sức. Căn phòng của chàng vẫn y nguyên như hồi xưa. Buổi sáng tiếng chim ngoài cây mận sát cửa sổ đã đánh thức Thạnh dậy. Chàng bước tới mở rộng hai cánh cửa, tì tay lên thành cửa sổ nhìn ra. Gió mát từ ngoài vườn tràn vào mang theo hương thơm của mấy thứ hoa kiểng đang nở rộ khiến Thạnh cảm thấy thoải mái dễ chịu. Cậu ngửa cổ hít không khí trong lành của buổi sáng vào đầy hai buồng phổi, người cảm thấy lâng lâng. Chợt có bóng một phụ nữ bưng thau đồ có lẽ mới giặt từ dưới sông đi lên. Cô cắm cúi đi thẳng ra sau hè, không để ý tới sự có mặt của Thạnh phía sau cửa sổ. Chàng nhìn theo nhíu mày suy nghĩ. Cái dáng thì quen thuộc lắm, nhưng chưa nhận ra là ai. Cô ta người dong dỏng, nước da hồng hào, hai cánh tay chắc nịch trong cái áo ngắn tay màu tím cà. Mái tóc đen được bới gọn thành cái búi tóc thả lửng sau ót. Thạnh lẩm bẩm không lẽ là...Hường? Nhưng Hường thấp và ốm hơn cô này mà? Liền sau đó Thạnh lại vỗ trán: Thiệt tình! Năm năm rồi chớ ít gì. Nhỏ Hường nhứt định phải lớn lên thêm! Vừa nghĩ tới đây là Thạnh vội vàng ra khỏi phòng, đi thẳng ra sau hè kiếm người con gái lúc nãy.  

          

Đang phơi quần áo trên cái sào tre dài, nghe tiếng chân bước tới, quay đầu lại thấy Thạnh, cô ta mĩm cười:  

          - Cậu ba. Sao thức sớm vậy?  

Cái nụ cười quen thuộc này thì không lầm được. Thạnh reo lên:  

          - Hường. Trời ơi bây giờ lớn quá nhận không ra. Mấy bữa nay trốn ở đâu mà anh không gặp?  

Vừa nói Thạnh vừa bước tới nắm hai bàn tay còn ướt nước của Hường bóp chặt. Hường vừa giựt tay lại vừa nhìn dáo dát chung quanh, miệng nói:  

          - Dạ, mấy bữa nay tại cậu ba bận rộn quá chớ...em vẫn còn giúp việc cho ông bà như xưa.  

          - Vậy thì tốt quá. Xa cách mấy năm, Hường bây giờ còn đẹp hơn trước gấp bội. Vừa nói Thạnh vừa đưa tay định ôm, nhưng Hường né qua một bên, nói nhỏ nhẹ nhưng không kém phần cương quyết:  

          - Cậu ba đừng làm vậy coi chừng có người thấy. Bây giờ không giống hồi xưa đâu. Xin lỗi em phải vô lo dọn đồ ăn sáng.  


Nói rồi Hường cúi xuống xách cái thau không đi một nước vô bếp, bỏ Thạnh đứng lại với vẻ ngơ ngác tột độ. Chàng tự hỏi không biết bị ông bà gì nhập mà nhỏ Hường dễ thương ngày xưa bây giờ thay đổi dữ vậy cà? Cả một dĩ vãng thơ dại bỗng hiện rõ mồn một trong trí chàng.  

 ...Chú Tám ba của Hường là dân gốc làng này. Chú nuôi rẻ trâu của ông Sư Nhiêu để cày mướn cho thiên hạ. Từ thuở thanh niên chú đã có giọng hò rất hay. Đám thôn nữ trong làng không thiếu gì cô mê mệt. Bỗng dưng năm đó, trong đám thợ gặt từ Sađéc qua gặt mướn có một cô gái vừa có nhan sắc vừa có tài hò đối. Sau vài trận so tài bất phân thắng bại, hai địch thủ bỗng đâm ra mết nhau và sau mùa gặt làng Tân An có thêm một cư dân mới. Ông bà Sư Nhiêu cho cặp vợ chồng trẻ cất căn nhà lá phía sau vườn xoài, day mặt ra con lộ trải đá xanh. Có con đường mòn băng qua vườn xoài nối liền hai nhà. Năm sau, cặp vợ chồng mới cho ra đời một đứa con gái xinh xắn. Hồi đó Thạnh được hai tuổi và cô hai Cúc Hương lên sáu. Bà Sư Nhiêu ra thăm thấy con nhỏ ngộ quá cứ bồng nựng nịu hoài. Chú tám xin bà đặt tên cho nó. Bà suy nghĩ một hồi rồi nói: Thôi con hai tên Hương, bây đặt nó tên Hường cho gọn. Hường cũng có nghĩa là hoa hường. Biết đâu lớn lên nó vừa đẹp vừa thơm như đóa hoa hường. Cái viễn ảnh đứa con gái lớn lên sẽ vừa xinh đẹp vừa thơm tho khiến hai vợ chồng chú Tám rất hài lòng!  

       

Con Hường càng lớn càng dễ thương. Nó giống mẹ nên trắng trẻo, cặp mắt to đen láy. Từ khi có bầu rồi sanh con, thím tám không còn ra đồng chỉ ở nhà coi con, trồng thêm rau cải, bầu bí, nuôi heo nái, để vừa có ăn vừa có thể bán lai rai. Người ta nói gái một con trông mòn con mắt thiệt không sai. Từ khi giã biệt nghề gặt lúa suốt ngày dưới ánh nắng chói chang, da dẻ thím tám trở lại trắng trẻo mịn màng. Sau khi sanh đẻ vóc dáng cũng nảy nở đầy đặn hơn trước. Tóm lại thím quả nhiên không làm hổ danh con gái xứ Nha Mân có tiếng là đẹp xưa nay. Chú tám thương vợ thương con không biết để đâu cho hết. Cực cách nào chú cũng không ngại, miễn vợ con chú vui. Nếu không đi cày thì chú ở nhà phụ thím mọi chuyện trong ngoài, không giống nhiều ông sau một ngày cực khổ ngoài ruộng, rẫy... tối nào cũng nhâm nhi vài ly đế, hoặc đàn đúm khề khà nhậu nhẹt tới khuya. Lắm khi say bí tỉ gây gỗ, đánh đập vợ con om sòm. Hai người sống thiệt ấm êm hạnh phúc. Trong làng không thiếu gì người tỏ vẻ ganh tị với cái hạnh phúc này...  

          

Trên đời, con sông nào dù phẳng lặng cách mấy cũng có lúc nổi sóng ba đào. Cái sắc đẹp chín mùi của thím tám đã khiến con lợn lòng của tên Quản Hứa nổi dậy đùng đùng. Tên Hương quản này nổi tiếng gian ác trong làng. Nhưng cái gia sản khá lớn lao của hắn khiến nhiều người phải kiêng nể. Ngoài bà vợ chánh tào khang tất nhiên không còn trẻ. Hắn dùng tiền của cộng với quyền uy cưới về một cô vợ bé trẻ măng đáng tuổi con gái hắn. Nhưng tánh ham của lạ nên vẫn dòm ngó chỗ khác. Số con gái nhà nghèo thất thân với hắn cũng không phải là ít. Mới ngoài tứ tuần lại ăn uống rặt đồ bổ béo nên hắn rất tráng kiện. Có bao nhiêu đàn bà cũng không vừa! Từ hôm tình cờ gặp thím tám ở nhà ông bà Sư Nhiêu nhân dịp đám giỗ. Cái quần mỹ a láng mướt ôm cặp mông tròn trĩnh. Cái áo túi lụa màu cánh sen cổ trái tim để lộ cái ức trắng ngần làm hắn ứa nước miếng. Hình ảnh thím tám ám ảnh hắn ngày đêm không nguôi. Hắn cho tên đệ tử thân tín hàng ngày dò la tin tức đặng biết khi nào chú tám vắng nhà. Mươi ngày sau tên này báo cáo sáng mai hừng đông là chú tám sẽ dẫn cặp trâu lên cày mướn bên Phong Mỹ vài hôm mới về. Mở cờ trong bụng nhưng Quản Hứa cố nén chờ đỏ đèn mới mò tới nhà chú tám. Trời chạng vạng nhá nhem thiên hạ ít để ý. Thím tám cơm chiều xong, dọn dẹp rồi đốt cây đèn ống khói để trên chiếc bàn bằng cây thao lao giữa nhà. Thiếm bưng rổ may ra để may tiếp bộ đồ cho con Hường. Năm nay nó được hai tuổi. Mày thanh mắt sáng rất dễ thương. Thím tám ngồi chăm chú may, con Hường ngồi bên cạnh chơi với mấy miếng vải vụn. Chợt có bóng người bước vô cửa. Thím tám ngửng đầu lên thấy Quản Hứa thì vừa ngạc nhiên vừa lo lắng. Thím đứng rột dậy hỏi:  

          - Thưa ông Quản tới có chuyện chi không?  

          Quản Hứa cười mơn:  

          - À, qua có chút chuyện đi ngang đây. Sẵn ghé thăm...em tám vậy mà!  

          Nghe cái giọng thả dê này thím tám biết ngay là có chuyện nên phát run khan:  

          - Dạ, cám ơn lòng tốt của ông Quản. Ngặt bữa nay anh tám đi khỏi, mời ông Quản bữa khác trở lại chơi...  

          Nghe vậy Quản Hứa càng yên bụng, cười hề hề:  

          - Hổng sao. Qua tới cốt để thăm em chớ không phải thăm thằng tám. Vừa nói hắn vừa bước lại gần, cặp mắt lộ đầy dục vọng nhìn vào khuôn ngực căng tròn của thím tám. Từ bữa gặp em ở nhà ông Sư Nhiêu qua mất ăn mất ngủ. Lúc nào cũng mơ tưởng tới em. Nói thiệt tình, em chịu qua đi rồi muốn gì qua cũng chìu ý hết. Muốn tiền có tiền, muốn vòng vàng có vòng vàng.  

          Nghe những lời này thím tám càng run dữ, nhưng ráng xuống giọng năn nỉ:  

          - Xin ông Quản nghĩ lại. Tui là gái có chồng...  

- Ậy, ậy bộ em chưa nghe câu : Có chồng mặc kệ có chồng. Còn duyên anh ẵm anh bồng anh chơi! hay sao? Thôi, một khắc xuân tiêu đáng giá ngàn vàng. Đừng để mất thì giờ quý báu. Qua chờ giây phút này lâu lắm rồi! Vừa nói hắn vừa a lại ôm chặt thím tám. Thím tuy sợ nhưng quyết chống cự tới cùng. Hai bên giằng co khiến hàng nút áo của thím tám bật ra, để lộ hai gò bồng đảo trắng ngần. Cái búi tóc đen mun cũng bị xổ tung, đổ xuống tới thắt lưng. Cái hình ảnh gợi cảm này cộng thêm tiếng thở dồn dập vì mệt và vì sợ của thím tám càng kích thích Quản Hứa tới tuyệt đỉnh. Hắn như người mê, mặc cho tiếng năn nỉ của thím tám và tiếng khóc thảm thiết của con Hường, hắn kéo vật thím đè xuống cái chõng kế đó. Thím tám hoảng hốt cực độ, miệng kêu cứu cầu may vì ở đây nhà nọ cách nhà kia cả mấy chục thước. Tên dê chúa đắc ý, tưởng phen này thế nào cũng vô được động đào. Bỗng nghe một tiếng thét lớn, hắn giựt mình quay lại thì thấy chú tám chạy vô, tay cầm một khúc củi khá lớn, cặp mắt trợn trừng tóe lửa. Quản Hứa chưa kịp có phản ứng thì đã lãnh ngay một cú như trời giáng vô đầu, hắn chỉ kịp rú một tiếng rồi sụm xuống như một người bằng giấy. Chưa đã nư, chú tám còn bồi thêm mấy cây nữa miệng không ngớt gầm lên: Cho mầy chết. Cho mày chết luôn trận này. Quân khốn nạn, tính hãm hiếp vợ tao hả?!  

Thím tám tuy hồn phi phách tán nhưng thấy chú cứ đánh mãi sợ tên này chết, nên vội vàng níu tay chú lại. Thấy máu trên đầu Quản Hứa tuôn lai láng thì cơn giận của chú tám bỗng tan như mây khói. Nhìn hắn nằm im như xác chết thím cũng xanh máu mặt run bần bật. Hai người còn đang đứng chết trân thì có bóng người bước vô. Té ra là tên đệ tử ruột của Quản Hứa. Mỗi lần hắn đi “hành sự” thì tên này có nhiệm vụ canh gác gần đó để đề phòng bất trắc. Nhưng bữa nay có lẽ hắn tới ngày tận số, nên đang canh tên này bỗng chột bụng phải đi ngoài. Hắn ra sau hè “đi” đại dưới gốc xoài. Đang thơ thới hưởng cái khoái thứ tư của cuộc đời thì nghe tiếng đàn ông rú thất thanh. Tiếng đàn bà rú thì tên này nghe thường(!). Nhưng tiếng đàn ông rú một cách hãi hùng như vậy thì hình như có chuyện không ổn. Hắn vội vàng chạy vô nhà coi thử, bỗng khựng lại khi thấy chú tám tay cầm khúc củi đứng đó. Đoán chuyện gì đã xảy ra, tên đệ tử xô vẹt chú tám qua một bên để nhìn xuống đất. Thấy Quản Hứa nằm bất động, đầu đầy máu thì ba hồn chín vía của hắn bay đi tuốt, tưởng là chủ của hắn đã hồn lìa khỏi xác! Không nói không rằng hắn vọt ra ngoài sân miệng la bài hãi:  

          - Bớ người ta, có án mạng. Có án mạng, bớ người ta.  

Tiếng la của tên đệ tử vang rất xa vì ban đêm ở nhà quê yên lặng như tờ, chỉ có tiếng cóc nhái kêu uềng oang. Chẳng mấy hồi đã có vài người nhà ở gần đó chạy tới. Rồi người nọ báo cho người kia, tàn điếu thuốc thì thiên hạ tới chật nhà chú thím tám. Lúc hiểu rõ, người ta chạy mời ông Sư Nhiêu. Trong khi chờ đợi, mọi người xúm khiên Quản Hứa đặt nằm trên chõng, hối thím tám xé vải rồi lấy cục thuốc rê bự tổ chảng đắp lên vết thương, băng lại cầm máu tạm. Không phải họ lo lắng, thương yêu gì tên dê xồm này, nhưng họ lo hắn chết thiệt càng khổ cho chú tám. Mặc cho mọi người làm gì thì làm, chú ngồi bất động như bị hóa đá. Thím tám ẵm con Hường đang thút thít khóc...Khi ông Sư Nhiêu tới, thím tám kể lại từ đầu. Lúc đó mọi người mới biết rằng sau buổi cày bên Phong Mỹ, chú tám cảm thấy ớn lạnh như bị trúng gió, đầu lại nhức như búa bổ. Không muốn làm phiền chủ nhà, chú đành gởi cặp trâu lại rồi nhờ đứa con trai của họ chở xe đạp cho chú về nhà định bụng để thím cạo gió và xông thuốc giải cảm. Nếu hôm sau khỏe sẽ trở qua cày tiếp. Hai làng chỉ cách nhau có năm cây số. Thằng nhỏ chở chú bỏ ngoài lộ rồi quày quả đạp xe về. Đi gần tới nhà bỗng nghe tiếng vợ kêu cứu, chú hoảng hốt chạy ào vô. Lúc thấy Quản Hứa đang đè thím định làm ẩu thì chú nổi máu xung thiên, chạy ngược ra hông nhà quơ đại cây củi và kết quả thì như mọi người đã thấy.  


Ông Sư Nhiêu hỏi thằng đệ tử ông Quản có phải đúng như vậy không? Thấy mấy chục cặp mắt của dân làng đang lom lom nhìn hắn, không biểu lộ một chút xíu thiện cảm nào, hắn ta sợ không dám chối. Trước tình cảnh này Ông Sư Nhiêu đành cho chú Hương Tuần bắt trói chú tám đem giam ở nhà việc chờ sáng mai sẽ tính. Bà Quản Hứa nghe chồng bị nạn hớt hơ hớt hải chạy tới. Thấy ổng nằm thiêm thiếp, đầu quấn băng dày cộm, bả òa lên khóc rồi hối người sửa soạn ghe tức tốc chở ổng xuống nhà thương. Phần ra máu nhiều, phần vết thương trên đầu quá nặng nên mấy tháng sau Quản Hứa mới bình phục. Nhưng ông ta trở thành một người ngơ ngơ ngáo ngáo vì bộ não bị chấn thương nặng nề. Nhiều kẻ xấu miệng cho rằng từ đây đám đàn bà con gái trong làng thở phào nhẹ nhõm, hết lo “được” ông Quản để mắt xanh tới là tàn một kiếp huê!!!Không có tiền mướn thầy kiện nên chú tám bị tòa kêu mười lăm năm biệt xứ, đày ra Côn Đảo. Kể từ đó thím tám trở lại nghề xưa. Mùa cấy thím đi cấy, mùa gặt thím đi gặt. Trong lúc vắng nhà thím gởi con Hường cho người láng giềng gần nhà là thím Hai Nô. Vợ chồng thím hai có thằng con nuôi tên Trực nhỏ hơn thằng Thạnh một tuổi. Thằng nhỏ mặt mày khôi ngô thiệt dễ thương. Chú làm mấy công rẫy cũng đủ ăn. Thím ở nhà coi con và nuôi heo bán cho lái làm thịt. Thím hai trước kia là đứa tớ gái đi theo bà Sư Nhiêu lúc bà về nhà chồng. Khi lớn lên được bà gả cho chú hai cũng là người giúp việc trong gia đình. Vì vậy họ rất được ông bà Sư Nhiêu quí mến, coi như người thân. Con Hường được thím hai giữ là yên chí...  

 

...Dòng đời trôi lẹ như vó câu. Mấy đứa nhỏ lớn như thổi. Thằng Trực mỗi ngày cắp sách đi học với Thạnh. Con Hường chưa tới tuổi đến trường, ngày ngày ra cửa ngóng hai thằng tửng đi học về. Ba đứa chơi với nhau thân thiết như anh em một nhà. Thạnh chỉ cần băng qua vườn xoài là tới nhà con Hường. Đi thêm vài chục thước nữa là nhà thằng Trực. Quanh năm thím tám đi cấy, đi gặt, trừ mùa nước, nên con Hường ở bên thằng Trực nhiều hơn ở nhà nó. Thằng Thạnh có món gì ngon cũng đem tới cho hai đứa kia ăn chung. Hai thằng đi chơi đâu cũng dẫn con Hường theo. Trò gì cũng có con nhỏ chơi chung. Riết rồi, nếu không có mái tóc cắt bum bê, chẳng ai biết nó là con gái! Hai thằng đực rựa rất khoái đi hớt cá lia thia đem về đá. Ngày nghỉ, ba đứa xách rổ đi dọc theo bờ mẫu. Ngó cạnh mấy đám đế, đám ô rô... Thấy chỗ nào có một đám bọt nổi lên là chín phần mười có cá phía dưới. Tụi nó chỉ việc thọc sâu cái rổ xuống rồi từ từ nâng lên là tóm được.  Con Hường có phận sự ôm cái chai đi theo đựng cá. Cá hớt được đem về rộng trong mấy chai thủy tinh cắt miệng. Nói tới tài cắt miệng chai không ai giỏi hơn ông Sư Nhiêu. Ông lấy một cái niềng sắt uốn tròn vừa khít cái ni chai, hơ lửa cho thiệt nóng, sau đó tròng vô miệng chai. Nhúng chai vào nước lạnh, lập tức phần trên họng sẽ đứt lìa. Ông làm cho thằng con trai bao nhiêu chai thì cũng làm cho thằng Trực bấy nhiêu. Ông coi nó chẳng khác nào con ruột... Mỗi chai đựng một con cá, sắp một hàng năm bảy con. Bình thường phải lấy giấy chận giữa hai chai cho tụi cá không thấy nhau. Lúc muốn cho cá đá bóng chơi thì rút giấy ra. Mấy chú cá vừa thấy mặt nhau là phùng xòe, trương vi quạt đuôi đủ màu xanh đỏ cực kỳ ngoạn mục. Mấy cái lu mái đầm đựng nước mưa nhà Ông bà Sư nhiêu là nguồn cung cấp lăng quăng, thức ăn của mấy chú lia thia. Có lần đậy nắp không kỹ, thằn lằn ăn mất con cá Xiêm lai yêu quí, viên kiện tướng bách chiến bách thắng, đã từng hạ đo ván hết đám lia thia xóm Chùa, thằng Thạnh gặp thằn lằn đâu là giết đó. Sau bị mẹ rầy là giết hết thằn lằn rồi lấy gì để ăn muỗi, nó mới thôi. Ngoài cá lia thia, tụi nó còn nuôi cưởng, sáo, cho ăn ớt rồi lột lưỡi, dạy nói tiếng người. Ba thằng Trực đan mấy cái lồng tre thiệt đẹp để nhốt chim. Con Hường lãnh trách nhiệm hằng ngày bắt cào cào châu chấu cho hai con vật ăn. Cái mục tắm sông của tụi nó cũng không kém phần hấp dẫn. Hai thằng đực thường lội qua bên kia sông, chỗ có mấy cây mận da người nhánh xòe là đà gần mặt nước. Cái quần đem theo được buộc thắt hai ống, hái mận bỏ đầy rồi túm phía trên lội trở về. Tắm lội đã đời ba đứa leo lên bờ mặc quần áo rồi cùng nhau thanh toán mớ mận với muối ớt đâm sẵn. Có một chuyện xảy ra năm con Hường lên chín tuổi, thằng Thạnh mười một và thằng Trực lên mười mà mọi người cứ nhắc rồi cười hoài. Lúc ba đứa cởi quần áo nhảy xuống nước thì không có chuyện gì. Tới khi sắp lên bờ, thằng    Thạnh ngó con Hường rồi đưa ngón tay trỏ xỉ vô ngực con nhỏ hốt hoảng hỏi:  

          - Chết cha, vú mầy bị con gì cắn mà sưng vù lên rồi nè?  

Con nhỏ bất thần bị xỉ một cái đau điếng té ngửa ra sau, hụt chân uống nước sặc sụa. May thằng Trực đứng gần đó nhào ra đỡ nó lên. Con Hường khóc một trận quá chừng. Té ra con nhỏ bắt đầu dậy vú mà không biết. Nó thấy hai bên cứ từ từ sưng lên. Rờ vô đụng một cục cứng ngắc mà đau lắm. Lấy dầu cù là xức vô hoài vẫn không bớt chút nào. Nó sợ nhưng mắc cỡ nên không dám nói với ai. Thằng Thạnh lo cho con Hường, kể cho mẹ nghe chuyện con nhỏ bị sưng hai cái vú. Vỡ lẽ, mọi người cười lăn, rồi từ đó không cho tụi nó tắm truồng nữa.  

         

...Ngày thằng Thạnh từ giã hai đứa kia để lên Sàigòn học tiếp, con Hường khóc như mưa. Hai thằng đực rựa làm gan nhứt định không khóc nhưng trong lòng buồn lắm. Thằng Trực học hết lớp trường làng thì xuống Cao Lãnh học tiếp. Tới năm nó được mười sáu tuổi ông Sư Nhiêu cho nó theo phụ tá học nghề với chú biện coi nhà máy xay lúa của ông bên Tân Thuận Đông. Ông mua cho Trực cái xe đạp Peugeot, mỗi ngày đi đò qua bên đó làm việc, chiều về. Con Hường học hết lớp nhứt trường làng thì ở nhà phụ má nó coi sóc việc nhà. Thím tám sau khi chồng ở tù, có nhiều kẻ gạ gẫm nhưng thím nhứt định ở vậy nuôi con chờ ngày chồng được phóng thích. Thím nghĩ dù sao cũng tại thím chú mới lâm vào vòng tù tội. Nếu thím nhẫn tâm phụ rẫy chú Trời Đất sẽ không tha!  

Năm con Hường lên mười bốn tuổi, mỗi khi nhà có giỗ quảy, tiệc tùng, bà Sư Nhiêu đều kêu nó tới phụ. Con nhỏ sáng dạ, chỉ đâu làm đó răm rắp, lại kỹ lưỡng, gọn ghẽ nên bà rất hài lòng. Sau này sáng sớm nó tới làm việc, chiều cơm nước dọn dẹp xong mới về nhà ngủ. Từ khi nó có tiền lương, thím tám không còn đi cấy, gặt mướn nữa. Thạnh tuy lên Sàigòn có nhiều bạn mới nhưng vẫn nhớ tới thằng Trực và con Hường. Mỗi lần về quê ăn Tết hoặc nghỉ hè Thạnh đều nôn nao. Về tới nhà, sau khi chào cha mẹ xong là vội vàng chạy kiếm hai đứa kia. Bao giờ cậu cũng đem món gì đó về làm quà cho hai đứa. Hường thích nhứt cây kẹp tóc bằng đồi mồi Thạnh mua cho nó hồi cả nhà đi tắm biển Cap St-Jacques. Trực thì thích nhứt cây viết máy Parker. Mỗi năm cách ăn nói của Thạnh cũng đổi khác, nhẹ nhàng bóng bẩy chớ không còn quê mùa như Trực. Con trai đâu có để ý tới mấy chuyện nhỏ nhặt này, nhưng con gái thì nhạy lắm, nhứt là ở tuổi dậy thì. Tánh Thạnh rất tự nhiên, cậu không mày tao với Hường nữa mà kêu tên hoặc kêu em ngọt xớt. Lần đầu tiên được Thạnh xưng hô như vậy, con Hường thẹn thùng đỏ mặt, nhưng đồng thời lòng cảm thấy lâng lâng sung sướng. Trực cũng đã đổi lối xưng hô, nhưng nó chỉ thấy tức cười lúc đầu, sau này quen như không. Thiếm tám dặn bây giờ giúp việc cho nhà ông bà Sư Nhiêu, nó phải kêu Thạnh bằng cậu ba mới đúng, kêu bằng anh sợ bị bà Hương sư rầy. Lúc đầu Thạnh thấy kỳ cục, phản đối hoài không được đành mặc kệ luôn. Riêng với Trực không có gì thay đổi. Thạnh rất mừng khi nghe cha nói khi nào thằng Trực thông thạo công việc, ông sẽ cho nó coi riêng một nhà máy xay lúa trên Cái Dầu.  

Mỗi lần Thạnh về quê Hường vui như tết. Nó chịu khó nấu những món Thạnh thích ăn. Săn sóc cậu từng chút một. Cả ba đứa vẫn thân thiết như xưa. Thạnh học ở Sàigòn bạn bè phái nữ không thiếu. Cô nào cũng xinh đẹp, tự nhiên. Gia đình cô hai Cúc Hương và gia đình ông trạng sư Tân cùng đi nghỉ hè nhiều lần với nhau nên Thạnh cũng quen Huệ Khanh. Chỉ tội con nhỏ nhà giàu này được cưng chìu thái quá nên làm bộ làm tịch Thạnh không ưa lắm! Chơi với nhỏ Hường thoải mái hơn. Nó như một cô em gái nhỏ mà Thạnh không có. Nhưng trong thâm tâm của Hường, Thạnh chiếm một địa vị độc tôn. Tuy Trực ở cạnh cô nhiều hơn Thạnh, lúc nào cũng để ý săn sóc, hỏi han mà sao cô vẫn nghĩ đến Thạnh nhiều hơn Trực. Biết vậy là bất công mà vẫn không cưỡng lại được! Mỗi lần Thạnh về, không khí như sôi động hẳn lên. Ai cũng vui, nhưng chắc Hường vui nhứt. Từ thuở còn nhỏ, đêm ba mươi Tết nào ba đứa cũng thức ngồi canh nồi bánh tét. Dưới ánh lửa bập bùng, Hường như uống những lời lẽ của Thạnh khi chàng kể đủ thứ chuyện trên Sàigòn...Cô cảm thấy hạnh phúc tràn trề. Một thứ hạnh phúc đơn thuần, trong trắng như pha lê. Ở lứa tuổi mười sáu, Hường đã là một cô gái dậy thì xinh đẹp. Những chiếc áo cũ của cô hai Cúc Hương thải ra, thím tám khéo tay chỉ việc sửa lại chút đỉnh, Hường mặc vô cũng ăn đứt luôn mấy cô tiểu thơ miệt vườn ở đây. Thiếu gì chỗ gắm ghé, nhưng con nhỏ gạt ra hết. Thím tám thương con nên không bao giờ ép. Thấy cung cách của Trực đối với con gái, thím đoán được phần nào cũng yên bụng, thầm mong hai đứa nên duyên.  

           

...Lần này Thạnh về chơi lần cuối. Cậu chỉ ở hai tuần rồi trở lên Sàigòn lo việc xuất dương du học. Giấy tờ đã xong xuôi, chỉ chờ ngày xuống tàu. Họ hàng mời ăn uống lu bù. Còn hai ngày nữa là phải đi. Thạnh xin phép mẹ cho cậu cùng với Trực và Hường chiều hôm đó được ra ngủ ngoài chòi ở trong đồng, phía bên Mỹ Ngãi. Cạnh chòi có cái đìa lớn của gia đình. Cậu muốn ăn một bữa cá lóc nướng trui chấm mấm me cho đã thèm, trước khi phải nếm mùi bơ sữa trong những năm dài sắp tới! Mới đầu bà Sư Nhiêu không chịu sợ ngoài đồng gió máy. Hơn nữa con Hường dầu sao cũng lớn xộn, ra ngoài đó với hai thằng đực rựa cũng... kỳ lắm! Nhưng Thạnh năn nỉ mãi nên bà xiêu lòng, bắt phải đem mền chiếu đàng hoàng. Hường pha sẵn nước mấm me cho vô chai. Chuẩn bị đủ loại rau sống, dưa leo, chuối chát, khế, bánh tráng, chén đũav.v...v.v...Thạnh còn thủ theo một chai rượu chát. Tính kỳ này cho Trực và Hường nếm mùi vị rượu Tây cho biết. Cả ba xuống chiếc xuồng ba lá. Trực ngồi mũi, Thạnh ngồi giữa, Hường ngồi sau lái cầm cây dầm bơi. Chiếc xuồng đi dọc theo con kinh đào giữa đồng, nối liền hai làng Tân An và Mỹ Ngãi. Mùa này ruộng khô có thể đi bộ được nhưng xách đồ kềng càng mất công lại mỏi chân. Đi xuồng tiện hơn. Độ tàn cây nhang thì tới gò đất có cất cái chòi. Chòi tuy lợp tranh nhưng cao ráo sạch sẽ. Vách bằng phên tre rất kín đáo. Phía trong có cái chõng tre, có cà ràng và củi để nấu nướng. Gò này do đất vít từ đìa cách đó độ mươi thước. Ngoài căn chòi ông Sư Nhiêu còn trồng một cây gáo. Với thời gian, bây giờ cây đã cho bóng mát phủ gần hết cái gò. Mùa lúa, thợ gặt nghỉ ngơi hoặc ăn trưa đều dưới gốc cây gáo này. Mấy thợ cày cũng hay dắt trâu bò vô đây tránh nắng nên có cây rơm khá cao ở một góc. Trong đìa tháng này nước đã giựt kha khá. Nước trong veo nhìn xuống có thể thấy đủ các loại cá đang bơi lội phía dưới. Vừa tới Trực đả xăn quần cầm cái nơm nhảy xuống xách cổ hai con cá lóc bự tổ đem lên. Rửa sạch nhớt, lấy hai nhánh tre tươi lớn cỡ ngón tay xuyên từ họng cá xuống tới đuôi, cắm chổng đầu xuống đất (vì đầu lâu chín), sau đó phủ rơm lên đốt. Rơm cháy tàn thì cá cũng vừa chín. Để lên dĩa, gạt phần vảy cháy đen phía ngoài, phần thịt trắng tươi lộ ra, bốc hơi thơm phứt.  Thoa lên thêm một lớp mỡ hành thì cao lương mỹ vị cũng phải chào thua! Bộ ruột cá mới mỡ màng, béo bở cách gì. Cuốn bánh tráng, rau sống chấm nước mắm me ăn quên thôi! Trong khi ăn, Thạnh rót rượu ra ba cái ly nhỏ. Cậu ở Sài gòn đã từng thưởng thức thứ này nên không lạ. Mới đầu Trực thấy kỳ kỳ, nhưng sau thấy ngon nên uống tới ba bốn ly. Hường bị Thạnh ép phải uống vài hớp nhưng kêu chát quá, hổng ngon gì hết trơn! Rượu khiến mọi người cảm thấy phấn chấn. Cả ba vừa ăn vừa nhắc lại chuyện hồi nhỏ rồi cười như nắc nẻ.  

Cười giỡn vui quá không ai để ý là hoàng hôn đã xuống từ lúc nào. Bóng tối bắt đầu tràn vào căn chòi nhỏ. Trực đứng lên đi đốt cây đèn bão treo lên giữa nóc chòi. Thạnh phụ với Hường dọn dẹp chén dĩa bưng xuống bờ kinh rửa. Trực nhóm cà ràng bắt ấm nước lên nấu nước pha trà, rồi bày bánh thuẫn, kẹo đậu phọng ra ăn tráng miệng. Rửa chén xong Hường đòi bơi xuồng về, nhưng cả Thạnh và Trực đều không đồng ý. Thạnh nói  bữa nay bộ tam sên phải đầy đủ mới vui. Hường về rồi mất hết ý nghĩa. Tối nay Trực và cậu sẽ trải một lớp rơm dưới đất rồi trải chiếu lên trên ngủ. Nhường cái chõng cho Hường. Cô ngẫm nghĩ một hồi rồi đồng ý ở lại. Uống rượu không quen nên mới ăn một miếng bánh là Trực đã mở mắt hết nổi. Tiếng nói bắt đầu nhừa nhựa. Uống xong chung trà là cậu ta ngả xuống chiếu ngáy khò khò. Thạnh lắc đầu cười rồi lấy cái mền đắp lên cho Trực. Thạnh chỉ thấy hơi ngà ngà nên ngồi lại nói chuyện tiếp với Hường. Thấy hai ngò má ửng hồng vì không quen uống rượu của cô, Thạnh tự nhiên đưa tay ra vuốt rồi vừa cười vừa khen:  

          - Ý, nhờ hơi rượu mà bữa nay coi em đẹp hơn mọi bữa đó nghen Hường.  

Hường mắc cỡ mặt càng đỏ thêm. Cô đứng dậy nói thôi khuya rồi mình đi ngủ cậu ba. Hường dọn dẹp, tắt đèn, kéo tấm liếp che kín cửa rồi leo lên chõng. Lăn qua trở lại, lòng ngổn ngang trăm mối. Mấy hớp rượu chát tuy ít cũng khiến đầu óc cô hơi bừng bừng. Bỗng nhiên thấy trong chòi như ngột ngạt thiếu không khí, Hường nhè nhẹ bước xuống, sẻ lén vạch tấm liếp bước ra ngoài. Không khí mát mẻ làm cô thấy tỉnh táo. Con trăng tròn lên gần tới đỉnh đầu khiến Hường chợt nhớ hôm nay đã mười bốn ta. Ánh trăng phủ xuống vạn vật một bức màn kỳ ảo. Những chùm bông điên điển vàng chói mọc cạnh đìa, dưới ánh trăng cũng có một màu vàng dịu dàng hơn. Hương sen từ dưới đìa theo gió thoảng lên thật nhẹ nhàng thanh khiết. Tiếng côn trùng lẫn trong những bụi cỏ, hòa cùng tiếng ếch nhái núp dưới đìa tạo nên một khúc trường ca bất tận. Hường ngồi xuống đám cỏ êm ái. Tay ngắt một bông cỏ đưa lên miệng nhai, dõi mắt nhìn ra xa xa. Rặng tre của làng Mỹ Ngãi đen như một vệt mực tàu. Tuy vậy cô cũng lờ mờ thấy căn nhà có mái ngói đỏ của người chị bà con cách đó không xa. Cô thở dài tự hỏi không biết Thạnh đi bao nhiêu lâu mới về. Qua bên trời Tây vui quá không biết cậu còn nhớ tới con Hường quê mùa này nữa không? ...Mãi suy nghĩ vẩn vơ, Hường giựt mình suýt rú lên khi một cánh tay ai đó choàng qua vai. Có tiếng cười nhẹ rồi cô thấy Thạnh đã ngồi bên cạnh mình! Thấy Hường nhìn như dò hỏi, Thạnh nói cậu ngủ cũng không được. Thấy Hường đi ra ngoài lâu quá không trở vô, cậu sợ có chuyện gì nên đi ra kiếm, không ngờ cô đang ngồi ngắm trăng! Hường không nói gì nhưng trong lòng bấn loạn. Lần đầu tiên cô ngồi trong vòng tay của Thạnh, làm sao còn giữ được bình tĩnh? Thạnh đưa mắt nhìn con trăng tròn như cái đĩa bạc treo lơ lửng trên nền trời lấp lánh muôn vạn vì sao, nói khẽ khàng như sợ phá vỡ cái không gian huyền diệu:  

          - Đẹp quá! Lần đầu tiên trong đời anh được ngồi thưởng thức một đêm trăng thơ mộng như đêm nay- chàng quay qua nhìn Hường, cặp mắt cũng đang đầy một trời trăng sao lấp lánh- lại còn có em bên cạnh. Chắc đây là lần cuối cùng tụi mình còn ngồi chung như vầy. Biết đâu khi anh học xong trở về, em đã ngồi ngắm trăng với người khác. Nói xong Thạnh cười, tay vẫn ôm hờ bờ vai của Hường. Như quá sức chịu đựng, cô quay hẳn người lại gục đầu vô ngực Thạnh khóc ngon lành. Chàng bất ngờ sửng sốt hết mấy giây, lúc định thần lính quýnh hỏi:  

          - Hường sao vậy? Bộ anh có nói gì không phải hay sao? Nói anh nghe đi.  

Cô nhỏ vẫn vùi đầu vô ngực Thạnh khóc thút thít. Chàng đành ngồi yên, vòng tay ôm chặt cái thân hình mềm mại, ấm áp của Hường đang rung lên vì những cơn nức nở... Một lúc sau cơn xúc động đã qua, Hường từ từ ngửng đầu lên. Thạnh cúi nhìn cái khuôn mặt đẫm lệ, cặp mắt còn ngấn nước, sáng như hai viên ngọc dưới ánh trăng. Cặp má hồng, đôi môi mọng lên sau cơn khóc sao bỗng dưng đẹp lạ kỳ. Mùi da thịt nồng nàn và mùi chanh thơm nhẹ thoảng từ mái tóc đen nhánh của Hường cộng thêm tác dụng của mấy ly rượu khiến Thạnh ngây ngất. Người cậu bất giác cũng run lên, trái tim đập loạn trong lồng ngực. Rồi không biết có một sức mạnh gì thúc đẩy, Thạnh đưa tay ôm gọn khuôn mặt của Hường, đặt lên má cô một nụ hôn đầu tiên. Hường mê đi, cả người mềm nhũn như mất hết sức lực trong lòng của Thạnh, cô vội vàng quàng tay ôm ngang người cậu chặt cứng, hơi thở dồn dập. Lần đầu được ôm một người con gái bằng xương bằng thịt trong tay, bao nhiêu ước mơ thầm kín của một cậu con trai mới lớn, những kinh nghiệm, phần nhiều là tưởng tượng hoặc tô màu cho thêm phần gay cấn, của bạn bè trao đổi nhau, từ đâu ùa về khiến Thạnh cảm thấy rạo rực vô cùng. Cậu vừa ngả người kéo Hường nằm dài lên bãi cỏ êm ái, vừa hôn lên mặt lên cổ của cô. Một tay cho Hường kê đầu, tay kia vụng về vuốt ve khuôn ngực đầy đặn và cái eo thon tròn lẳng của cô. Hường không mảy may phản đối dù đoán biết chuyện gì sẽ xảy ra. Mẹ chẳng từng căn dặn không được cho đàn ông con trai đụng vào người đó sao? Cái trinh tiết là thứ quý giá nhứt của đời con gái, phải để dành cho người chồng sau này. Nó mất đi rồi là không ai thèm rước! Nhưng Hường có thứ gì trân quý hơn ngoài cái này để tặng cho Thạnh là người cô yêu thương âm thầm? Cậu đi rồi biết có trở về hay không. Hơn nữa còn ai biết chuyện này ngoài hai người trong cuộc? Nghĩ vậy nên Hường nhắm mắt, mặc cho Thạnh muốn làm gì thì làm. Hai đứa vụng dại yêu nhau giữa ruộng đồng bao la, dưới bầu trời lồng lộng điểm muôn vạn vì sao lấp lánh. Chỉ có sự chứng kiến của chị Hằng rạng rỡ trên cao và lũ ếch nhái đang ca hát chung quanh. Còn kỷ niệm nào có thể đẹp hơn cho một đời người? Khi cơn cuồng mê đã dịu đi, Thạnh bàng hoàng nhận thức chuyện mình đã làm. Cậu hốt hoảng :  

          -Thôi chết. Anh đã làm bậy rồi! Hường có giận anh không?  

          Cô nhỏ cười ngượng ngập, cặp mắt ánh lên dưới ánh trăng:  

          - Không. Em không giận đâu. Tại...tại em muốn... cho cậu đó!  

          Thạnh cảm động kéo Hường sát vào lòng, thì thầm:  

          - Cám ơn em. Mốt anh đi rồi. Ngày mai em có muốn “cho” anh thêm một lần nữa không? Nói thiệt đó!  

Hường mắc cỡ gỡ tay Thạnh ra, đứng lên đi một nước vô chòi sau khi đã ném lại cho Thạnh câu:  

          - Cậu ba kỳ!  

Thạnh cười, nằm ngửa gối đầu lên hai cánh tay, ngước mắt nhìn bầu trời đen thăm thẳm lung linh muôn vạn vì sao. Cái “món quà” bất ngờ này khiến cậu cảm thấy vui lạ lùng. Nằm một chặp, sương bắt đầu xuống lạnh Thạnh mới đứng lên đi vô chòi. Trực vẫn ngủ say. Hường quay mặt vô vách, nhưng Thạnh biết chắc cô còn thức nên nói khe khẻ: ngủ ngon!  

          

Hôm sau trời mới hừng sáng Hường đã dậy lo nấu nước pha trà. Lúc vừng đông vừa lên khỏi chân trời, những tia nắng vàng xuyên qua tấm phên tre, chiếu vô mặt thì hai ông tướng mới chịu thức dậy. Trực còn hơi váng vất một chút. Riêng Thạnh khi nhìn thấy Hường, bao nhiêu hình ảnh tối qua hiện về trong trí khiến cậu nở một nụ cười rạng rỡ không thua gì ông mặt trời ngoài kia. Cậu nháy mắt với Hường khiến cô mắc cỡ đỏ mặt tía tai, phải ngó lơ chỗ khác. Cả ba uống trà, ăn nốt mớ bánh ngọt còn lại rồi sửa soạn bơi xuồng về. Bà Sư Nhiêu hỏi Thạnh tối qua có vui không? Cậu bỗng nhiên cao hứng ôm cổ mẹ hun cái chụt vô má rồi vừa cười một cách sung sướng vừa nói:  

          - Vui lắm má à. Vui hơn con tưởng tượng nhiều! Thôi con đi tắm cái đã.  

Nói rồi đi vô buồng lấy quần áo. Bà Sư Nhiêu nhìn theo, lắc đầu miệng lẫm bẩm:  

           - Cái thằng, lớn đầu rồi mà còn như con nít!  

Ăn trưa xong, Hường đang rửa chén ngoài sàn nước thì Thạnh đến bên cạnh nói nhỏ:  

          - Chút nữa mọi người ngủ trưa, anh chờ Hường ngoài vựa lúa nghen.  

Không đợi cô trả lời, Thạnh bỏ đi một nước, chắc chắn là cô nhỏ sẽ tới chỗ hẹn. Thạnh vòng ra sau hè tới vựa lúa ở cuối vườn, mở cửa bước vào. Bên trong tối om, Thạnh phải đứng một lúc mới thấy rõ chung quanh. Vựa khá lớn, có thể chứa tới mấy ngàn giạ lúa. Bên trên có căn gác lửng. Chỗ này dành cho những người đàn ông giúp việc ở. Nhưng từ hai năm nay bỏ trống. Vì có chủ ý nên Thạnh đã cẩn thận lén đem cái mền nỉ và cái gối của mình lên căn gác từ trước. Cậu lấy một xấp bố tời trải xuống dưới sàn rồi mới trải mền lên trên cho êm. Xong rồi mở cánh cửa sổ nhỏ xíu phía trên cho thoáng mát. Cửa sổ nhìn ra bụi tre nên không sợ ai ngó thấy. Thạnh khoan khoái nằm xuống, đầu óc nghĩ lan man tới Hường rồi chợp mắt lúc nào không hay...Không biết bao nhiêu lâu, như linh cảm có ai đó bên mình, Thạnh mở bừng mắt. Hường đang quỳ gối, hai tay để lên đùi nhìn chàng chăm chú. Thấy Thạnh thức dậy cô nhoẻn miệng cười nhưng vẫn bất động. Thạnh cũng cười rồi xuất kỳ bất ý nắm tay Hường kéo mạnh. Cô nhỏ bất ngờ té sấp lên mình cậu. Thạnh cười giòn ôm chặt cái thân thể nồng nàn của cô gái hôn say sưa. Hai cơ thể trẻ trung, mạnh khỏe quấn lấy nhau không biết mệt. Hường dâng hiến với tất cả tấm lòng yêu thương của cô đối với Thạnh. Nhưng cậu chỉ thụ hưởng vì sự đòi hỏi của thể xác. Rất đơn giản, Hường cho thì cậu nhận chẳng cần nghĩ ngợi xa xôi.  

...Rồi Thạnh từ giã mọi người lên đường du học. Lúc đầu còn nhớ nhà, nhớ cha mẹ, bạn bè. Nhưng sau đó mải mê vùi đầu vào sách vở và vài mối tình con thoáng qua không để lại nhiều kỷ niệm, Thạnh nguôi ngoai dần. Ngày tháng xa cách thường làm phai mờ những tình cảm dù sâu đậm nhứt, nhưng hai người bạn thuở ấu thời đối với Thạnh vẫn là một kỷ niệm thân thương. Từ lúc về nước, sự bận rộn không ngừng khiến cậu chưa kịp hỏi về tin tức của Trực và Hường. Tới sáng nay, sự lạnh nhạt của cô lúc gặp lại khiến Thạnh bối rối. Trong bữa ăn lót lòng, Thạnh hỏi mẹ thì được bà trả lời:  

          - Má quên nói con hay là bây giờ con Hường đã có chồng. Mà đâu phải ai xa lạ, chính là thằng Trực đó.  

          Nghe tới đây Thạnh reo lên:  

          - Như vậy là tốt rồi. À sao mấy bữa nay con không thấy thằng Trực vậy má?  

          - Ờ, bây giờ ba con để nó coi nhà máy xay lúa trên Cái Dầu. Hai ba bữa nó mới về một lần. Nghe tin con về chắc nó mừng lắm. Tụi nó bây giờ có hai đứa con, một trai một gái đều ở chung với thím tám. Đáng lẽ con Hường theo thằng Trực lên Cái Dầu nhưng thím không chịu đi, nên nó phải ở lại.  

          - Còn chú Tám thì sao?  

          Bà Hương Sư chép miệng:  

          - Con đi ít lâu thì chú được thả về. Nhưng trải qua mười mấy năm trong tù ăn uống cực khổ, thuốc men thiếu thốn, chú về đâu hai năm thì bị bịnh qua đời. Tội nghiệp hết sức! Được cái con Hường biết mặt ba nó và săn sóc ổng một thời gian, coi như trả hiếu. Chỉ tội thím tám, có chồng mà như ở góa cả đời!..Chút nữa rảnh con nhớ ra thăm thím với ba má thằng Trực.  

          

Ăn cơm xong, Thạnh theo con đường mòn sau hè đi ra hướng lộ mới. Nhớ tới thái độ của Hường ban sáng, Thạnh cho rằng vì cô đã có chồng, có con nên mới né mình như vậy. Cậu bật cười một mình khi ý tưởng Hường sợ cậu “ ngựa quen đường cũ” đòi hỏi cô chuyện gì nữa chăng?  

Thím Tám mừng rỡ hết sức khi thấy Thạnh tới thăm. Thím kêu hai đứa cháu ngoại ra chào. Thằng con trai năm nay hơn bốn tuổi. Mặt mày thanh tú giống mẹ. Đứa con gái lên ba, giống Trực nhiều hơn. Thấy người lạ hai đứa đứng nép vào lòng bà ngoại đưa mắt nhìn một cách sợ sệt. Lúc Thạnh móc túi đưa ra một nắm kẹo thì sự xa cách không còn nữa, hai đứa nhỏ đã cười với chàng. Thạnh ngồi chơi một lúc thì Trực đạp xe về tới. Cả hai tay bắt mặt mừng. Trực xin lỗi vì nhà máy bận quá nên không về đón Thạnh sớm hơn...Thạnh thì mừng cho bạn đã có gia đình vợ con đề huề. Trực cười chúc lại Thạnh sớm sớm cho ông bà Sư Nhiêu có cháu ẵm. Cả hai hẹn sẽ có một buổi nhậu túy lúy càn khôn trước khi Thạnh trở lên Sài gòn. Cái hẹn này không khỏi khiến Thạnh chạnh lòng nhớ tới cái buổi cả ba ăn cá lóc nướng trui ngoài đồng năm cũ. Nhưng chàng cố xua đuổi cái hình ảnh này vì bây giờ Hường đã là vợ của Trực. Chuyện cũ phải dứt khoát quên...  

           

Thạnh ở chơi một tuần thì trở lên Sàigòn. Trong thời gian này Thạnh ráng giữ ý, không dám thân mật với Hường như xưa. Nhờ quen biết nhiều nên ông anh rể đã kiếm được cho cậu công việc trong Bộ Công Chánh. Thời gian đầu Thạnh vẫn ở tạm nhà của chị rồi tính sau. Ông bà Sư Nhiêu đang nhờ người dọ hỏi mua một căn biệt thự trên Sàigòn, trước cho con trai, sau có chỗ cho ông bà nghỉ ngơi mỗi lần lên thăm. Bên cô hai Cúc Hương mấy đứa nhỏ đã lớn xộn nên nhà hơi chật chội.  

Cuộc sống mới của Thạnh khá bận rộn. Từ khi gặp lại Huệ Khanh, thấy cô đã trở nên một thiếu nữ xinh đẹp, hoạt bát, không còn điệu hạnh như trước, chàng không phản đối khi bà chị có ý muốn hai người tìm hiểu nhau sâu sắc hơn. Phần Huệ Khanh, cô không thấy Thạnh có điểm nào đáng chê thì cũng nghe lời mẹ đi chơi riêng với chàng để tìm hiểu. Hai người đưa nhau đi xem ci nê, đi ăn tiệm hoặc cuối tuần đi Thủ Đức, Lái Thiêu...Thỉnh thoảng ông bà Hương Sư lên thăm thì hai gia đình tổ chức đi chơi Đà Lạt hoặc Vũng Tàu. Lần lần hai người trẻ tuổi trở nên khắng khít hơn. Huệ Khanh theo cô hai Cúc Hương và Thạnh về quê chơi ít ngày. Vốn tánh sợ ma nên cái cảnh tối tăm về đêm, lẫn với tiếng ễnh ương, cóc nhái ở đây khiến cô rất e ngại. Trong suốt thời gian có mặt Huệ Khanh, Hường cố gắng tránh né không gặp mặt hai người. Thạnh vẫn vô tư, dẫn Huệ Khanh đi thăm thím tám để gặp hai đứa con dễ thương của Trực và Hường. Lần này hai đứa trẻ không còn sợ Thạnh, nhưng lại e dè trước cô khách lạ quá sang trọng. Tối về Hường cằn nhằn mẹ sao nhận nhiều quà của Thạnh cho hai đứa nhỏ. Cô cho rằng như vậy sẽ bị “người ta” khi dễ! Trước bộ mặt chù ụ của con gái, thím tám không giấu được sự ngạc nhiên. Trực trái lại tỏ ra rất vui mừng khi được giới thiệu với Huệ Khanh. Cậu thành thật chúc cả hai sớm cho mọi người được uống rượu mừng. Như có trớn, Thạnh cười hỏi cô:  

          - Em nghĩ sao về lời chúc của Trực?  

          Huệ Khanh làm bộ cắn ngón tay suy nghĩ rồi nghiêng đầu làm điệu:  

          - Còn anh, anh nghĩ sao?  

          Thạnh cười:  

          - Anh hả? Hy vọng là anh nghĩ...giống em!  

          - Xí, làm sao anh biết em nghĩ gì mà đòi giống?  

          - Thôi thì anh nói thử nghen. Anh nghĩ là đã tới lúc anh nên cầu hôn với em. Tết này mình làm đám cưới đi. Thấy mấy đứa nhỏ của Trực anh...thèm lắm rồi!  

Huệ Khanh háy Thạnh :  

          - Khôn dữ. Bộ tính cưới em về làm cái máy đẻ hả?  

          Chàng giựt mình, vội vàng đính chánh:  

          - Chết, anh đâu có ý đó. Anh chỉ ao ước sau này tụi mình có mấy đứa con dễ thương như vậy thôi mà. Nếu con gái anh sau này giống mẹ nó thì anh càng mừng.  

 Huệ Khanh cười, không giấu được sự sung sướng:  

          - Chỉ giỏi tài nịnh em.  

          Nghe vậy Thạnh nắm hai bàn tay Huệ Khanh, mắt sáng rỡ:  

          - Vậy em bằng lòng rồi phải hôn. Có chứng của Trực đó nghen. Để anh đi nói với má.  

          Huệ Khanh mắc cỡ, giựt tay lại nói:  

          - Em không biết. Thôi không nói chuyện với anh nữa. Em đi kiếm chị hai. Nói rồi gật đầu chào Trực xong đi thẳng vô buồng cô hai Cúc Hương. Thạnh ngó theo, miệng cười mím chi, mặt lộ vẻ sung sướng. Trực nói:  

          - Như vậy coi như cổ chịu rồi. Anh còn chờ gì nữa mà không thưa với ông bà? Thôi tôi cũng xin kiếu. Cơm trưa xong tôi phải trở lên Cái Dầu.  

         

...Đám cưới của Thạnh và Huệ Khanh được tổ chức trọng thể trên Sàigòn. Quan khách toàn dân tai to mặt lớn, những nhà giàu sụ bạn của hai gia đình nên quà cáp chất đầy. Bộ hột xoàn trên mình cô dâu đã khiến các bà các cô bàn tán cả tháng trời! Ai cũng ca tụng cô dâu, chú rể thiệt xứng đôi. Vợ chồng Thạnh về quê làm lễ ra mắt ông bà tổ tiên. Ông bà Hương Sư tổ chức một tiệc lớn mời ban Hội Tề và bà con trong họ mà thôi. Ở hai ngày, vợ chồng Thạnh trở lên Sàigòn để đi Đàlạt hưởng tuần trăng mật. Thằng cu Vượng được thành hình trong thời gian này, vì chỉ có hơn chín tháng sau là nó oe oe chào đời. Nói thật một ông hoàng tử con chắc cũng chỉ được cưng chìu, săn sóc tới vậy là cùng! Bà Hương Sư lên thăm thằng cháu nội đích tôn có một tuần, nhưng bà Trạng sư Tân thì có mặt nhà con gái hầu như thường xuyên. Cô hai Cúc Hương cũng cưng cháu như cục vàng. Cô cho Huệ Khanh nhiều lời khuyên đến nỗi cô ta phải nói giỡn:  

          - Khoan khoan, đợi em lấy giấy ra ghi mới nhớ hết. Với mớ kinh nghiệm vô cùng phong phú này, em thấy chị hai nên xuất bản một cuốn sách giúp mấy bà mẹ trẻ cách nuôi con.  

Bị em dâu chọc, cô hai chỉ cười trừ vì cô thương Huệ Khanh như em ruột.  

          

Ngày tháng trôi, thằng cu Vượng chập chững biết đi thì Huệ Khanh cấn thai lần nữa. Thạnh thấy mình là người đàn ông hạnh phúc nhứt thế giới. Vợ đẹp con ngoan còn ước gì nữa? Huệ Khanh tính tình hòa nhã với kẻ trên người dưới, chỉ tội hơi có máu Hoạn Thư một chút. Trong mấy bữa tiệc, cô nào, bà nào có nhan sắc mà cứ rề rề một bên Thạnh là phải coi chừng. Nội cái tia nhìn sắc như dao cạo của cô cũng có thể xuyên thủng tim kẻ địch dễ như chơi. Thạnh đã từng bị nếm mùi “cấm vận” vài lần mặc dầu không phải là lỗi của chàng...  

          

Bà Sư Nhiêu sau này không còn mạnh như xưa nên vài ba tháng Thạnh hay về thăm mẹ vài ngày. Huệ Khanh lấy cớ con nhỏ và cái bụng bầu ột ệt thường để chồng về quê một mình. Lần này gần Tết Trung thu nên Thạnh đem mấy hộp bánh trung thu thượng hạng, định bụng biếu Trực và Hường một hộp. Hường sau này chỉ lo hai bữa cơm cho ông bà Sư Nhiêu, những việc khác có con nhỏ giúp việc làm hết. Cô định tập cho con nhỏ này thạo việc thì nghỉ luôn.  

          

còn tiếp


Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 30/Nov/2023 lúc 9:58am
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 30/Nov/2023 lúc 10:02am
  

Đêm Đen Thăm Thẳm tt.

Sau bữa cơm trưa, Thạnh nằm chợp mắt một chút rồi dậy, thả bộ theo con đường mòn ra nhà thím tám, tay xách hộp bánh trung thu. Buổi trưa yên tĩnh, tiếng chim hót trong vườn và cái không khí mát mẻ ở nhà quê khiến chàng cảm thấy tinh thần rất thoải mái nên vừa đi vừa huýt sáo một bản nhạc vui. Vừa bước lên thềm nhà, tiếng cãi vã bên trong vọng ra làm Thạnh khựng lại. Rồi tiếng Trực gay gắt cất lên trong đó có tên chàng khiến Thạnh giựt mình đứng nép một bên vách nghe coi chuyện gì:  

          - Cho tới bây giờ anh mới biết rõ trong tim em vẫn còn hình bóng anh Thạnh. Mỗi khi vô tình thấy em ngồi buồn bã, xa vắng lòng anh đau như dao cắt em có biết không? Nói đi nói lại cũng tại anh. Từ thuở nhỏ, dù biết cảm tình của em nghiêng về phía anh Thạnh, anh vẫn một lòng thương em. Cho tới khi ảnh đi xa mới dám có hy vọng.Vậy mà, cuối cùng anh vẫn là người thua cuộc!  

          Giọng Hường van nài:  

          - Tại anh cứ nghĩ quấy cho em chớ em quên cẩu từ lâu rồi. Anh coi từ khi cậu ba về nước, em có làm điều gì có lỗi với anh đâu? Anh hãy tin em đi mà.  

          Trực nói giọng cay đắng:  

          - Anh biết không thể nào sánh nổi với người ta. Nhưng em coi bao nhiêu năm qua anh đối xử với mẹ con em ra sao. Anh thương yêu, săn sóc thằng Trung có khác nào đứa con ruột của anh hay không?  

          (Thạnh giật nẩy mình: -Hả??????)  

          Giọng Hường sủng đầy nước mắt:  

          - Em biết. Em vẫn mang ơn anh đã đối xử tốt với mẹ con em. Không có anh hồi đó chắc em không sống nổi tới bây giờ.  

          Trực gằn giọng, nhưng không giấu được niềm đau đớn:  

          - Em mang ơn anh? Trời ơi, cái tình của anh từ bao năm nay chỉ được em trả lại bằng tấm lòng biết ơn thôi sao? Nói thiệt anh không cần tới cái lòng biết ơn của em đâu. Anh thương em đến nỗi không ngại đóng vai quạ nuôi con tu hú...Anh hy vọng em thương anh mà quên anh Thạnh. Ai ngờ...mình đã ngu dại thay ảnh làm cha thằng Trung! Thiệt đáng đời cho anh!  

         
Nghe tới đây thì hai đầu gối của Thạnh đã mềm nhũn cơ hồ muốn quị xuống. Tai chàng ù đi, đầu óc quay cuồng không còn nghe hai người trong nhà nói gì nữa. Thạnh cố gắng lê bước trở lại đường cũ về nhà. Lúc đi vui bao nhiêu, bây giờ chàng như người mộng du, đầu óc mơ hồ không biết mình đang làm gì, nghĩ gì?! Trực mong mình đang nằm chiêm bao. Chỉ cần thức dậy là hết, là trở lại bình thường như trước...  

Bà Sư Nhiêu đang ngồi ăn trầu trên vộ ván gõ, thấy con bước vô mặt mày thất sắc thì lo lắng hỏi:  

          - Chèn ơi, trưa nắng mà con đi đâu về vậy. Để má coi có bị trúng gió không mà mặt mày xanh lè vầy nè?  

Thạnh chỉ lắc đầu, ngồi phịch xuống cạnh mẹ không nói không rằng, miệng mím chặt, vầng trán cau lại. Bà Sư Nhiêu thấy thái độ kỳ quặc của con đâm lo lắng nhưng cũng ngồi yên. Một lúc sau, Thạnh thở ra một hơi dài hỏi mẹ:  

          - Má à, hồi đó thằng Trực với Hường cưới nhau trong trường hợp nào?  

             - Té ra con muốn biết chuyện này. Ờ hồi đó con đi đâu được hai tháng thì con Hường đột nhiên bắt đầu ụa mữa, hôi cơm tanh cá. Má nghi nó có bầu mà hỏi thì nó cứ chối. Nhưng cái bụng của nó càng ngày càng đội áo. Thím tám tức quá đánh nó một trận tính đuổi đi. Rồi thằng Trực ra mặt nhận cái bầu là của nó. Làng xã nể ba con nên không bắt thú phạt. Vậy rồi hai đứa nó làm đám cưới.  

          - Vậy không ai nghi chuyện gì sao?  

          Nghe con hỏi, bà Sư Nhiêu ngạc nhiên:  

          - Nghi? Bộ có chuyện gì khác sao? Hồi nào tới giờ có ai nói gì đâu nà!  

Thạnh ngập ngừng:  

          - Má à. Hồi nãy con tính ra thăm thím tám. Rồi cho mấy đứa nhỏ hộp bánh trung thu. Bà Sư Nhiêu ngắt ngang:  

          - Thím tám dẫn hai đứa nhỏ về bên Nha Mân ăn đám giỗ rồi.  

          - Bởi vậy mới tới trước cửa con nghe thằng Trực với Hường cãi lộn. Bất đắt dĩ con phải đứng ở ngoài nghe lén. Do đó con mới biết thằng cu Trung chính là...con của con! Bà Sư Nhiêu không tin ở tai mình:  

          - Hả? Cái gì? Nói lại lần nữa cho má nghe coi.  

          Thạnh thở dài:  

          - Tất cả là lỗi của con. Má có nhớ hôm ba đứa tụi con ra đồng ăn cá lóc nướng trui không? Chính đêm đó con đã hại đời em Hường. Thiệt tình con không ngờ cổ lại có thai.  

Bà Sư Nhiêu lườm con trai, giọng không dấu được niềm cay đắng:  

          - Má biết. Đàn ông là loại thích đi gieo giống khắp nơi mà không cần nghĩ tới hậu quả! Trời đất ơi bao nhiêu năm sống gần thằng cháu nội mà má không hay biết gì hết trơn. Hay là ông trời muốn...  

Nói tới đây bà bỗng nín ngang. Thạnh tò mò hỏi:  

          - Ông Trời muốn gì hả má?  

          Bà Sư Nhiêu lắc đầu:  

          - Không có gì. Bây giờ con tính sao?  

          Thạnh ôm đầu:  

          - Chuyện này đột ngột quá con chưa biết phải làm sao nữa. Đầu óc con đang rối như mớ bòng bong!  

          - Cần nhứt là con đừng để vợ chồng thằng Trực biết là con đã nghe lén. Chuyện đổ bể tùm lum không tốt.  

Thạnh dạ rồi uể oải đứng lên vô buồng nằm. Gác tay lên trán lòng ngổn ngang trăm mối. Nghĩ tới thằng cu Trung lòng chàng đau như bị trăm ngàn lưỡi dao đâm trúng. Cũng là con mà cu Vượng thì ở nhà cao cửa rộng, được kẻ hầu người hạ, tưng tiu như trứng mỏng. Còn thằng Trung tuy không thiếu tình thương, nhưng dầu sao Trực cũng chỉ là cha hờ, tình thương sâu đậm làm sao bằng ruột thịt. Hơn nữa Trực chỉ vì muốn cứu Hường nên mới chấp nhận đứa con. Thiệt tình cái tội này của chàng có trả mười đời cũng không hết! Bây giờ Thạnh mới hiểu tại sao Hường cố ý tránh mặt chàng và từ lúc mới gặp thằng nhỏ, chàng đã quyến luyến nó tới như vậy. Té ra là do tình máu mủ! Trời ơi, bây giờ phải làm sao, phải làm sao đây? Câu hỏi hóc búa này cứ lởn vởn trong đầu khiến Thạnh muốn điên luôn. Chàng vùng dậy bước ra khỏi nhà, định thả bộ ngoài vườn cho đầu óc bớt căng thẳng, không ngờ gặp Hường bưng rổ rau càng cua mới hái ngoài vườn đi vô. Thạnh cố tạo bộ mặt bình thường gọi:  

          - Hường. Lúc này khỏe không?  

Hường ngước mặt nhìn Thạnh, cặp mắt còn đỏ hoe, cười gượng:  

          - Cậu ba. Cám ơn, em vẫn mạnh. Cậu và mợ ba cũng khỏe chớ? Thôi để em đi nấu cơm kẻo trễ.  

Nói rồi Hường cắp rổ rau quày quả bước vô bếp. Thạnh phải cố gắng phi thường mới không chạy theo kéo cô lại để hỏi chuyện chàng đã nghe lén hồi trưa.  


Sáng sớm hôm sau Thạnh trở lên Sàigòn. Trong tâm tư, chàng đã trở nên một người khác hẳn. Bề ngoài ráng giữ thái độ bình thường, nhưng trong lòng Thạnh là cả một trời phong ba bão táp. Càng nhìn thằng cu Vượng chàng càng nhớ thương thằng cu Trung, đứa con mà chàng không thể nhìn nhận trước mặt mọi người. Nếu Huệ Khanh biết được? Thạnh rùng mình không dám tưởng tượng tới cảnh này! Cô chỉ mới ghen bóng ghen gió mà chàng đã mệt cầm canh. Nếu biết được chuyện tày trời này thì có nước nhà tan cửa nát!!! Đôi khi bất chợt bắt gặp Thạnh thẩn thờ, mắt ngó mông lung, hơn nữa dạo này Thạnh ăn uống có vẻ không ngon, Huệ Khanh lo lắng hỏi có bị bịnh không, thì Thạnh mượn cớ lúc này sở bận nhiều chương trình quan trọng nên chàng hơi mệt mỏi. Huệ Khanh với cái bầu gần ngày sanh hay làm mệt, nghe chồng nói vậy cũng yên lòng. Thạnh tự phỉ nhổ sự hèn nhát, gian dối của mình. Nhưng gia đình đang hạnh phúc như vậy, không lẽ vì cái tội vô tình tạo nên của chàng trong lúc tuổi trẻ bồng bột mà trở nên tan nát?! Đôi khi Thạnh muốn đem nỗi khổ đang xâu xé trong lòng kể cho chị nghe, hầu tìm ra giải pháp ổn thỏa nhưng không dám. Chàng không lạ gì cái tánh trọng mặt mũi của bà chị yêu dấu. Nói ra chỉ tổ bị bả xài xể không ích gì. Thạnh có cảm tưởng chàng đang lặn ngụp trong một đêm đen thăm thẳm. Tìm kiếm hoài vẫn không có một chút ánh sáng cỏn con nào!  

Hai tuần sau chịu không thấu, Thạnh nói với vợ hôm trước về quê chàng sơ ý bỏ quên một tài liệu quan trọng. Giờ cần tham khảo mới nhớ lại. Chàng chỉ về hôm trước hôm sau sẽ trở lên ngay. Thạnh gặp cha cũng nói như vậy, nhưng bà Sư Nhiêu nhìn vào mắt con là hiểu liền. Tuy vậy trước mặt ông, bà cũng giả lơ không dám hỏi, chỉ báo cho con hay là bắt đầu tháng tới Hường sẽ dọn lên Cái Dầu ở luôn với chồng. Tội nghiệp thím tám sẽ sống thui thủi một mình. Nghe tin này Thạnh thấy đau nhói trong lòng. Ăn cơm xong chàng cầm một túi bánh thả bộ ra nhà thím tám. Thím với hai đứa nhỏ cũng vừa cơm nước xong. Thấy chàng thằng Trung chạy tới nắm tay mừng rỡ. So với những lần trước, lần này Thạnh có một cảm giác khác hẳn. Nắm hai bàn tay nhỏ bé của con mà trong dạ bồi hồi. Niềm thương cảm dâng lên khiến chàng muốn ứa nước mắt. Thạnh chỉ muốn ôm siết nó vào lòng, nói cho nó nghe ngàn lời yêu thương của chàng đối với nó. Nhưng tiếng thím tám cất lên khiến Thạnh trở về thực tại:  

          - Cậu ba mới về chơi hả? Nè hai đứa bây để cậu ba ngồi xuống ghế uống nước trà. Làm gì mà đeo dính vậy?  

          Thạnh ngồi xuống, hai tay vẫn ôm hai đứa nhỏ:  

          - Không sao. Thím tám để tụi nó tự nhiên. Nghe nói tháng tới Hường lên Cái Dầu hả thím? Mấy đứa nhỏ theo luôn hay sao? Cha, trên đó xa quá chắc lâu lắm mới gặp lại tụi nó.  

Nói tới đây Thạnh thấy lòng quặn thắt. Mới biết nó là con mình thì đã phải cách xa. Còn gì đau hơn nữa?! Chàng ngồi cà kê dê ngỗng với thím tám, cốt để gần gũi thằng Trung nhiều chừng nào hay chừng nấy. Hai anh em nó vẫn vô tư ngồi trong lòng Thạnh ăn bánh ngon lành. Hường về nhà thấy cảnh này thì khựng lại, mặt lộ vẽ hơi bối rối. Tuy vậy cô cũng đứng lại nói từ giã chàng, vì lần sau Thạnh về chắc chắn không gặp. Chàng hứa có dịp sẽ lên Cái Dầu thăm gia đình Hường. Nán lại một chút chàng từ giã ra về. Ông Sư Nhiêu đã đi ngủ nhưng bà còn ngồi bỏm bẽm ăn trầu có ý đợi Thạnh. Chàng ngồi xuống cạnh mẹ. Bà Sư Nhiêu hỏi Thạnh có tìm ra giải pháp gì chưa? Chàng lắc đầu mặt lộ vẻ buồn rầu vô hạn. Một lúc sau Thạnh nói:  

          - Má à, hay con cứ nói thẳng với vợ chồng thằng Trực cho con nhận lại thằng Trung. Con sẽ đem nó lên Sàigòn cho ăn học đàng hoàng. Nghĩ tới cuộc sống sung sướng của thằng Vượng, trong khi cũng là con mà phải sống trong cảnh thiếu thốn, con thiệt chịu không nổi. Má thấy con làm vậy được không?  

           Bà Sư Nhiêu lắc đầu:  

          - Rồi con giải thích sao với vợ con? Nếu thằng Trực biết con đã biết sự thật, má sợ hai đứa bây khó lòng nhìn mặt nhau nữa. Với lại thằng Trung hồi đó tới giờ vẫn coi thằng Trực là ba của nó. Chắc gì nó chịu theo con lên Sàigòn.  

          Thạnh nhăn nhó:  

           - Nhưng thằng Trực dù sao cũng là người dưng.  

          Nghe câu này, bà Sư Nhiêu cúi đầu có vẻ suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng bà ngửng lên, nhìn thẳng vô mắt Thạnh nói chẩm rải:  

          - Má có chuyện này muốn nói với con. Đáng lẽ má tính sống để bụng chết đem theo, nhưng bây giờ tình thế bắt buộc má phải nói ra. Con hứa với má là không được nói với ai dầu là chị hai của con. Bà ngừng lại đợi Thạnh hứa rồi mới tiếp:  

          - Thằng Trực không phải người dưng. Nó là em cùng cha khác mẹ với con!  

Như vừa lãnh một đòn trí mạng, Thạnh chới với, mắt trợn tròn xoe nhìn mẹ, á khẩu! Thông cảm được cái cảm giác của con, bà Sư Nhiêu thở ra:  

          - Phải, nó là con riêng của ba con. Để má kể đầu đuôi cho con nghe. Hồi má sanh con thì bị sản hậu tưởng chết. Sau đó tuy thuốc thang dữ lắm nhưng cứ đau rề rề hoài. Má rúc trong nhà không dám ra ngoài nắng gió. Người yếu đuối, xanh chằng xanh mét, ai cũng tưởng má sẽ không mạnh lại nỗi. Ba con thương má, hễ nghe đâu có thầy giỏi cũng ráng rước về. Một hôm đi góp lúa ruộng trong Láng Linh, ổng ở nhờ nhà một tá điền từ xưa tới nay vốn rất tin cẩn. Ông nầy có đứa con gái năm đó đâu cũng cỡ mười tám mười chín, khá xinh đẹp. Ổng biết là má bịnh nặng nên nảy ra dã tâm phục rượu ba con rồi đưa ổng vô ngủ với đứa con gái của họ. Có lẽ họ nghĩ nếu má có bề gì thì chắc con họ cũng sẽ được ba con đoái hoài tới. Con nghĩ coi, từ chỗ khỉ ho cò gáy, đồng chua nước mặn mà về đây thì như được lên thiên đường. Sáng hôm sau lúc ba con tỉnh rượu thì chuyện đã rồi. Hơn nữa ba con lúc đó còn trẻ, đang sung sức. Má bịnh mấy tháng trời ổng cũng bị thiếu thốn. Ổng nghĩ thôi thì đã lỡ cho lỡ luôn. Bà Sư Nhiêu cười buồn, hơn nữa đứa con gái mơn mởn đào tơ, ba con cầm lòng sao đậu nên trong suốt thời gian ở đó ổng cứ tự nhiên ăn ở với cô nọ. Tức nhiên ba con kín như bưng, đâu có nói với má chuyện này. Rồi chắc số má chưa tận nên khi dì Tư con qua thăm, khuyên má qua nhà thương Cù Lao Giêng. Nghe nói mấy bà Phước bên đó trị thuốc tây hay lắm. Mà thiệt, má qua nằm bên đó đâu được nửa tháng thì từ từ khỏe lại. Ba con mừng lắm, tặng cho cô nhi viện của mấy bả một số tiền lớn để đền ơn. Má về nhà khoảng hai ba tháng gì đó thì một hôm cái thái độ bối rối, nửa muốn nói nửa không của ba con khiến má lấy làm lạ. Má hỏi ổng có chuyện gì thì lúc đó ổng mới thú thiệt. Sáng nay người tá điền dẫn đứa con gái với cái...bầu đã gần bốn tháng từ Láng Linh ra kiếm ổng. Ban đầu má giận lắm, khóc lóc, trách cứ ba con đủ điều. Ổng chỉ biết cúi đầu nhận lỗi, năn nỉ má muốn khô nước miếng luôn. Ổng thề là không hề thương yêu gì cô ta, chỉ gần gũi vì vấn đề thể xác. Bây giờ má định làm sao ổng theo làm vậy. Giận thì giận, ít ngày sau má cũng nguôi dần. Má suy nghĩ mãi, cuối cùng bàn với ba con đem cổ về gởi nhà của vợ chồng con Lài. Bả là má thằng Trực sau này đó. Khi má về nhà chồng, bà ngoại cho nó theo má để đỡ tay đỡ chưn. Về sau má gả nó cho thằng Nô. Không hiểu sao hai đứa ở với nhau bao nhiêu năm vẫn không có con. Hai người họ rất trung thành với má. Họ nói với mọi người cô kia là cháu gái. Mới có bầu thì chồng bị tai nạn chết, phải về nương náu với họ. Sau khi sanh xong cổ giao đứa nhỏ cho vợ chồng con Lài nuôi. Ba má cho cổ một món tiền rất lớn làm vốn để sau này đi lấy chồng. Vợ chồng con Lài cũng được đền ơn bằng bốn công đất rẫy thượng hạng. Ba má lúc nào cũng kín đáo chăm sóc thằng Trực. Chắc con cũng thấy ba má đối với nó đặc biệt hơn những đứa khác trong làng mình. Cái nhà cũ của thím tám đó, khi thằng Trực lấy con Hường, ba má cũng cho nó tiền làm mái ngói, vách tường đàng hoàng. Ba má còn tính sau này sẽ kiếm cách chia cho nó cái nhà máy xay lúa trên Cái Dầu. Dầu sao nó cũng là máu mủ của ba con. Cho tới bây giờ nó cũng chưa biết cái bí mật này. Tính ra như vậy, nó là chú của thằng Trung, cũng là ruột thịt đó.  

          Thạnh ôm đầu rên rỉ:  

          - Má à, má còn cái bí mật khủng khiếp nào nữa, cứ nói ra luôn một lần đi. Ai có thể tưởng tượng thằng Trung là con riêng của con, thằng Trực là con riêng của ba không chớ? Bây giờ thằng con riêng của ba lại trở thành cha thằng con riêng của con. Má à, con có cảm tưởng con sắp phát điên lên rồi!  

Thấy con như vậy Bà Sư Nhiêu cũng hết hồn, vội trấn an:  

          - Từ từ đi con. Ở đời chuyện gì rồi cũng sẽ qua. Con phải bình tĩnh mới được. Trước tiên phải nghĩ là vợ con sắp sanh. Bất cứ chuyện buồn gì cũng ảnh hưởng tới cái thai. Con biết tánh vợ con hay ghen giàng trời. Nó mà biết được là làm ầm ĩ lên liền không có gì tốt hết. Rồi biết chừng đâu gia đình con tan nát, gia đình thằng Trực cũng rã bèng. Lúc đó mọi người ai cũng khổ! Thà con ráng chịu khổ một mình. Từ đây má cũng để ý tới thằng cu Trung nhiều hơn trước. Dầu gì nó cũng là cháu nội của má mà. Ứ hự. Không ngờ chuyện cũ lại tái diễn một lần nữa trong cái gia đình này!  


Thạnh ngồi nghe mẹ phân tách thấy rất có lý, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu u sầu. Trước kia chàng và Trực có cuộc sống không khác biệt gì mấy. Nhưng bây giờ cuộc sống của hai thằng Vượng và Trung khác nhau một trời một vực, bảo sao Thạnh không thấy lương tâm cắn rứt? Mẹ chàng là người thuộc thế hệ cũ lại rộng lượng nên tha lỗi dễ dàng. Huệ Khanh chắc chắn không bao giờ tha thứ cho chàng. Tự ái của cô tiểu thơ xinh đẹp con nhà giàu này to như cái đình, không đời nào chịu để mất mặt mũi vì một cô thôn nữ quê mùa như Hường đâu!  

        

Thạnh bước ra vườn. Trên cao mảnh trăng thượng huyền đổ xuống vạn vật một thứ ánh sáng nhạt nhòa. Chàng ngửng đầu hít không khí mát rượi vào đầy buồng phổi, đầu óc thấy bớt căng thẳng hơn. Chàng lẫm bẩm thôi thì tới đâu hay tới đó. Cứ xuôi theo dòng đời. Mình đã tạo ra oan nghiệt thì hãy ráng nhận lãnh hậu quả một mình. Vợ con vô tội không nên lôi kéo họ vào. Phải để cho họ sống vui vẻ. Vợ chồng Trực cũng chỉ là nạn nhân. Họ đã buồn nhiều lắm rồi, mình không nên khơi ra nữa để họ càng thêm đau đớn. Ông Trời ơi, Đức Phật Tổ ơi, các ngài trên cao xin phù hộ cho con đủ nghị lực gánh chịu cái khổ nạn này. Huệ Khanh, Trực, Hường ơi, các con yêu dấu của ba ơi, xin các người hãy tha thứ cho tôi. Tha thứ cái lỗi lầm tôi đã vô tình tạo ra. Tôi xin một mình gánh hết. Một mình gánh hết....Tiếng thì thầm của Thạnh hòa lẫn với tiếng côn trùng chung quanh chìm dần vào đêm sâu thăm thẳm....  

 

TIỂU-THU 

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 21875
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 02/Dec/2023 lúc 10:49am

Gió Cuối Năm

Ngược%20gió%20chiều%20cuối%20năm

Trưa nắng gắt, kẹt phà. Hàng chục xe khách xe tải nối đuôi nhau chờ ở làn đường không ưu tiên. Tảo rời xe đò vào một quán cơm bên đường. Quán thưa khách. Nghe gọi thức uống, bà chủ quán mang ra trái dừa lạnh cắm ống hút đặc lên bàn, nhìn chăm mặt khách, đoạn xởi lởi, kêu :

        - Ủa, anh Tư, anh Tư nông trại phải không ?
        Ngỡ ngàng rồi Tảo chợt nhớ ra : Út Chiến. Phải rồi, mắt ấy, miệng ấy mũi ấy không phải nó thì là ai ? Tuy cái da cái thịt có mỡ màng mũm mĩm hẳn ra, quần áo trang sức có “đô thị hóa”, nhưng cái vẻ ruộng rẫy vẫn chưa hề rời bỏ Út, lầm sao được ? Hồi ấy Út Chiến khoảng mười hai mười ba tuổi, ốm nhom, tóc cháy nắng ngọn xanh ngọn đỏ, thỉnh thoảng theo cha bơi xuồng đến Nông trại – một bộ phận của khoa trồng trọt Trường đại học Cần Thơ – nơi sản xuất, nhân các giống lúa mới, nơi ông Năm Thầy Lang “làm rẽ” mươi công ruộng, kiêm nuôi vịt chạy đồng. Hễ ghé, con nhỏ không bao giờ quên đưa anh keo ớt, vì có lần đám giỗ ở nhà nghe anh Tư khen ớt nó ngâm dấm ngon “bá cháy”. Cha Út Chiến vốn gốc nông dân nòi, tự mày mò học hỏi sao đó, hồi ấy khắp vùng Ô Môn, Thốt Nốt, ngược vô tận Cờ Đỏ, Thới Lai...hễ ai bệnh, tin thuốc Nam, ông đều vui lòng chữa, bốc thuốc miễn phí, mát tay tới độ bà con quen gọi là ông Năm Thầy Lang. Qúy Tảo có chữ nghĩa, thỉnh thoảng ông :tham vấn” anh về chuyện học hành của sắp nhỏ hoặc những chuyện vặt trong gia đình, ngoài làng xóm. Đôi khi giận lẫy, ông ở lì ngoài đồng cùng bầy vịt cả tháng không về nhà, Út Chiến phải đến “thỉnh” Tảo đi hòa giải. Nết nhậu vốn đằm, những lúc nhậu tay đôi, vô vài ly ông hay nhắc kể kỷ niệm mối tình đầu. Cô ấy đã chết ngoài vàm sông lớn. Ông bảo, những đêm sáng trăng ngồi ở chòi vịt trông ra sông thường thấy bóng cô nửa hư nửa thực ngoài ấy.
        
Mới đó đã ngoài mười lăm năm. Con nhỏ ruộng rẫy ngày nào nay đã là bà chủ quán thời kinh tế thị trường vàng đeo đỏ cổ tay, vẫn giữ nguyên lòng hiếu khách rất chân quê. Chẳng cần biết Tảo có gấp vội hay không, sau vài câu thăm hỏi, Út Chiến dọn ra bàn dĩa gà xé phay, bia lon đon đả mời, kéo ghế ngồi, vui vẻ cưa đôi nửa ly gọi là “mừng sức khoẻ”.
        - Chú Năm chắc nghỉ hưu rồi hả ?
        - Chưa anh à, ông vẫn “kết mô đen” với bầy vịt chạy đồng.
        
“Kết mô đen” ! Chà, con nhỏ nhiễm nặng không chỉ các thứ thời trang mà còn cả thời trang ngôn ngữ bụi bặm thị thành, còn ông Năm Thầy Lang thì vẫn thủy chung với hình sương bóng khói mối tình đầu ngoài sông. Cứ thế, câu chuyện lan man nhắc kể sang những nhân vật khác, những bạn nông dân nay kẻ còn người mất, đã khá lên hay vẫn còn nghèo túng. Bia bọt, chút duyên ngầm tản mạn từ nụ cười đến giọng hàn huyên chân tình của “nhỏ” Út, và đặc biệt món ớt ngâm dấm tuyệt ngon khiến Tảo quên mất chỗ ngồi trên chuyến xe đò lúc này hẳn đã qua sông.
        - Nhắc cùng trời cuối đất, sao anh tảng lờ chị Chanti vậy ? Cái nháy mắt và ngữ điệu trách móc nhẹ nhàng chẳng làm Tảo giật mình, chỉ thoáng nghe khí hậu trong mình đổi khác. Anh buộc thốt :
        - Ờ há, cô ấy giờ thế nào ?
        - Giàu của lẫn giàu...con. – Út Chiến đủng đỉnh nói, Tảo nửa ngờ nửa tin :
        - Thật à ?
        
Vóc người săn rám, đôi mắt đen to trên gương mặt bầu bĩnh lúc nào như cũng gửi vào thế giới cái nhìn kinh ngạc. Ngày ấy, Chanti là chiếc lá, cánh bèo trôi giạt theo dòng người tỵ nạn chiến tranh biên giới Tây Nam từ Kampuchia sang, mồ côi cha mẹ, chẳng thân thích họ hàng, được ông Năm Thầy Lang nhận làm con nuôi. Lang thang đói rách đâu từ thuở mới lên mười, sang năm mười bảy trông cô như chưa thể bước ra khỏi tuổi thơ của mình. Tuy vậy, vốn siêng năng hoạt bát, lại biết múa dẻo hát hay, Chanti nhanh chóng chiếm được cảm tình của mọi người, thuộc loại nông dân giỏi trong đám thợ cấy gặt đến Nông trại làm việc theo thời vụ. Qua vài mùa gặt, Chanti nói khá sõi tiếng Việt, học bổ túc văn hóa ban đêm ở trường xã luôn luôn đạt thứ hạng khá, trội hơn nhiều học viên người Việt cùng trang lứa, thoát hẳn cái vỏ “tuổi thơ vĩnh cửu”, và trở thành cô gái không chỉ khiến lũ trai bạn mà cả những cán bộ, nhân viên Nông trại cũng ưa nhìn. Các cuộc liên hoan lớn nhỏ không bao giờ vắng mặt Chanti. Vắng những màn ca múa do cô độc diễn buồn một, nhưng vắng tay nhậu Chanti thì hình như mọi người buồn tới...mười. chanti nhậu rất “chiến”, “lượm” cánh đàn ông “bỏ túi” lúc nào chẳng hay.
        
Trong cánh đàn ông “dở ẹc” ấy có Tảo, kẻ được Chanti chọn làm kẻ đi về trong cõi mơ của mình. Thoạt tiên, những dấu hiệu phải lòng ở cô Tảo chẳng khó khăn gì mà không nhận ra, nhất là những lúc chỉ có hai người riêng rẽ trên ca bin máy kéo, ở bến nước hay góc đồng không mông quạnh nào đó. Chanti thường bối rối lảng tránh ánh mắt và đôi bàn tay của gã đàn ông hình như lúc nào cũng hừng hực lửa thanh xuân, và lửa ái tình của một con đực sặc mùi hoang dã từ bộ râu quai nón rậm rì đến vóc dạc thấp đậm, vạm vỡ. “Này Chanti, em đã nhảy qua lửa bao nhiêu lần mà nước da hồng dòn hễ thấy là muốn...cắn ngay vậy ?”. giọng cợt nhã của gã làm cô khoái chí cười tít cả mắt, để rồi ngượng chín khi bàn tay rám nắng to bè nọ xòe ra táo bạo chộp lấy vai cô lắc lắc. Cho đến một ngày bàn tay không dừng lại ở vai mà rơi tuột xuống dịu dàng mân mê đôi bầu vú non tơ kèm cái hôn môi bỏng rẫy cô ngỡ dài cả thế kỷ trong lần hẹn hò thứ chín hay mười gì đó, thì họ coi như đã thuộc về nhau, nửa kín nửa hở trước mắt mọi người.
        
Cái vóc thon thả, nước da hồng quân của Chanti ngày mỗi đẹp dần lên trong mắt Tảo thế nào thì cũng hấp dẫn, cũng quyến rũ như thế trong mắt thằng Tú – cậu học trò cấp 3, tim bắt đầu rậm rựt những nhịp đập mới lạ, hồn và xác bắt đầu bị giục giã bởi cơ man nào là những mường tượng kỳ thú về chuyện chăn gối gái trai. Khi chợt phát hiện những ánh mắt khát khao rình rập, những cử chỉ thường ngày bỗng trở nên khác thường, Chanti vụt cảm thấy sự hồn nhiên vốn có giữa hai đứa nay đã không còn, nó “biến tấu” thành nỗi niềm gì đó cô chưa hiểu nổi. Mỗi ngày ra vào chung một mái nhà mà cả hai cứ như thể biến dần thành kẻ xa lạ. Trạng huống ấy ngầm, dồn nén để rồi bùng vỡ vào một chiều muộn, khi họ chống xuồng đi giăng lưới cắm câu dọc bờ kinh phía sau nhà. Xong việc, Tú rủ rê :
        - Ra chợ chơi nghe Chanti !
        
Cô gái ái ngại nhìn mông bốn phía, bóng tối bắt đầu dâng ngút hai bờ kinh, lừ lừ bò lên từ chân ruộng, buông xuống từ trời làm lem úa cả người lẫn cảnh.
        - Về thôi ! – Chanti nói xuôi xị. Tú dụ khị :
        - Có một chỗ chiếu phim chui...phim mới...
        - Phim “chăn nuôi” chớ gì ? Đừng hòng dụ tao coi lần nữa, gớm chết !
      
Gã trai buông sào chống, nhẹ bước đến dí sát mũi vào bạn, nhăn nhở cười :
        - Mày chỉ giỏi làm bộ, không coi phim thì...đóng phim...
        - Dang ra ! – cô gái giãy nãy – Mày nốc rượu hồi nào mà sặc cả mùi hèm vậy hả ?
        
Vừa nói, Chanti vừa lẹ làng cúi thấp người xuống né cái choàng ôm sỗ sàng của Tú khiến hắn lỡ đà ngã tòm xuống mặt nước đặc sánh màu đêm đen như hắc ín. Cô gái chống sào xô nhanh mũi xuồng quay vào bờ. Tú lóp ngóp leo lên thì Chanti đã rời xuồng chạy thục mạng. Bóng tối gấp gáp leo lên rượt đuổi theo họ. Nhưng rồi dẫu chạy nhanh thế nào thì sau cùng Chanti cũng bị gã trai níu lẫy, quật ngã, đè nghiến xuống vệ cỏ. Cô gái quẫy đạp điên cuồng, bỗng trở nên mạnh mẽ khác thường, và đã vuột thoạ́t khỏi cơn hứng tình của Tú sau khi để lại những vết cào tươm máu trên mặt hắn.
        
Ngày nọ, sau đợt nghỉ Tết, Tảo về với Nông trại đã hơn mười giờ đêm, chị y sĩ trưởng trạm xá vui vẻ “thông báo” mọi người đã bị Chanti quật “phơi xác” trên hội trường sau bữa tiệc tân niên, đoạn hất cằm ra phía bến sông :
        - Nó đang ở ngoài ngoải, bữa nay con nhỏ trông lạ lắm.
        
Trời lấp lánh sao. Đồng ruộng âm vang tiếng ễnh ương, nhóc nhen, bù tọt hòa xướng. Chiếc xuồng ba lá trôi lặng lẽ dọc bờ kinh dưới những rặng điên điển xòe tán. Chanti ngồi đằng lái khuấy dầm, Tảo ngồi đối mặt cô phía đằng mũi ,  lặp lại câu hỏi lần thứ mười :
        - Đi đâu mới được chứ ?
        Chanti cười tiếng cụt :
        - Về nhà em !
        - Nhà em ? Không còn ở với chú thím Năm sao ?
        - Đúng hơn là...về chòi của em, má Năm đuổi em rồi.
        
Chòi là cái lều chăn vịt bỏ hoang, được lợp lại lá, thưng lại vách sơ sài. Trong bóng tranh tối tranh sáng của ánh sao, lù mù những thứ vật dụng tối cần thiết cho một người sống đơn độc. Thấy Tảo cứ lóng ngóng chưa chịu bước vào, Chanti vỗ bộp lên vạt chõng tre :
        - Vô đây, bộ chỗ này dơ lắm sao mà anh...
        
Tảo miễn cưỡng vào ngồi cạnh cô. Gác cằm lên đầu gối co sát ngực, cắn chùm tóc ngang miệng, Chanti đau đáu nhìn bạn, ánh nhìn kinh ngạc cố hữu pha chút man dại hệt ánh mắt thú hoang. Mùi rượu phả từ người cô, tiết xuân mát mẻ vỗ về đêm quạnh vắng. Ắng lặng một lúc, Tảo bứng rứng ôm vai nàng dỗ dành :
        - Thôi đừng buồn nữa, cưng - Vừa nói anh vừa dịu dàng ướm tay vào ngực cô. Chanti vùng đứng lên, ôm mặt khóc nức nở, gầm rít qua nước mắt :
        - Về, anh về đi ! Cái giống đàn ông các người trăm thằng cứ y như một...
        Hôm sau gặp ông Năm Thầy Lang, Tảo gần xa gợi chuyện, ông buồn bã lắc đầu :
        - Qua có muốn nó bỏ đi đâu. Đúng là bà Năm có...Và cả thằng Tú...Chậc, thằng nhỏ y như con nghé đực tới hồi động cỡn. Lại nữa, cái tật thích đàn đúm rượu chè hát hò qua và bả rầy mãi Chanti nó hổng chịu nghe nên bả bực...
        Út Chiến rót thêm bia đầy ly khách, nói vui :
        - Nè, sao anh Tư bỗng ngây người ra vậy ? Hồi ấy hai người yêu nhau da diết, sao anh lại đánh bài chuồn hả ?
        
Đêm trước ngày Tảo rời Nông trại, về trường nhận công tác khác, bữa tiệc liên hoan đưa tiễn kéo dài tận nửa đêm. Như thường lệ, cánh con trai đàn ông bị Chanti “đốn ngã” bằng rượu. Sau cùng chỉ còn cô và Tảo là tương đối tỉnh táo. Chẳng phải tửu lượng của Tảo cao mà nhờ trước khi nhập tiệc, Chanti đã bí mật đưa cho anh mấy lát củ thiềng liềng xắt cực mỏng, dặn lúc nào cảm thấy sắp xỉu thì bí mật cho vào miệng nhai. Tới tận lúc ấy anh mới biết “bí quyết” giúp cô thắng trong những cuộc rượu. Và, họ lại bơi xuồng ra chòi. Lúc này, chẳng ai rủ ai, thấy Chanti đi xuống bến, Tảo liền ngất ngưỡng bước theo.
        
Đêm tối đen như mực. Cẩn trọng hơn lần trước, Tảo dạo đầu bằng những cử chỉ mùi mẫn điệu nghệ. Sự đòi hỏi của người đàn ông được cô gái đáp ứng với chút ngượng ngùng rồi dần sôi nổi trong câm lặng. Họ không thốt lời nào lúc quấn quýt cuồng nhiệt cũng như lúc mệt nhoài buông nhau ra. Ngoài tiếng côn trùng rả rít mỗi lúc mỗi trở nên xa vắng dưới chân ruộng, ngoài bờ kinh, âm thanh độc chiếm là tiếng kẽo kẹt của chiếc chõng tre già nua, rên lên từng hồi hối hả rồi thình lình ngã chuồi xuống nền đất khiến cả hai không thể nhịn được cười, và lại tiếp tục như dây thừng quấn bện vào nhau. Sau đó hệt vừa xong bữa tiệc ngon, chàng mời nàng thêm món “tráng miệng” bằng những lời tỉ tê hứa hẹn, kèm đôi giọt nước mắt chia tay, và ngay trong đêm, Tảo rời Nông trại lén lút như kẻ chạy trốn.
        - Sao anh nỡ quất ngựa...nỡ xử tệ với chị Chanti đến vậy ?
        - Chậc, nói cô Út thông cảm, hồi đó tôi mới cưới vợ, cuộc sống của một anh kỹ sư cơ khí phụ trách đội máy kéo của Nông trại còn rất khó khăn. Tảo nghe giọng mình chợt úng nhão một cách ngang xương – cô ấy bây giờ chắc cũng yên bề rồi, phải không ?
        - Chanti thề không bao giờ lấy chồng, và đến giờ chị vẫn giữ đúng lời thề đó! Sau ngày anh đi, chị không làm với Nông trại nữa, trôi giạt qua nhiều nơi. Dù hận đàn ông tận xương tủy nhưng cảm thấy có lúc không thể thiếu họ, chị đẻ tới hai trai ba gái, lai Việt có, rặt Khmer có, nhưng người ta và cả bọn chúng không thể biết được ai là cha.
        
Còn mày, có lời thề nào để cuộc sống đỡ vô vị không hở thằng luôn tưởng mình bị trời đày bắt cô đơn, bị trời hành bị cô độc ? Tảo kẹp chặt hai tay giữa đùi, thoáng rùng mình như có ngọn gió nào lạ từ đám chuyển động rùng rùng ngoài bến phà bất thần quật ngang vào. Một mối tình vỡ vụn đầu đời, và những đứa con không bao giờ biết mặt cha ? Chanti có khắc nghiệt với bản thân mình quá không ? Nếu có thì sự nghiệt ngã này là do, bởi, tại mầy tất tần tật ! Người đàn ông cắn chặt môi mình nghe đau như thể bị gọng kìm cay nghiệt nào...cắn.

        ° ° °

Sau lần tình cờ gặp lại Út Chiến chừng nửa năm, sau cả tỉ lần ngập ngừng, đắn đo, băn khoăn các thứ, Tảo đi tìm Chanti.
        - Nói đi Chanti, trong sắp nhỏ của em có đứa nào là...con anh không ? Nghĩa là...biết đâu đêm hôm ấy...- Giọng úng nhão cảm xúc nửa van cầu nửa thắc thỏm hy vọng của người đàn ông tựa đợt sóng yếu ớt vỗ vào ghềnh đá. Người đàn bà mím môi thinh lặng với vẻ mặt thanh thản đến lạnh lùng. Vẻ mặt phong trần của một người mẹ độc thân có lúc tưởng đã bị nhấn chìm trong giòng lũ cuộc sống gạo đong từng bữa, tình tạm từng ngày. Nhưng rồi nàng đã vượt qua tất cả để trở thành bà chủ của một xưởng sản xuất ghe xuồng có tầm cỡ ở miền Tây.
        - Hãy tha lỗi cho anh, Chanti ! Nói đi Chanti, trong sắp nhỏ của em...
        
Nói, nói và nói. Tấm bằng kỹ sư cơ khí đã vứt bỏ đâu đó dọc những ngày và đôm bon chen, ngỡ mình sẽ thành công nhờ tài lọc lõi trong những thứ ngành và nghề khác giàu thủ đoạn, ít tốn công sức, lợi to lộc lớn. Nhưng rồi trắng tay. Người đàn ông vạm vỡ, luôn toát vẻ hoang dã ngày nào giờ gầy đét hệt con khô khoai, hai đầu vai cao nhọn hẳn lên tạo cho anh ta cái dáng co ro lúc ngồi, cái vẻ lom khom lúc đứng. Người đàn ông đã từng trải qua hai lần ly dị vợ, không kiếm đâu ra được một mụn con tha hồ nói. Lời lẽ chân thành đan xen những ngoa ngôn lộng ngữ lộn xộn. Mặc, người đàn bà vẫn tiếp tục giữ sự câm lặng như là giữ chút phẩm hạnh nhỏ nhoi chưa bị đánh mất hoặc đánh cắp của mình.
        
Và, sự câm lặng ấy chỉ bị phá vỡ khi Hạnh xuất hiện. Con nhỏ chừng mười lăm hay mười sáu tuổi vai mang cặp sách, tay cầm bó hoa dại hái đâu đó dọc đường đi về, bước vào phòng khách. Chanti dịu dàng vuốt tóc nó, dịu dàng nói :
        - Chào khách đi con. Ngày xưa má từng mồ côi, bây giờ ổng đang mồ côi. Không biết mắc phải tội gì mà ra thân tàn ma dại vầy nè! Mắc phải vạ gì mà từ một ông kỹ sư bảnh bao, giờ hổng có một miếng đất cắm dùi, phải xuống ghe bán hàng rong kiêm sửa chữa máy đuôi tôm, máy bơm dãi dầu sông nước, lêu bêu như lục bình trôi...
        
Giọng người đàn bà mỗi lúc một mỏn dần như thể lẩm bẩm nói một mình. Con nhỏ ngơ ngác, chẳng hiểu mẹ nói gì, đôi mắt tròn xoe y hệt mắt Chanti lúc nào như cũng gửi vào thế giới cái nhìn kinh ngạc,

        ° ° °

Nước trong vắt, nắng từ trời cao bủa xuống ngàn tia kiếm sáng, cả hai bơi lội thỏa thích trong “trang phục cổ xưa” của ông Adam và bà Eve. Theo từng động tác sải tay uốn lưng mềm mại, cặp vú màu nâu hồng có núm đỏ tựa mõm của loài cá lạ thoắt ẩn thoắt hiện giữa làn sóng xanh. Chanti bơi mải miết, Tảo bơi bên cạnh, vừa bơi vừa chiêm ngắm nàng và, lúc chợt nhận ra hai người không còn ở dòng kinh quen thuộc mà đã ra tới biển, Chanti bị một cuộn sóng cuốn mất hút vào miệng một con cá mập lớn thì Tảo choàng thức, ngồi bật dậy, xuất hạn dầm mình, thực mà ngỡ như mơ thấy con Hạnh ngồi dưới vừng sáng ngọn đèn thắp bằng ắcqui tỏa xuống vòm mui đang chăm chú lấy các loại trái cây từ bọc ni lông ra bày mâm ngũ quả.
        - Tía dậy rồi sao ? – Nó nói, mắt vẫn không mâm trái cây được sắp xếp một cách khéo léo – Con tưởng tía ngủ tới sang năm chớ !
        - Sang năm à ? – Tảo bửng lửng.
       - Sắp giao thừa, bộ tía hổng tính đón năm mới, rước ông bà về ăn Tết sao ?
        
Chậm rãi, tỉnh tuồng, cứ như sự có mặt của nó trong cái ghe hàng rong chật chội, nghèo nàn này là chuyện tất nhiên, chẳng có gì để ông chủ ghe phải bận lòng. Tảo ráng bắt chước sự tỉnh tuồng của nó :
        - Con đến lúc nào vậy ? Sao biết tía ở đây mà...
        Bưng mâm trái cây đặt lên cái trang thờ cũ kỹ, ám khói lưu cửu treo bên mui, đoạn Hạnh ngồi bó gối, ngó mông lên bầu trời cuối năm đầy sao.
        - Má nói ngày xửa ngày xưa má và tía đã tắm chung ở dòng kinh này không biết là bao nhiêu lần.
        - Ờ !
        - Ông Năm Thầy Lang còn ở đây không tía ?
        - Không, ổng dọn nhà ra chợ Thới Lai rồi.
        - Cái Nông trại má hay nhắc kể cũng biến luôn sao ?
        - Biến, giờ đất này thuộc Viện Lúa đồng bằng...
        - Sao tía còn quay về làm gì ?
        - Ờ thì...Còn con sao lại...
        
Con Hạnh quay lại, mỉm cười, nhìn xoáy vào mắt người đàn ông cách đây chưa lâu bỗng hóa ra là...tía nó.
        - Ngộ lắm, tía ! Không biết nghĩ thế nào mà bây giờ má hổng còn giấu tông tích những ông cha của mấy chị em con nữa. Bốn đứa em con đã được giao tận nơi, còn má ăn Tết với cô Út Chiến trên bắc Cần Thơ, hẹn tới mồng hai tất cả cùng quay về nhà ăn Tết tiếp.
        - Quay về ? Cả mấy ông chồng hờ của má mày, và tía luôn sao ?
        - Má nói chỉ tụi con quay về, còn các ông không được bước qua cửa, ai cãi lời, léng phéng là má...chém!
        
Tảo cười, con nhỏ không cười, đăm đăm nhìn tía nó. Ngọn gió cuối năm luồn qua lòng ghe hẹp thổi theo vào ít ánh sao khiến ho cảm thấy lạnh người đàn ông sông nước ôm con nhỏ vào lòng, miệng mỉm cười mà ngấn lệ.

        
MƯỜNG MÁN
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 188 phần sau >>
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 3.543 seconds.