Bài mớiBài mới  Display List of Forum MembersThành viên  LịchLịch  Tìm kiếm trong Diễn đànTìm kiếm  Hỏi/ĐápHỏi/Đáp
  Ghi danhGhi danh  Đăng nhậpĐăng nhập
Tâm Tình
 Diễn Đàn Hội Thân Hữu Gò Công :Đời Sống - Xã Hội :Tâm Tình  
Message Icon Chủ đề: NIỀM TIN & HY VỌNG&GƯƠNG TỐT&CHIA SẼ Gởi trả lời Gởi bài mới
<< phần trước Trang  of 121
Người gởi Nội dung
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 06/Jan/2023 lúc 8:34am

Nơi Tôi Về

Phần 1

Trong Kinh Thánh Tân Ước, một môn đệ của Chúa Giê-Su là ông Tô-Ma, nổi tiếng cứng đầu vì ông này chỉ tin khi nào chính mắt ông thấy, tay ông sờ được. Khi các môn đệ khác cho ông hay rằng Thày Giê-Su đã sống lại và hiện ra gặp gỡ họ, ông vẫn không tin. Một ngày kia, Chúa Giê-Su lại hiện ra với tất cả bọn họ, Ngài nói với ông Tô-Ma hãy đặt tay vào dấu đóng đinh trên bàn tay ta, ông sờ vào và ông tin. Cũng như vị môn đệ này, tôi đã từng nghe, từng đọc nhiều bài viết về nạn hối lộ, xin tiền ở phi trường, từ các người Việt về thăm quê hương. Tôi nghĩ có lẽ chuyện này đã xảy ra từ những năm xa xưa lắm rồi, khi mới có phong trào “Việt Kiều” về thăm quê hương, lúc đó quê hương còn nghèo, bây giờ quê hương ta ngày nay giàu đẹp, dân chúng vui sống, làm ăn tự do trên mảnh đất hạnh phúc thứ nhì của thế giới, theo bảng chỉ số “nơi đáng sống nhất” của chính phủ Việt Nam đưa ra. 

Các tòa cao ốc mọc lên như nấm, đường xá, các cao tốc được xây dựng thêm trên cả hai miền Nam Bắc. Rất nhiều triệu phú và tỷ phú đô la Việt Nam được lên danh sách của tạp chí uy tín quốc tế Forbes, thì có lý nào tệ nạn hối lộ, xin tiền này còn sống sót được. Nếu xảy ra, chỉ cần một cái bấm nút trên bàn phím, vài giây sau, mọi người Việt hải ngoại hay trong nước đều có thể đọc được chuyện gì xảy ra ở Việt Nam.

Sau mấy mươi năm lập nghiệp xứ người, tôi đã không về dù hay tin ba má tôi lần lượt qua đời. Khoảng trên mười năm nay, ông anh kế tôi bị tai biến, sức khỏe xấu đi từng năm. Mỗi lần gọi phone nhìn nhau qua màn ảnh nhỏ, thấy anh xanh xao, hao gầy, đôi mắt u buồn chịu đựng, khác với con người ngày trước, cao to và hoạt bát, tôi xúc động và thương anh vô cùng. Bằng giọng nói khó khăn, có lúc hụt hơi, anh mong muốn gặp tôi một lần, anh nói anh sẽ vui lắm. Tôi lo sợ không được gặp anh lần cuối, nên quyết định mua vé máy bay về thăm anh và nhìn lại quê hương mình sau bao năm xa cách. Biết tôi sẽ về, hai hàng nước mắt anh ứa ra chảy dài trên đôi má gầy guộc.  

Mảnh đất yêu dấu Việt Nam ơi, tôi sẽ về, tôi sẽ dừng bước một khoảng thời gian để lặng thinh suy tư, nhìn rõ quê hương mình, nơi gần 100 triệu con người trên mảnh đất hình chữ S này đang sinh sống; tôi sẽ trở lại những nơi chốn cũ mình đã từng một thời truân chuyên, bị dìm xuống tận cùng đáy xã hội, một thời sống mòn trong cái xã hội không tưởng của những con người vẫn đang nuôi nuôi ảo tưởng trên miền giang sơn gấm vóc tươi đẹp mà họ vừa may mắn làm chủ.

Lúc máy bay sắp đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, qua khung cửa sổ, nhìn quang cảnh bên dưới, tôi thấy cũng giống như bao phi trường khác nơi tôi đã đi qua. Tôi không có được cái cảm giác xúc động hay nôn nao, vui mừng của người đi xa mới về lại quê hương. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng vì sự thay đổi mà lâu lắm tôi chưa thể hình dung ra.

Các du khách xếp hàng chờ đi qua trạm di trú làm thủ tục vào Việt Nam. Hai vợ chồng anh bạn về cùng chuyến với vợ chồng tôi xếp hàng bên kia, bên hàng này, vợ tôi đi trước, tôi lóng ngóng không biết nên đi cùng hay không, sau cùng, tôi quyết định đứng lại sau vạch chờ đến phiên; hàng bên kia, hai vợ chồng anh bạn cùng tiến lên một lượt, họ đưa giấy cùng một lúc. Vợ tôi trình giấy, anh nhân viên tuổi chừng 50, liếc thật nhanh giấy tờ vẻ không để ý, miệng hỏi vợ tôi về Việt Nam sẽ cư ngụ ở đâu, và tính ở bao lâu. Vợ tôi trả lời nhỏ quá, tôi không nghe rõ. Anh ta từ tốn ngả lưng trên ghế và nhìn bâng quơ lên trần nhà. Tôi nhìn theo tia mắt anh ta coi có gì hay khiến anh ta đang làm việc mà phải mất thời giờ để nhìn, trong khi nhiều du khách vẫn xếp hàng chờ. Chẳng có gì cả.

Tôi sốt ruột chờ. Anh nhân viên vẫn tỉnh bơ, hết nhìn trời rồi nhìn đất, nhìn trước rồi nhìn sau, hết đưa tay che miệng ngáp, rồi gãi đầu gãi tai, thỉnh thoảng lại hắng giọng. Tôi lấy làm lạ quá vì đã vài phút trôi qua mà anh ta vẫn không đóng dấu hay nói năng gì cả. Tôi quay lại sau lưng mình, vị khách nước ngoài nhìn tôi với đôi mắt tròn xoe, nhún vai. Tôi đáp lại bằng cái lắc đầu. Chợt vợ anh bạn từ hàng bên kia, tiến về phía tôi hỏi mượn $10, tôi nói không có tiền lẻ. Chị lẩm bẩm “cho nó đại cho xong việc”. Tôi bàng hoàng hiểu chuyện gì đang xảy ra. 

Bên đây, có lẽ anh nhân viên di trú cũng sốt ruột chẳng thua gì tôi, anh ta tỏ vẻ bực bội, nhìn vợ tôi, gắt nhẹ “thôi đi đi”. Vợ tôi nhận lại giấy tờ và bước đi. Tôi bước tới, cũng cùng một câu hỏi, tôi trả lời xong, đứng chờ. Anh ta mở sổ thông hành của tôi ra nhìn thật kỹ rồi chau mày:

- Bác cũng đi nhiều nơi nhỉ? Gần kín hết cuốn hộ chiếu rồi. Mà bác đi đâu đến tận những vùng xa xôi như Aghanistan, Iraq vậy?

- Tôi đi công chuyện riêng.

- Thế bác về Việt Nam lần này là lần đầu à?

- Vâng, lần đầu.

- Về đây bác có tính đi đâu chơi không?

- Chưa tính gì cả, thăm gia đình trước rồi mới tính được.

Anh ta nhìn tôi thật kỹ, rồi khoan khoái ngả lưng ra sau, lại nhìn trời nhìn đất, cúi xuống vờ lục lọi gì bên dưới, rồi lại ngước lên nhìn quanh, cái nhìn tha thiết như chưa bao giờ được nhìn, rồi liếc tôi thật nhanh như dò phản ứng, đoạn nhìn bâng quơ qua chỗ khác. Tôi biết anh ta muốn gì, nhưng lòng khinh bỉ, tôi đứng im như tượng đá, nhìn thẳng vào anh ta, kiên nhẫn chờ đợi. 

Vài phút trôi qua, anh ta không chờ nổi và cũng không  hiểu nổi sao cha này ở nước ngoài về, mặt mày có vẻ “thông manh” mà “chậm hiểu” thế. Anh ta khoác tay ra hiệu đi đi. Tôi đủng đỉnh, khoan thai nhận lại giấy tờ kèm theo lời cám ơn, “a thank-you from the heart of my bottom” chứ không phải “from the bottom of my heart”, vì bắt tôi chờ đợi thêm mấy phút không đáng, trong khi vẫn còn du khách chờ sau lưng.

Hai ngày sau, dù vẫn chưa quen với giờ giấc, tôi lại đáp chuyến bay đi cao nguyên Pleiku- Kontum. Người bạn thân cùng lớp, cha Binh mà người Thượng thân mến gọi là Bok Binh, hiện đang coi xứ đạo Pơlei Tơwer, gần Kontum, lái chiếc xe quân sự đa dụng UAZ-469 cũ kỹ thời Nga Sô viện trợ cho miền Bắc Việt Nam; Bok Binh ra đón chúng tôi tại phi trường Cù Hanh, thị xã Pleiku. Tôi thắc mắc sao máy bay không bay thẳng đến phi trường Kontum, bạn cho biết phi trường KT đã bị chiếm hữu làm nhà riêng và làm trụ sở vài cơ quan của chính quyền thị xã.

Chiếc UAZ-469 là một chiếc xe “địa hình” (off-road) bắt chước theo kiểu xe Jeep của Mỹ, dân miền Bắc Việt Nam vẫn gọi là xe U-Oát. Xe này sản xuất rẻ, khá bền, đơn giản, đương nhiên không thoải mái tí nào khi phải ngồi trong xe, nhưng ưu điểm là dễ bảo trì, được viện trợ cho quân đội tất cả các nước nghèo thuộc khối cộng sản cũ. Bạn tôi đã tự đại tu và khoác cho nó một nước sơn mới coi cho đàng hoàng để đón chúng tôi. Chiếc xe biểu tượng cho sức mạnh quân sự khối cộng sản, nay không còn ai muốn chạy nữa, ngay cả người dân miền Bắc, những người “may mắn” được giải phóng và sống trong thiên đường cộng sản trước cả người dân miền Nam. Ngày nay, cán bộ và tướng lĩnh cao cấp quân đội lại ưa thích xe của bọn tư bản giãy chết vì nó êm ái và tiện nghi hơn nhiều. Xe U-Oát bị vất xó. Bạn tôi mua được nó với giá rẻ rề như cho không vì bạn biết nghề cơ khí, thích tháo tung máy ra để sửa chữa. 

Bạn tôi sinh đẻ và lớn lên ở Kontum, phải chờ đợi đến khi tóc điểm muối tiêu mới được nhà nước cho thụ phong linh mục chỉ vì tội có cha đi cải tạo dài hạn chưa được tha về. Suốt mấy chục năm lặn lộn trong rừng thiêng nước độc bằng đôi chân trần, khá hơn chút nữa bằng con ngựa sắt 2 bánh, và bây giờ sắp sửa tiến lên chủ nghĩa đại đồng bằng chiếc xe U-Oát cọc cà cọc cạch, nhờ nó mà bạn tôi lặn lội, chuyên chở gạo muối, đồ khô, thuốc men, và dụng cụ y tế cho đồng bào Thượng trong những vùng heo hút ít người đặt chân tới. 

Bạn là một người mục tử thấm đẫm mùi chiên của mình. Bạn chọn con đường tu trì, phục vụ, hy sinh, vâng lời ra đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, không phải ở những nơi thị thành đông người mà những nơi thâm sâu cùng tận, nơi sốt rét rừng ác tính luôn chờ đợi bước chân người đi gieo hạt mầm tình thương. Lần lượt vài căn nhà thờ mọc lên giữa những đại ngàn hoang sơ do chính bàn tay và công sức bạn tôi. Ánh sáng đèn điện ắc-quy bừng lên trong những ngôi nhà sàn mái lợp tranh, vách, phên tre nứa. Quan trọng nhất là nước sạch từ trên đỉnh núi được bạn dẫn về tận thôn làng cho người dân. Cuộc sống bắt đầu khá lên, bạn tôi lại âm thầm lặng lẽ rời đi, nhường lại cho một người bạn linh mục trẻ khác về coi xứ, tiếp tục công tác mục vụ của mình. 

Bạn lên đường đi kiếm vùng đất mới, bắt đầu ươm mầm sống, mầm hy vọng cho các thôn làng khác ở sâu hơn trong rừng. Chính quyền địa phương không phải là không biết và không chú ý đến điều này, họ theo dõi rất sát, nhưng họ chọn làm ngơ để bạn tôi tự do hành động vì có lợi cho họ, chính quyền không phải làm gì hết mà vẫn được tiếng tốt lo cho người thiểu số.

Sau khi ghé thăm ông anh và đem cho ông một số thuốc men đem từ Mỹ về, Bok Binh đưa chúng tôi trực chỉ hướng Bắc đi Kontum, hai bên đường nhà cửa giờ mọc lên san sát, màu xanh cây rừng ngày xưa giờ thay bằng những đồi trọc bị khai thác vô trách nhiệm, không thương tiếc. Tôi vẫn nhớ ngày xưa khi tôi đi xe đò một năm 4 lần để đi học từ Pleiku lên Kontum, lúc đó hai bên là rừng xanh bạt ngàn, thỉnh thoảng xe đò bị đắp mô chặn đường hoặc bị bắn sẻ. Trước khi rẽ vào con đuờng đất đi đến giáo xứ Pơlei Tơwer, bạn tôi dừng xe gần đèo Chu Pao để chúng tôi có dịp hoài niệm quãng đường nguy hiểm ngày xưa. Một niềm cảm khái lẫn xúc động dâng lên trong lòng chúng tôi với biết bao vui buồn trên đoạn đường ngắn ngày nay và những dấu tích, hố bom của chiến tranh ngày xưa.

Hơn 40 cây số trên con đường quốc lộ 14 đi Kontum, tôi không thấy xe cảnh sát giao thông chạy trên đường, nhưng tôi nhận ra 2 chốt cơ động của cảnh sát giao thông, mỗi chốt chỉ có một chiếc xe cảnh sát nằm lặng lẽ, nhàn hạ, hơi khuất dưới một bóng cây to râm mát, nếu không để ý sẽ không thấy; đằng sau xe là một cái bàn nhỏ có một vài công an quần áo vàng đang hí hoáy ghi chép gì đó, đối diện là vài bác tài đang chờ đến phiên mình. Xe chạy chậm lại, tôi mới thấy vài ba chiếc xe vận tải đã tắp vào lề gần đó từ lúc nào. Thì ra mấy bác tài xế, mỗi lần đi qua đây thì “tự giác” ghé vào đóng hụi chết hay còn gọi là nộp tiền mãi lộ mà không sợ phiền hà đến giấc ngủ của hàng xóm, không làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của nhân dân, không chiếm lòng lề đường. Nói chung là là “win-win situation”. Anh thắng, tôi thắng, đôi ta cùng thắng. Mất công ra chặn xe, làm náo động xóm làng, gây “bức xúc” không cần thiết cho tài xế, lại còn bị quay phim, bỏ lên mạng, làm mất đi “hình ảnh đẹp” của người công an nhân dân, mới hay cảnh sát giao thông Việt Nam quả là có đầu óc sáng tạo, xứng đáng với khẩu hiệu “đâu cần công an có, đâu khó ló công an”.

Tại chốt thứ hai, quang cảnh cũng như chốt thứ nhất, có khác chăng là không phải những bác tài xế xe vận tải, mà là những người đàn ông bực bội đang chở gia đình đi chơi hay những bác tài mặt khó đăm đăm, từ những chiếc xe nhỏ, nhăn nhó như khỉ phải ớt tắp vào lề đường theo tay gậy của người đầy tớ nhân dân. Những chủ nhân ông này đang cố tranh luận với các tên đầy tớ, nhưng công lý lúc nào cũng thuộc về thằng đầy tớ với hình ảnh chụp tốc độ rõ ràng. Chạy đằng giời nhé ông chủ!

Chạy thêm chưa đầy mộtcây số, qua một khúc quanh lên dốc, chúng tôi mới thấy hai cái camera trên cao, cạnh vệ đường luôn theo dõi và chĩa thẳng vào luồng xe đang chạy trên đường. cho thấy chính quyền luôn lo cho tính mạng người dân để không bị tai nạn do chạy quá tốc độ. Người dân phải biết ơn nhà nước sâu sắc vì chỉ một nhóm công an giao thông địa phương cũng biết chăm lo cho sinh mạng của người dân, quả là hiếm có trên thế giới. Nghiệt ngã một điều là các bác tài vừa mới tăng chân ga để leo dốc, tốc độ cho 90 cây số/giờ, lên đỉnh dốc, chưa kịp giảm chân ga thì bảng tốc độ bất ngờ xuất hiện cảnh báo chỉ 50 cây số/giờ; hai máy hình chớp lên đủ các góc cạnh, chụp bảng số xe, và chụp luôn khuôn mặt ngơ ngác của bác tài, thì chạy đâu cho thoát. “You can run but you can’t hide” (Bạn có thể chạy, nhưng bạn không thể nào trốn). Thật là một sự “vô tình” có tính toán đến từng chi tiết nhỏ, bất cứ tài xế nào, dù để ý đến đâu, nếu không quen thuộc đoạn đường, đều dính vào cái bẫy thiên la địa võng này.

Chúng tôi 4 người từ Mỹ về và vợ chồng người bạn ở Kontum. Vợ chồng bạn đến gặp chúng tôi bằng chiếc xe khác, xe U-Oát chỉ chở được 4 người. Bìa phải, tóc bạc là Bok Binh, người bạn linh mục cùng lớp.  

Chiếc xe U-Oát của Nga Sô viện trợ quân sự cho Việt Nam thời chiến, đã được tân trang và sơn lại.


Chưa hết ngỡ ngàng thì sau khúc cua, lừng lững một tên đầy tớ áo vàng với cây ba toong, chỉ thẳng vô mặt rồi chỉ tiếp vô lề. Các ông chủ chỉ có việc móc túi trả lương cho mấy thằng đầy tớ vừa vất vả làm việc cho mình. Lại “win-win situation”, chủ tớ đề huề, cả hai đều mừng. Tên đầy tớ mừng vì được trả công khó nhọc giăng cái bẫy; ông chủ mừng vì được tha cho đi, vờ “để quên con tim” lại là xong. Thật là một xã hội công bằng, chủ tớ, chẳng ai nợ ai.

Chiếc xe giảm tốc độ, rẽ vào con đường tráng nhựa được vài cây số, đến chỗ ít nhà dân thì đường nhựa biến thành đường đất lồi lõm. Con ngựa sắt Nga Sô nhảy chồm trên đoạn đường dài bụi mù dẫn vào ngôi làng Thượng xa xa, hành khách lẫn tài xế cùng nhịp nhàng theo vũ điệu lên voi xuống chó trong xe. Có hân hạnh ngồi trên niềm tự hào của quân đội Nga mới biết cám ơn những chiếc xe của bọn tư bản giãy chết. Nhà ít đi, người thưa dần, màu xanh trải dài hai bên đường. Đến đây mới thấy được sự tiêu điều của những căn nhà sàn lợp tranh, vách phên nứa, bám đầy bụi, những trẻ em người Thượng, chân không, áo dơ bẩn, rách rưới đang chạy chơi, rượt đuổi nhau.

Tiếp tục chạy thêm vài cây số đường đất nữa, chúng tôi quẹo trái vào cổng một một khoảng sân rộng với ngôi thánh đường nhỏ nằm sát bìa rừng, đơn sơ, được xây bằng gạch, xi măng, lợp tôn với bức tượng Đức Mẹ bám đầy bụi đất đứng giữa sân nhà thờ. Bạn nói đây là nhà thờ, kia là nhà xứ nơi mình ở. Nhìn qua bên phải, tôi thấy cả một khu vườn rộng xanh mướt, cây cối um tùm như rừng, tiếng chim chuyền cành rượt đuổi nhau, ríu rít cất tiếng hót quanh đây, đủ loại hoa đầy màu sắc, ở giữa vườn là một tháp gỗ có một bồn nước khá lớn bên trên. Một căn nhà nhỏ, khiêm tốn, ẩn bên dưới những tàng cây, được dựng lên bằng cây rừng, mái tôn, là nơi ăn, ở, và phòng làm việc của cha xứ. Tôi như thấy hiện lên trước mắt một bức tranh huyền ảo của câu chuyện thần tiên hiện về từ ký ức tuổi thơ: bức tranh sinh động đầy màu sắc thật thanh bình và yên tĩnh đến lạ lùng. Chúng tôi ngây người thưởng thức bức họa thiên nhiên và hít căng đầy lồng ngực không khí trong lành của núi rừng.

Bok Binh đãi chúng tôi một bữa ăn trưa thật ngon miệng gồm cơm Lam, thịt gà nướng chấm Muối É, gỏi thịt gà trộn bắp chuối, vài con cá bống tươi rói mới bắt ở suối về, vài cái bánh tráng, và dĩa muối mè, đậu phộng. Bữa ăn được chính đầu bếp người Thượng vừa nấu xong còn nóng hổi. Tất cả món ăn đều tươi ngon, sạch sẽ từ vườn nhà và từ rừng suối đem về, không bị tiêm nhiễm kiểu nấu nướng thị thành.   

Cơm Lam là cơm gạo tẻ hay gạo nếp, ngâm trong nước vài giờ trước khi nướng trong ống tre hoặc ống nứa, mà phải là ống tre nứa còn non. Khi nướng, không được nướng trực tiếp trên ngọn lửa to mà chỉ nướng bên cạnh ngọn lửa đến khi thấy hơi nước bốc lên từ ống tre, nghĩa là cơm đã sôi. Sau đó vùi dưới tro và than lửa, thỉnh thoảng trở ống nứa đều, đừng để chỗ nào bị cháy. Khi ăn, chỉ cần róc vỏ ống tre như róc mía, rồi lột bằng tay, cơm trong ống có màu ngà, bốc mùi thơm ngào ngạt của gạo lúa mới pha lẫn mùi đặc trưng của tre nứa. Một món ăn hài hòa thiên nhiên ban tặng cho con người; đưa răng cắn miếng cơm, tay bốc miếng gà nướng chấm vào chén muối É, một vị đậm đà thơm ngon thấm dần vào đầu lưỡi và chân răng khiến tôi ngất ngây không thể nào quên được. Muối É là loại muối trắng và lá cây É, được giã nhỏ trộn với dấm và vài gia vị tạo nên một thứ nước chấm ngon không thua gì nước mắm.

Cơm Lam nướng trong ống tre/nứa, chén muối É màu xanh để chấm thịt gà thả vườn.


Bữa ăn đơn sơ nhưng ngon tuyệt. Đây là bữa ăn nhớ đời, bữa ăn mà lâu lắm rồi, có đến gần 50 năm tôi chưa được nếm lại một lần cho đến ngày hôm nay. Những bữa cơm ở các nhà hàng đắt tiền giờ không còn hấp dẫn tôi được nữa. Sau bữa cơm đậm đà hương vị núi rừng quê hương mà tất cả chúng tôi vừa tận hưởng, bok Binh mời chúng tôi qua bên hiên ngồi uống rượu Cần, nhắc lại kỷ niệm những năm tháng còn đi học với nhau dưới mái trường chủng viện Thừa Sai Kontum. 

        Ghè rượu Cần. Phía sau là tấm bảng dạy người Thượng học tiếng Kinh. Dười cùi chõ tay phải là cái võng, nếu say, nằm ngay lên võng, thả hồn lên mây


Rượu Cần là loại rượu của người Thượng được làm bằng gạo, bắp, khoai mì hay củ mài được ủ lên men bằng nhiều lá cây rừng nén chặt trong một cái ghè. Rượu uống vô, vị nhẹ, ngon, thanh, và hơi ngọt, dễ uống, người không uống rượu như tôi, vẫn có thể uống vài xị dễ như chơi. Uống cạn, cứ việc châm thêm nước lạnh vô ghè, nước thấm xuống đáy lại biến thành rượu ngon. Khi uống, dùng ống trúc nhỏ, gọi là Cần, cắm vô ghè để hút. Rượu Cần thường được dùng để tế lễ, cúng Yàng trong dịp hội hè, hay đãi khách. 

Sau khi cơm no rượu say, chúng tôi giăng võng nằm cạnh nhau, nhắm mắt thả hồn đi phiêu du, không gian yên lặng, chỉ có tiếng gió rừng thì thầm bên tai như khúc nhạc thần tiên đưa chúng tôi vào giấc ngủ nhẹ nhàng lúc nào không hay. Ngoài kia khu vườn vẫn xào xạc, vài chiếc lá nhẹ rơi xuống bên thềm.


Nguyễn Văn Tới

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 10/Jan/2023 lúc 2:40am

Bàn Tay Mới 


Tôi sinh ra trong một gia đình lao động ở một tỉnh nhỏ. Cha tôi là một thợ mộc rất khéo tay, ông được thuê mỗi khi thành phố cần một món đồ gỗ trưng bày ở các công viên, hay các cửa tiệm tư nhân cần làm đẹp cho mặt tiền. Ông đóng được cả giường tủ theo đơn đặt hàng riêng của khách hàng. Bất cứ việc gì liên quan đến gỗ, ông cũng làm tuyệt đẹp.


Năm tôi mười hai tuổi cha tôi muốn truyền nghề cho tôi, nhưng tôi chẳng bao giờ muốn lớn lên thành một người thợ mộc. Ngay từ nhỏ, tôi đã muốn trở thành một người chơi dương cầm giỏi như bà Sơ ở nhà thờ. Cha tôi nói, nhà đông con, ông không có khả năng tài chánh để cho tôi học một cái nghề phù phiếm đó. Chơi dương cầm không thể kiếm sống được, chưa kể là liệu tôi có khả năng xuất sắc hay không.

Mặc dù không vui, tôi cũng miễn cưỡng đứng học, khi cha tôi trạm trổ những con gấu, con hổ vào những thân cây to cho những công viên thành phố. Mới đầu tôi làm thợ phụ cho cha tôi sai vặt, rồi dần dần cha dậy tôi chạm những cái cành, cái lá nhỏ dưới chân con vật, dậy tôi đóng những góc giường, góc tủ. Tôi học khá nhanh, chăm chỉ và bắt đầu thấy yêu nghề. Cũng có người thuê tôi làm những món đồ chơi nho nhỏ bằng gỗ cho trẻ con. Nhưng thành thật nói, tôi không được khéo bằng cha tôi, dù bấy giờ thị giác của cha tôi kém nhiều. Nhưng những vết cắt của ông vẫn ngọt ngào, những cái đinh ông đóng xuống vẫn rất thẳng, và nhất là ông chọn gỗ cho từng vật dụng vẫn rất chính xác.

Nhưng thời gian thay đổi được mọi việc trong đời. Tôi lớn dần và cha tôi già đi. Tôi bắt đầu thay thế cha tôi. Cha tôi trong những năm cuối đời, ông chỉ đi nhận việc, định giá cho tôi.

Rồi một mùa đông cha tôi mất đi. Người trong tỉnh mỗi khi có việc mộc cần làm, họ gọi tôi là Little Joe, để thay cho (và nhớ đến) cha tôi là Big Joe. Họ nhận thấy, bây giờ tôi đã hoàn toàn thay thế được cha tôi.

Năm đó tôi ba mươi tuổi, bằng cái tuổi khi cha tôi nổi tiếng. Tôi đã vào được địa vị của cha tôi lúc đó: “Một người thợ mộc khéo nhất tỉnh”, thì một tai nạn xẩy đến.

Trang nhất của tờ báo địa phương Helena-Montana vừa đăng một tin gây xúc động và sửng sốt trong cộng đồng:

Người thợ mộc xuất sắc của chúng ta: Little Joe, sau ba năm bị tai nạn cưa máy cắt đứt bàn tay phải đã được ráp tay mới ngày hôm qua.

Sau 14 tiếng giải phẫu của 20 bác sĩ. Các bác sĩ đã phải ghép 2 xương, 23 dây chằng, 2 động mạch, 4 mạch máu và ít nhất 3 dây thần kinh. (*)

Sau sáu tháng được hướng dẫn bởi một chuyên viên về vật lý trị liệu (Therapist) bàn tay được ráp của tôi đã làm việc bình thường. Những ngón tay đã không còn một trở ngại nào khi tôi nhặt, nắm, cầm lên, bỏ xuống một vật gì. Tôi bắt đầu trở lại công việc của người thợ mộc. Người ta lại gõ cửa nhà tôi đến đặt bàn, ghế. Nhiều nhất là chạm trổ súc vật trên những khúc cây để trưng bầy, đồ chơi với những hình súc vật cho trẻ em, là sở trường của tôi.

Tôi mang những miếng gỗ ra, bắt đầu làm việc. Bàn tay mới của tôi cầm lên, bỏ xuống rất dễ dàng. Nhưng khi tôi bắt đầu uốn lượn khúc gỗ để làm một góc cạnh đẹp thì bàn tay bắt đầu có phản ứng, hình như những ngón tay, dao bào và khúc gỗ không cộng tác với nhau. Những ngón tay cưỡng lại khi tiếng búa chạm vào con dao, khi con dao chạm vào miếng gỗ vang lên. Tôi không thể trạm khắc tỉ mỉ hay làm những góc cạnh gì vào gỗ được. Tất cả, tôi chỉ có thể cầm gỗ lên, đưa vào cưa máy, cắt thành khúc.

Tôi hoàn toàn thất vọng, phải tạm ngưng nhận đặt hàng, báo cho các khách hàng biết là tôi chưa sẵn sàng.

Tôi đóng cửa, nhốt mình trong gian nhà kho, cả ngày tập chạm và đục lên gỗ như cách đây hơn hai mươi năm trước cha tôi bắt đầu dậy bảo tôi. Cái đầu và bàn tay phải của tôi luôn luôn không hợp tác với nhau. Những ngón tay của tôi khi chạm vào gỗ không có búa và đục nó rất mềm mại, tôi có thể lướt trên mặt gỗ như người ta chơi đàn. Nhưng khi tôi cầm búa, cầm đục, chạm vào gỗ thì những ngón tay cứng đơ ra làm rơi đồ nghề xuống đất.

Sự thất bại này kéo dài cả tuần, rồi cả tháng. Tôi mất hết kiên nhẫn. Có những đêm, tôi thức dậy trong bóng tối, tay trái sờ soạng, cầm sang tay phải của mình. Chao ôi! Một bàn tay rất mềm mại, ấm áp. Tôi hỏi nho nhỏ: Sao không chịu hợp tác với tôi? Bàn tay rung nhẹ lên, rồi lại im lặng, mềm mại, ấm áp. Tôi thấy nước mắt mình rơi trên lưng bàn tay vừa thân thiện vừa xa lạ đó.

Tôi liên lạc với bênh viện, nơi tôi được ráp tay, liên lạc với cơ quan cung cấp nội tạng, ngoại tạng. Khó khăn lắm! Theo luật, người ta không cho tôi biết tiểu sử của người qua đời đã hiến tặng. Nhưng với tất cả cố gắng, cuối cùng tôi chỉ được biết một điều. Bàn tay tôi nhận được là của một “dương cầm thủ”.

Chao ôi! Sao tôi nỡ bắt những ngón tay đặt trên phím ngà kia đi cầm búa, cầm đục. Sao tôi nỡ thay tiếng nhạc thánh thót bằng tiếng kim loại đập vào nhau của búa và đục.
Trước cửa nhà Little Joe, một tấm bảng được treo lên: “Kể từ hôm nay, tôi không nhận đặt hàng nữa.”

Nghe nói, Little Joe bắt đầu đi học dương cầm.

Trần Mộng Tú
7/7/2015

(*) Sáng tác lấy ý từ chuyện thật của Emily Fennell mất bàn tay phải trong tai nạn xe hơi năm 2006. Được ráp tay mới năm 2011. Emily bắt đầu đi Tour thuyết trình về bàn tay mình vào tháng 6/2015.
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 11/Jan/2023 lúc 11:06pm

Phong Bì

Cái mà người miền Bắc gọi phong bì thì người Nam gọi bao thơ vốn là chiếc bao giấy xếp mỏng để đựng lá thư gửi đi.

 

Rõ ràng trước kia, nhiệm vụ chính của chiếc bao thư là để “bao” cái thư. Thư mang tin tức, thư mang lại tin buồn, tin vui, đựng công văn… 

Một thời gian dài, khi nhận được thư, người ta mừng lắm. Mỗi buổi sáng mở sẵn cửa chờ ông bưu tá để đón tin. Nhận tin cô dì chú bác từ nhà hay từ thành phố xa cách, người khỏe mạnh, người ốm đau… Rồi tin tức của người thân, bạn bè từ nửa vòng trái đất bay về, người kể lể cuộc sống nơi đất khách, người nhớ quê… Nhận thư từ ông bưu tá cả năm nên cuối năm gửi lại ông một phong bao thay… lời cảm ơn. 

Khéo sao mà chiếc phong bì lại để vừa y tờ giấy bạc nên ngoài việc chính chứa lá thư thì còn đảm đương thêm công việc đựng tiền. Tiền cầm tay đưa ít nhiều, dày mỏng lộ liễu quá nên để trong phong bì cho việc trả công, đền ơn… xem chừng kín đáo và lịch sự hơn rất nhiều. 

Từ khi điện thoại và internet phát triển, việc liên lạc bằng thư từ qua bưu điện giảm hẳn cho nên phong bì ngả qua nhiệm vụ đựng tiền nhiều hơn. Việc đưa tiền đựng trong phong bì thông dụng tới nỗi khi nói “đưa phong bì” thì người ta hiểu ngay là đưa tiền, chiếc phong bì đã tượng trưng cho tiền bạc chứ chẳng còn ai nghĩ đến tình cảm gói ghém trên những trang giấy đã quá lỗi thời. 

Phong bì chứa tiền thoạt tiên là chuyện hiếu hỷ.  

Trước kia khi mừng đám cưới, người ta thường chung vui bằng quà cáp: bộ ly tách, bình thủy, đèn ngủ… Mừng tân gia với đồng hồ, quạt máy, nồi cơm điện… Đi thôi nôi, đầy tháng bằng bộ quần áo, hộp phấn rôm, lắc đeo tay… Chia sẻ với tang gia vòng hoa cườm, lẵng hoa tươi, trái cây… Cho nên nhà xong việc thì cùng lúc chất đầy đồng hồ, ly tách… không bao giờ dùng tới hoặc đợi có dịp mừng người khác khỏi tốn tiền mua. Bây giờ khách khứa tới nhà toàn khui một lon nước ra mời, lịch sự thì kèm cái ly và ống hút chứ đâu còn dùng tách nữa. Thôi thì cứ thồn hết quà cáp, tình cảm vào một cái phong bì cho gọn gàng và được việc.  

Quả nhiều trường hợp rất được việc. Gia đình người giàu đỡ chật nhà bởi những món đồ lỉnh kỉnh, gia đình người nghèo cũng giải quyết công việc một cách tốt đẹp. Ví như khui liền thùng tiền mừng để trả hóa đơn nhà hàng khi khách khứa vẫn còn đang ăn món giữa… Nhiều tang gia sau đám ma đã mang số tiền phúng điếu đi làm việc thiện tốt hơn là phí phạm vào hoa và trái cây đổ đi vì quá nhiều.  

Thành thử đa số đám tang ngày nay đều đặt trên bàn một đĩa đựng xấp phong bì không và cây bút bên cạnh, để ai đến phúng viếng lỡ quên phong bì thì có sẵn, khỏi cần chạy đi kiếm tiệm tạp hóa mất công, mà tạp hóa bây giờ do ít người dùng nên cũng không bán phong bì như xưa. Mới nhìn đĩa đặt xấp phong bì bên cạnh đĩa hạt dưa, bánh kẹo, cam quít… thật kỳ cục nhưng giờ nó thông thường tới mức trở thành hình ảnh quen mắt. 

Ngày xưa “miếng trầu là đầu câu chuyện” còn ngày nay thì phong bì mới là “dẫn đầu câu chuyện”. 

Hồi đó khi đến dự các hội nghị, khách thường được tặng quà là quyển sổ, cái bút…, cao hơn nữa là chiếc cặp. Loại cặp này chỉ dành cho dân văn phòng đựng tài liệu, học sinh không thể dùng được, mang bán hay cho cũng khó nên ai đi dự hội nghị nhiều thì cặp chất một đống không biết bỏ đi đâu. 

Quà cáp kiểu đó bất tiện quá nên sau này được bỏ hết thay thế bằng thứ khác, chứ không có thứ gì trao tay thì không vui. 

Tới phòng họp, mọi người dáo dác hỏi nhỏ nhau: 

– Có bao thư không? 

Có thì chịu khó ở lại ngồi đợi tới lúc lãnh mỗi người một phong bì mà để cầm chân người dự, thường phát vào cuối giờ, còn không thì nhận tài liệu xong ai nấy hô biến liền lập tức. Người tổ chức cuộc họp cũng dự trù trước phải có khoản dành cho “bao thư”. Phân biệt rõ ràng mấy loại. Bao thư sọc cho hai hàng ghế đầu, từ hàng thứ ba trở đi là bao thư màu trắng cho khỏi lộn. Hay là trao cho thành phần ghế VIP cầm phong bì, các hàng còn lại nhận phiếu mua hàng ở những cửa hàng hay siêu thị có hoa hồng cao cho môi giới. 

Bao thư nào chứa đựng nhiều yêu thương thì màu hồng, màu xanh… có in hoa lá, quả tim bên ngoài nhưng phong bì chứa tiền thì chỉ cần loại giấy xấu và mỏng, không cần trắng trẻo, đẹp đẽ. Khi dự đám cưới, hầu hết khách bỏ một số tiền mừng lớn vào phong bì nhưng cái phong bì ấy lại gấp đôi, xếp tư nhét vào túi quần. Tới đám tiệc, người khách vui vẻ lôi ra chiếc phong bì nhàu nát, nhăn nhúm luồn vào thùng quà. Tại vì nội dung chứa trong mới quan trọng chứ đâu cần hình thức! 

Trong thực tế dùng bao thư kín đáo cũng có cái lợi. Có người dự tiệc, ngại “đi” ít thì mất tình bạn bè nên trước ống kính quay phim, vì bắt đầu tới cổng cưới, máy quay phim đứng sẵn đó rồi, đã hùng dũng giơ cao chiếc phong bì, rồi bỏ vào thùng tiền hình quả tim có thắt nơ ngay đó trước mặt đầy đủ hai họ. Chỉ có điều quên… không ghi tên của mình lên phong bì thôi. 

Truyện ngắn kể một bà phải đưa chị dâu số tiền nhưng sót của, mỗi xấp tiền bà rút ra vài tờ. Cứ thế, bà lợi được mấy tờ. Sáng hôm sau, đưa người chị dâu phong bì, bà tự nhủ thầm: “Rồi chị ấy sẽ tưởng là mình đếm nhầm”!

Những người giao dịch với thuế, nhà đất, xây dựng… vào chỗ bàn giấy, văn phòng tốn bao thư nhiều hơn cả. Chỉ có giới tài xế đường dài kẹp thẳng tiền vào giấy tờ xe, không có thời giờ phong bì và khỏi cần trịnh trọng không đúng chỗ. 

Gì thì gì, cứ bao thư là gọn nhẹ nhất 

Phong bì tỏ ra hữu ích và tiện lợi vô cùng. 

Lớp tại chức trước kỳ thi mời thầy đi nhậu kèm phong bì. Cơ quan này đến xí nghiệp kia, ký kết hợp đồng, thanh tra làm việc… đều êm xuôi nhờ phong bì 

Trước kia biếu tết cho cấp trên bằng két bia, két nước ngọt, rượu bánh, lạp xường… lôi thôi quá. Thông thường món quà không đúng ý thích người được tặng, rồi kẻ dòm người ngó đứa ý kiến nói đắt nói rẻ, nói tới nói lui thật mệt. Bây giờ thì nhẹ nhàng là chiếc bao thư. Dày nặng thì tiền Việt, mỏng nhẹ thì tiền đô.  

Ngày nhà giáo hay lễ lạt tết nhất cũng vậy, thay vì bó hoa nhỏ kèm tấm thiệp theo thông lệ hay gói quà to nhỏ xem chừng không còn chút ý nghĩa, phụ huynh bỏ tiền vào phong bì, thậm chí bận quá cũng không có thời giờ gặp giáo viên mà sai con nhân thể đi học gặp cô đưa luôn thể. Thằng bé chạy lại xòe chiếc phong bì nói má con đưa cô nè với vẻ mặt hí hửng vì mình cũng theo thông lệ giống như chung quanh, không hề thua kém bạn bè. Phụ huynh nào có con học kém hay nghịch ngợm thì các tích cực trong chuyện phong bì. Ngoài phong bì cho giáo viên chủ nhiệm và các môn chính thì còn giáo viên cho các môn học yếu. Ngay cả giáo viên thể dục cũng không thể bỏ qua vì tuy môn phụ nhưng điểm thấp vẫn kéo thứ hạng tụt xuống. Chọn trường, chọn lớp theo ý thích, bảo vệ luận văn tốt nghiệp… đều phong bì đi kèm. Quan niệm thực dụng khiến bây giờ chẳng ai muốn nhận quà cả. Phong bì giải quyết được nhiều nhiều việc đúng ý của người nhận hơn.   

Trong người mang bệnh đã khổ rồi, phải dẫn thân đến bệnh viện lại càng khổ hơn vì phải chen chúc, chờ đợi và luôn luôn thủ sẵn phong bì. 

Phong bì ở bệnh viện ồn ào tới mức năm bệnh viện lớn ở Hà Nội từng phải phát động phong trào “nói không với phong bì”. Mà toàn những bệnh viện “sinh tử” như bệnh viện ung thư, phụ sản… Phong bì ở những nơi đó là chuyện thông thường. Muốn nhanh gọn để còn về, trong khi số đông bệnh nhân cộng thêm người nhà nuôi bệnh thường là dân quê lên; muốn khỏi ăn dầm nằm dề ngoài nhà trọ, muốn chích khỏi đau, muốn nằm trên tấm drap sạch sẽ, muốn lấy kết quả xét nghiệm nhanh…; muốn không bị khó dễ, gắt gỏng… thì cứ dúi phong bì. Xếp lịch mổ: phong bì, chọn bác sĩ giỏi: phong bì, trước mổ: phong bì, mổ xong thưởng công: phong bì… Cứ từng bước một mà phong bì rút ra từ lúc bắt đầu bước chân vào cho tới khi ra khỏi bệnh viện. Chỉ khi đưa  xong phong bì, bệnh nhân và người nhà mới cảm thấy yên tâm. Bởi thế bệnh nhân nghèo chịu không nổi tự động về nhà đợi chết chứ chữa gì nổi. 

Khó mà tưởng tượng nổi vào bệnh viện mà thiếu phong bì. Điều đó đã thành “luật”, thành “văn hóa phong bỉ”. Có thủ tục “đầu tiên” đó thì chuyện gì cũng dễ dàng. Báo chí làm om xòm chỉ được một thời gian, qua phong trào thì đâu lại vào đấy. Mà ầm ĩ chỉ khổ cho bệnh nhân. Đưa phong bì mà nhân viên không nhận khiến bệnh nhân lại thấy áy náy! Đưa phong bì trở thành một thói tục đương nhiên trong sinh hoạt hàng ngày nên hủy bỏ thói quen đó quá khó khăn. 

Cạnh đó, phong bì còn chạy khép kín giữa trình dược viên, bác sĩ và tiệm thuốc đẩy giá thuốc lên cao nhất trong khu vực khiến bệnh nhân nghèo càng khốn khổ. 

Nếu phong bì không đưa trực tiếp thì qua đường vòng, qua tay cò. Cứ phong bì lót đường trơn tới đâu thì mọi giao dịch mới trôi chảy đến đó. 

Chỉ có vào dịp tết thì phong bì mới được gọi bằng một danh xưng bớt tai tiếng hơn là phong bao lì xì, mừng tuổi lấy hên đầu năm. Đây là phong tục cổ truyền nên trường hợp này, phong bao được đưa một cách công khai, danh chính ngôn thuận. Ngày xưa phong bao ngày tết chỉ là người chủ gia đình, người lớn lì xì cho con cháu trong nhà nhưng nay thì ngược lại. Người trẻ mừng tuổi người lớn, cấp dưới lì xì cấp trên… Phong bao tha hồ tung hoành. 

Dù sao phong bì có người đưa người nhận, lỡ camera dấu đâu đó quay thì mệt nên có một cách khác trao tiền kín đáo hơn là chuyển khoản. Gần đây một vụ chuyển khoản mười triệu kiểu đó bị phát giác, chủ tài khoản là một kiểm sát viên phân trần tưởng đó là tiền phúng điếu đám ma mẹ chứ đâu có biết đó là tiền gì… 

Dù sao phương thức chuyển khoản còn khá mới mẻ và bất tiện ở chỗ muốn chuyển khoản phải biết số tài khoản, không thuận tiện bằng phong bì đưa trực tiếp mau lẹ nên chắc chắn câu chuyện phong bao vẫn tồn tại và tiếp diễn dài dài.

 

Sài Gòn Cô Nương

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 16/Jan/2023 lúc 12:25pm

mùa thương nhớ


Người%20Hà%20Nội%20nấu%20bánh%20chưng%20trên%20vỉa%20hè,%20ngõ%20làng%20trong%20đêm

“…Trong se lạnh, gió mang mùa thương nhớ
Nhớ  quê  hương, nhớ mùi Tết ngàn xưa
Nhớ sân nhà, đì đùng dây pháo đỏ
Nhớ cội mai, vàng rực đón giao thừa…”

Lại sắp Tết, cả nắng, cả gió, cả không gian, thời gian như đang chuyển mình sang mùa mới, ngày tháng mới. Thấy một ngày không còn giống mọi ngày, thấy trên khuôn mặt người những niềm vui lấp lánh trong ánh mắt, có cả những nét buồn được khỏa lấp bằng nụ cười nhẹ khi không khí tết đang đến bên hiên nhà và nàng Xuân chuẩn bị gõ cửa để gieo rắc mùa tươi mới mang theo ngàn hy vọng mới.

Riêng tôi, mùa Tết không còn là niềm vui rộn rã, không còn là háo hức mong chờ, không còn những chộn rộn, nôn nao chuẩn bị bao nhiêu thứ để cho không khí Tết, mùi Tết hiện diện trong nhà, ngoài sân…..Vì nó làm tôi nhớ, Tết làm tôi nhớ những năm tháng tươi vui, thanh bình đẹp nhất đời mình. Tôi nhớ tuổi thơ với mùa Tết vui đúng nghĩa của riêng mình, nơi ngôi nhà cũ xưa nền lót gạch tàu màu đỏ làm lạnh lòng bàn chân khi cùng mấy chị em chơi nhảy cò cò những khi vào mùa mưa sân vườn lầy đất. Tết ngày xưa của tôi là đêm 29 Tết má dẫn ba chị em ra chợ Bến Thành sắm đồ, con nhà nghèo nên khi được má mua cho đôi hài nhung có kết cườm màu hồng tím với giá bình dân cũng đủ làm tôi thấy mùa Tết đến là mùa vui đẹp nhất trần đời. Rồi được má dẫn đi khắp các gian hàng bán ngoài lề đường, để ngắm nghía, háo hức nhìn mọi thứ hàng bày bán mà chỉ riêng mùa tết mới hiện diện. Tôi nhớ lại để thương mình vì nhà nghèo nên được má mua cho món đồ thích nhất và rẽ nhất là đủ thấy Tết rồi, thêm bộ quần áo mới nữa là mùa Xuân đã rộn ràng trong suy nghĩ ngây thơ lẫn vô tư của mấy chị em tôi. Rồi vào ngày 15 rằm tháng chạp, bà nội nhắc má tôi sai mấy đứa nhỏ ra lặt lá mai, cây mai già trước sân nhà rậm ri những lá già cỗi mới nhìn đã thấy ong ong cái đầu, chưa lặt lá nào đã thấy mõi hai bàn tay..nhưng rồi cũng xong, cây mai được ba chị em tôi thi nhau lặt lá giờ chỉ còn những cành khô đang ủ những mầm hoa chờ ngày cận Tết bung hết ra những nụ màu xanh lá lụa thành những cánh mai vàng rực rỡ cả góc sân. Tôi lại nhớ ông chú hì hục tháo các cánh cửa sổ, cửa cái bằng gỗ đem ra sàn nước cạnh con sông nhỏ ven nhà chà rữa cho nó bay đi bụi bặm nằm đó cả năm trời, lúc đó nước sông hãy còn màu xanh ngăn ngắt để tôi tập lội mỗi chiều.

Và bây giờ con sông nhỏ ven nhà đã biến mất như chưa từng có, mọi thứ nơi căn nhà cũ xưa không còn lại một chút gì để tôi còn có dịp về thăm lại nó và hình dung lại không khí Tết của ngày xưa. Hơn 50 năm rồi kể từ ngày ấy, cuộc sống cơm áo gạo tiền đã đẫy tôi ra khỏi ngôi nhà xưa cũ thân yêu với biết bao kỷ niệm mà mỗi lần nghĩ đến nó nhớ đến nó…lòng tôi thảng thốt bàng hoàng. Khi cha mẹ còn, nhà là nơi để về và đong đầy thêm kỷ niệm cho một đứa con phải xa cách nó vì cuộc sống…nhưng khi cha mẹ đã về chốn vĩnh hằng thì coi như nhà chỉ còn là nơi để ghé qua trong tâm thế đã không còn gì ở nơi đây…

Rồi mỗi lần mùa Tết đến, tôi lại thương nhớ đến rũ rượi cả lòng, đến mức nhìn đâu cũng thấy mùi Tết xưa nơi ngôi nhà lợp ngói âm dương, có miếng sân vườn bao bọc bằng những hàng dừa xiêm nước ngọt lịm, nhớ cây ổi xá lỵ ở góc đầu cầu mỗi lần trái chín thơm lừng cả bàn tay hái nó, nhớ cội mai già chờ lặt sạch lá khi gió Tết mon men về bằng hơi lạnh se mình vào buổi sáng tinh mơ.

Tôi gọi những ngày chờ đất trời chuyển mình sang mùa mới là Mùa thương nhớ của riêng tôi…

Ái Khanh



Chỉnh sửa lại bởi Lan Huynh - 16/Jan/2023 lúc 12:33pm
Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 21/Jan/2023 lúc 9:42am

Xuân Về Viết Gì Cho Quê Hương 


Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn

Nước tuôn trên đồng vuông vắn

Lúa thơm cho đủ hai mùa …

 

Quê hương dưới cái nhìn của nhạc sĩ Phạm Duy thật thơ mộng, êm đềm …


Người Việt lớn lên nhờ những hạt gạo thơm lành và giọt nước trong mát của các dòng sông hiền hòa khắp ba miền, những điều tốt đẹp đó in vào tâm trí mọi người qua những năm tháng dài trong cuộc đời tạo nên hình ảnh thật đẹp về quê hương yêu dấu.


Từ nhiều thế kỷ trước người Việt đa số sống ở vùng nông thôn, khi rời miền quê ra chốn đô thị, người nông dân xa hẳn làng mạc, ruộng nương xanh rì và những dòng sông êm ả để tụ hội sinh sống nơi chốn phồn hoa đô hội. Nhưng trong tâm thức thì phần lớn người Việt vẫn nhớ quê xưa.


Qua những cuộc thay đổi dâu bể trong những thập kỷ vừa qua, diện mạo vóc dáng quê hương cũng thay đổi theo thời cuộc.


Rồi thuận theo bao thăng trầm đó, số phận bao con người chất phác, mộc mạc đó cũng đổi thay. Những người nông dân trên miền núi cao hẻo lánh dãy Trường Sơn theo những chuyến xe lặng lẽ xuôi về hạ du, hay những đoàn người áo nâu, chân lấm tay bùn phải từ bỏ đồng bằng phì nhiêu miền Tây và miền Trung hoang mạc cát trắng, hồn mang nặng tâm tư theo những con tầu, những chuyến xe chầm chậm rời xa những dòng sông trầm vắng, những cồn cát heo hút, bỏ lại ruộng vườn tươi tốt sau lưng để trở thành kẻ tha phương nơi các đô thị, các vùng đất xa lạ khác để tìm cuộc mưu sinh. Tất cả là vì làng quê bây giờ đã không làm cho họ đủ ấm no dù chiến tranh đã đi qua hàng thập kỷ.


Đi xa hơn khỏi mảnh đất quê hương này, những chiếc cánh bay xẻ ngang dọc bầu trời xanh đưa tiễn những con người lưu lạc tha phương về những đất nước thật xa ở một lục địa khác. Mắt ngấn lệ khi ngoảnh đầu lại chợt thấy quê hương sau lưng bây giờ thật là diệu vợi.


Nhưng dù tha phương trên chính quê hương mình hay nơi nào khác, với người Việt thì quê hương không thể nào quên lãng, càng lâu năm thì những ký ức và nỗi nhớ càng đong đầy trong tâm trí.


Trong hồn người theo năm tháng các ký ức và nỗi nhớ khôn nguôi đó kết lại thành những viên đá ngủ yên, thỉnh thoảng tất cả lại rực sáng lên trong đầu, trong tim mỗi khi ta nhớ về giòng sông, ngôi nhà, con đường, bạn bè xưa … còn ở lại đó.

Thật khó lột tả hết nỗi niềm và ước vọng của người Việt ở xa hay gần khi nhớ về quê hương ngày đầu năm, sự mong ước không thể chối từ của mọi người là một quê hương giầu có, trù phú, nhân văn, nhân bản … Có nghĩa là quê hương đã vươn vai Phù Đổng lớn mạnh lên, làm trái tim mọi người tự hào mỗi khi nhắc đến tên quê hương mình là Việt Nam, khi có ai đó hỏi – anh từ đâu đến hoặc quốc tịch anh là gì?


Nhưng mong mỏi đó sao thật xa xôi, mà kỳ lạ và ngộ nghĩnh thay sao quê hương Việt Nam lại không chịu lớn lên như các quốc gia láng giềng Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản … dù quê hương ta có “rừng vàng, biển bạc”, có “anh hùng, người tài” nhiều như lá trên rừng.


Những câu hỏi làm đau đầu những nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế … trên thế giới, chẳng lẽ quê hương Việt Nam mãi mãi là một nước nhược tiểu!


Vị đắng còn đọng lại thật lâu trên bờ môi mỗi khi ta phải trả lời người hỏi những câu đó.


Ở những miền đất xa xôi khác, nơi những người Việt đành lòng phải xa quê hương sau ngày tháng Tư đau thương đó vì đồng minh ngoảnh mặt ra đi, có những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau khi buông tay súng bảo vệ tự do cho Miền Nam, với lòng nhiệt thành và can trường hiếm thấy ở một quân đội nào khác trong lịch sử, đã cầm bút lên để viết về những ngày tháng oai hùng của họ trong lửa đạn và để tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống trong cuộc chiến nhiều mất mát đó. Họ vẫn đang tiếp tục chiến đấu cho tự do vì từ trong tim, họ vẩn giữ vững niềm tin là Việt Nam tự do vẫn còn đó.


CHỢ SAIGON ...

 




Ở Việt Nam, Tết này một trong những nhạc khúc xuân hay nhất ở miền nam trước năm 1975 được chính thức cho phát hành và hát lại sau hơn 40 năm vắng bóng, bài “Ly Rượu Mừng”.


Những năm trước tuy chưa được hát, nhưng mỗi khi Tết về, người dân Saigon lại nghe đây đó tiếng hát bất tử của ban Thăng Long ngân nga bài này.


Saigon ngày nay là một thành phố rộng lớn, một đại đô thị với dân số xấp xỉ mười triệu người, và dòng người di dân vẫn không ngừng đổ vào Saigon từ những miền núi xa xôi cực Bắc và từ mũi đất tít mù phía Nam của Việt Nam, nếu họ không thể đi đến chỗ mong muốn ở những đất nước khác xa hơn.


Ai đến sinh sống, cư ngụ ở thành phố này một thời gian đều không muốn xa rời nó, một nơi quanh năm với ánh nắng mặt trời ấm áp, khí hậu hiền hòa và tinh thần hào phóng phương nam.


Tuy đã trải qua bao cuộc bể dâu, thăng trầm theo định mệnh của quê hương, nhưng những cái hay và chân thật của Saigon những thập kỷ trước đang đi theo một qui luật ngàn đời là “hữu xạ tự nhiên hương”.


Người ta có thể thay đổi tên của một giòng sông, nhưng không thể thay hết nước của nó nếu dòng sông đó có một cội nguồn sâu sắc.




Vũ Phan

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
Lan Huynh
Senior Member
Senior Member


Tham gia ngày: 05/Aug/2009
Đến từ: United States
Thành viên: OffLine
Số bài: 19897
Quote Lan Huynh Replybullet Gởi ngày: 23/Jan/2023 lúc 9:28am

Nếu Muốn Ăn Quả Ngọt, Chúng Ta Phải Gieo Hạt Mầm Tốt !


CHUYỆN KỂ RẰNG:

Xưa có một hành khách bước đơn độc trên chặng đường xa. Khi đã quá mỏi mệt và kiệt quệ, anh nằm xuống và ngủ một giấc ngon lành trênt thảm cỏ ven đường. Không lâu sau, một con rắn độc từ trong bụi cỏ chui ra và bò về phía người độc hành này.

Khi con rắn chuẩn bị cắn người khách đang ngủ, bỗng một người đi ngang qua đó, kịp thời đánh chết con rắn độc rồi đi tiếp. Người độc hành vẫn ngủ say sưa mà không hề biết chuyện gì đang diễn ra. Cho đến cuối cuộc đời, anh vẫn không hay biết rằng mình đang sống trong ân huệ của người qua đường vô danh thuở nọ...

Có thể vị khách độc hành không hề biết đến ơn cứu mạng ấy, và người qua đường cũng đã quên từ lâu, nhưng sự tình này đều ghi dấu trong Trời Đất.

 

Lại cũng có chuyện như thế này:

Một hôm, người chồng trở về nhà. Lúc đó trời đã khuya lắm rồi, nhưng chiếc đèn bên hiên nhà vẫn sáng rực, chiếu rọi một đoạn đường phía ngoài ngôi nhà. Anh cho rằng vợ mình ngủ quên, định bụng vào trong nhà tắt đèn, nhưng không ngờ lại bị vợ cản lại. Anh chưa kịp hỏi nguyên do thì chị vợ đã chỉ tay ra ngoài cửa sổ cho chồng nhìn.

Ven đường bên ngoài cửa sổ là một chiếc xe ba bánh chở đầy rác. Ngay cạnh đó, một cặp vợ chồng đang ngồi nghỉ dưới ánh đèn ấm áp bên hiên nhà. Họ vừa nói vừa cười, và cùng nhau ăn chút gì đó để lót dạ đêm khuya.

Nhìn thấy cặp vợ chồng ấy đang chuyện trò vui vẻ dưới ánh đèn, cả anh và vợ đưa mắt nhìn nhau rồi nhẹ nhàng rút lui. Có lẽ hai vợ chồng người thu gom rác ấy sẽ vĩnh viễn không biết rằng, ở đâu đó trong thành phố này, có một ngọn đèn vẫn hàng đêm vì họ mà thắp sáng.

 

Và bạn thấy đấy, có những sự giúp đỡ diễn ra trong âm thầm và lặng lẽ. Vậy cớ sao cứ phải đợi đến khi mắt thấy, tai nghe rồi chúng ta mới biết ơn trong lòng?

Bởi vì, có những “cho đi” không bao giờ mong chờ bạn đền đáp. 

Có những “giúp đỡ” không bao giờ chờ bạn nói “Cảm ơn!”

Vì vậy, hãy cứ biết ơn cuộc đời này và hãy dùng lòng cảm ơn để đối đãi với tất cả mọi người xung quanh bạn.

 

Và đừng quên rằng:

- Không biết trân quý, có núi tiền cũng chẳng thể vui tươi.

- Không biết khoan dung, có bạn bè rồi cũng rời ra.

- Không biết cảm ơn, có tài giỏi cũng chẳng thể thành công.

- Không biết hành động, có thông minh cũng chẳng thể viên dung.

- Không biết hợp tác, có làm việc chăm chỉ cũng không thành đại sự.

- Không biết tiết kiệm, có kiếm nhiều tiền cũng không thể phú quý.

- Không biết thỏa mãn, có nhiều tiền cũng không thể hạnh phúc.

- Không biết dưỡng thân, có trị liệu cũng chẳng thể trường thọ.

 

Hãy nhớ:

- Có một thứ không thể lợi dụng: Đó chính là thiện lương.

- Có một thứ không thể gian dối: Đó chính là tình cảm.

- Có một thứ không thể lừa gạt: Đó chính là sự chân thành.

- Có một thứ không thể thiếu: Đó chính là bạn bè.

- Có một thứ không thể tha thứ: Đó chính là phản bội.

- Có một thứ không thể cứu được: Đó chính là tuyệt vọng.

- Có một thứ không thể bội quên: Đó chính là cảm ơn.


Sưu tầm

Tình yêu thương hay nhịn nhục
tình yêu thương hay nhơn từ
tình yêu thương chẳng ghen tị
chẳng khoe mình, chẳng lên mình
kiêu ngạo,chẳng làm điều trái ph
IP IP Logged
<< phần trước Trang  of 121
Gởi trả lời Gởi bài mới
Bản in ra Bản in ra

Chuyển nhanh đến
Bạn không được quyền gởi bài mới
Bạn không được quyền gởi bài trả lời
Bạn không được quyền xoá bài gởi
Bạn không được quyền sửa lại bài
Bạn không được quyền tạo điểm đề tài
Bạn không được quyền cho điểm đề tài

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.05a
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

This page was generated in 0.734 seconds.